Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Ba 22, 2014

20140322. XUNG QUANH VẤN ĐỀ LỖ CỦA DỰ ÁN BAUXITE TÂY NGUYÊN

ĐIỂM BÁO MẠNG

BAUXITE TÂY NGUYÊN : BỘ CÔNG THƯƠNG ÉP LỖ CÓ RA …LÃI?

Bài pv TS NGUYỄN THÀNH SƠN trên ĐVO 21/3/2014

(Doanh nghiệp) – “Giảm đầu tư hồ chứa, xin miễn đủ thứ… Bộ Công thương đang cố tìm mọi cách để bảo vệ cho đánh giá dự án bauxite không lỗ”.

TS Nguyễn Thành Sơn, Giám đốc BQL các dự án Than ĐBSH-Vinacomin đã thẳng thắn chia sẻ khi hay tin Bộ Công thương báo cáo với Ủy ban thường vụ Quốc hội xin giảm đầu tư hồ chứa bùn đỏ vì thiết kế có độ an toàn quá cao.

PV: – Thưa ông Bộ Công thương vừa có báo cáo gửi đoàn giám sát Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã đưa ra kiến nghị xin giảm đầu tư hồ chứa bùn đỏ vì thiết kế có độ an toàn quá cao. Ông đánh giá như thế nào về kiến nghị này khi từ trước tới nay đã có quá nhiều ý kiến lo ngại về sự an toàn hồ chứa?

TS Nguyễn Thành Sơn: – Tôi thấy Bộ Công thương đặt vấn đề không logic. Khi duyệt thiết kế hồ bùn đỏ này Bộ Công thương dựa theo tiêu chí, tiêu chuẩn nào để phê duyệt mà bây giờ lại cho rằng vượt tiêu chuẩn?

Hồ bùn vận hành chưa được 1/2 công suất thải (tương đương với sản lượng của nửa năm) và thời gian vận hành hồ chỉ được có 1 năm. Trong khi đó hồ được thiết kế cho vài chục năm thì các số liệu quan trắc nào để khẳng định rằng nó quá tiêu chuẩn?!.

Bộ Công thương vừa xin thêm nhiều ưu đãi cho bauxite Tây Nguyên

Bộ Công thương vừa xin thêm nhiều ưu đãi cho bauxite Tây Nguyên

Nếu quả có vấn đề như vậy, liệu có thể nghi ngờ hiện tượng chủ đầu tư và tư vấn thiết kế móc ngoặc nhau để tăng vốn đầu tư hay không? Vấn đề thực sự không logic chút nào.

Nói chung, đầu tư cho những khâu an toàn không ai tiếc tiền mà cho rằng quá cao. Trở lại trường hợp này, với mức đầu tư hồ chứa như Bộ Công thương nói chỉ chiếm từ 2-3,5% tổng mức đầu tư dự án như vậy so với  mức đầu tư hồ chứa bùn đỏ trên thế giới thì chưa đáng kể.

Trong khi đó các hồ chứa bùn đỏ của thế giới phần lớn nằm ở thấp, hoặc gần bờ biển. Giả sử không may có sự cố thì bùn đỏ cũng chỉ đổ ra biển, thiệt hại không đáng kể. Khi đó bùn đỏ ngấm vào nước biển, độ pH trong bùn đỏ sẽ bị pha loãng.

Ngược lại hồ chứa bùn đỏ của Tân Rai lại ở trên cao nhưng suất đầu tư đang nhỏ hơn so với thế giới. Vậy căn cứ nào để Bộ Công thương nói như vậy?

Bộ Công thương đang cố tìm mọi cách để bảo vệ đánh giá dự án không lỗ. Để đánh giá là không lỗ thì chỉ còn cách là giảm chi phí đi thôi.

PV: – Không những thế Bộ Công thương còn xin giảm thuế môi trường, không đền bù tiền đất cho dân mà chỉ thuê có thời hạn. Có ý kiến cho rằng dự án đang phạm chính tiêu chí ban đầu đó là góp phần phát triển kinh tế, đảm bảo an toàn xã hội. Ông có đồng tình với ý kiến này?

TS Nguyễn Thành Sơn: – Điều này thì rõ rồi. Trước hết dự án được cho là có lãi hay không có lỗ của Tân Rai và Nhân Cơ theo cách tính của Bộ Công thương là hoàn toàn có điều kiện. Tức là phải giảm cái nọ, ưu đãi cái kia thì mới …có lãi. Như vậy là “lãi” này là không đúng sự thật, không đúng bản chất của sự việc.

Thứ hai, từ trước đến nay Bộ Công thương vẫn cho rằng: dự án mặc dù lỗ nhưng vẫn có hiệu quả kinh tế xã hội.

Nhưng muốn có hiệu quả kinh tế xã hội dự án phải có hiệu quả tài chính. Muốn có hiệu quả kinh tế tài chính thì phải có lãi. Có lãi thì mới thực hiện các nhiệm vụ xã hội được.

Còn ở đây dự án không có hiệu quả về kinh tế tài chính thì làm sao nói hiệu quả xã hội?

Lãi thì phải tính bằng tổng thu trừ đi tổng chi phí thì mới ra lãi rồi mới có tiền nộp cho ngân sách, nộp thuế doanh nghiệp… Nhưng ở đây thì để có lãi họ xin bỏ hết các loại phải chi phí. Vậy nếu có lãi thì là lãi kiểu gì?

PV: – Việc dự án móc tài nguyên quốc gia lên đi bán nhưng lại đòi xin ưu đãi như vậy đang thể hiện điều gì thưa ông?

TS Nguyễn Thành Sơn: – Tài nguyên khoáng sản là sở hữu của toàn dân với việc xin quá nhiều ưu đãi, ngân sách không được hưởng lợi gì từ dự án. Như vậy là không công bằng.

Trong việc này, trách nhiệm thuộc về Bộ Công thương. Bộ đã không suy xét, dự báo quy hoạch đúng mới dẫn dến tình trạng hiện nay.

PV:- Theo ông các cơ quan chức năng nên ứng xử như thế nào cho phù hợp với dự án này để đảm bảo tính công bằng giữa các doanh nghiệp? Ông có kiến nghị gì?

TS Nguyễn Thành Sơn: – Trước hết, tôi thấy các kiến nghị của các nhà khoa học từ trước đến nay đối với dự án này vẫn còn giá trị và được thực tế chứng minh là đúng. Kể cả bây giờ dừng dự án Nhân Cơ lại cũng chưa muộn.

Dự án Tân Rai trong 15.000 tỉ đầu tư thì có 30% (5.000-7.000 tỉ) là do ngành than đóng góp, còn lại là đi vay của ngân hàng. Với Nhân Cơ thì ngành than không còn tiền để đóng góp nên mức đi vay lớn và rủi ro về tài chính cao hơn. Còn công nghệ kỹ thuật thì vẫn chỉ là bản sao của Tân Rai chứ không có gì hơn.

Như thông báo 245 của Bộ Chính trị cũng nói rõ đánh giá lại kết quả dự án, mà đã là thử nghiệm thì phải có đánh giá, hiệu quả thì mới làm tiếp còn không ổn thì dừng. Thủ tướng đã quyết dừng cảng Kê Gà khi thấy không hiệu quả là một minh chứng đúng.

Theo tôi, Nhân Cơ vẫn có thể dừng lại. Trong trường hợp này, chỉ có cơ quan tham mưu là làm không hết trách nhiệm, cố tình bảo vệ ý kiến trong khi thực tế lại chứng minh là ý kiến đó sai.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Bích Ngọc (thực hiện)

QUẢ BÁO NHÃN TIỀN

Bài của TÔ VĂN TRƯỜNG trên Quechoa 22/3/2014

 Bể lắng quặng đuôi của Nhà máy Alumin Tân Rai – Lâm Đồng. Ảnh: QUANG TÚ (nld.com)
Sau những vật nài xin ưu đãi nhiều thứ kể cả vốn đầu tư, thuế tài nguyên, môi trường…hai dự án bôxit Tây Nguyên (Tân Rai và Nhân Cơ) đã phải công khai thừa nhận từ nay đến năm 2020, Tập đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam (TKV) sẽ lỗ hàng nghìn tỉ đồng.Riêng Tân Rai năm 2013 lỗ hơn 258 tỉ đồng, Nhân Cơ còn nặng nề hơn, dự kiến 2015  sẽ lỗ hơn 671 tỷ đồng vv…
Thực tế bi đát của dự án này là điều có thể thấy trước và không làm ai  ngạc nhiên. Nói theo nhà Phật thì  “quả báo nhãn tiền” đã có ngay chứ không cần đợi đến kiếp sau.
Nguy hiểm hơn, có vẻ như những người quyết định và đang theo đuổi dự án này đã lỡ ngồi trên lưng hổ rồi, nên cứ tiếp tục liều mạng bất chấp cái giá mà nhân dân và đất nước phải trả trong điều kiện nền kinh tế đang suy kiệt hiện nay. Việc cố tình che dấu tội lỗi thường mang lại hậu quả lớn hơn nhiều tội lỗi ban đầu.
Theo Ts Nguyễn Thành Sơn mới đi khảo sát ở Tây Nguyên cho biết thực tế đã chứng minh: Bộ Công Thương và TKV đã giải trình không đúng sự thật để cố đấm ăn “khoai”! Giá thành chưa hạch toán đúng và đủ vì quyết toán chưa xong (mức khấu hao chưa đúng). Khâu cung cấp đầu vào là quặng bauxite do TKV chỉ định (người khai thác, cũng như giá bán bauxite). Thực chất là thuê ngoài (thông qua “đầu nậu” là một đơn vị thành viên của TKV). Khâu vận chuyển tiêu thụ về Gò Dầu cũng do TKV chỉ định và ép giá. Hoàn thổ qua dự án thí điểm tại chỗ sau 3 năm cho thấy chỉ có thể trồng cây keo, những loại cây khác không thể sống được. Công nghệ khí hóa than để cung cấp nhiệt cho khâu luyện alumina thuộc loại cổ điển cách đây khoảng 50 năm, nên phải dùng than cục đắt tiền (chở từ Quảng Ninh vào) và giống hệt như của các lò khí hóa của các lò gốm thủ công ở Bát Tràng, bên kia bờ sông Hồng của Hà Nội. Đặc biệt, nguy cơ nổ là rất lớn vv…
Cách đây 2 năm, người viết này đã từng cảnh báo kinh doanh theo lợi nhuận phải chấp nhận “lời ăn, lỗ chịu”!. Về khía cạnh kinh tế, nguyên tắc phải tính đúng, tính đủ để tránh lời giả, lỗ thật. Hay nói cách khác, lời doanh nghiệp và nhóm lợi ích hưởng những lỗ thì nhà nước nghĩa là toàn  dân phải chịu.
Trong thực tế, TKV lẫn lộn, không phân biệt nổi hiệu quả kinh tế-tài chính (là của doanh nghiệp), hiệu quả kinh tế-xã hội (của xã hội). Các nước gần đây còn chú trọng đến hiệu quả kinh tế-môi trường là những khái niệm không thể lập lờ, nhất là cái khoản thu to nhất của ngân sách là thuế xuất khẩu!?
Cần sử dụng mô hình tổng thể cân bằng kinh tế để tính toán lời lỗ một cách bài bản, khoa học. Cách tính đơn giản hơn đem chi phí sản xuất 1 tấn sản phẩm tại chỗ, cộng chi phí vận chuyển ra cảng, trong chi phí sản xuất cần tính cả chi phí đầu tư.
Nếu có giá trị tổng đầu tư  thì đem chia cho đời sống của nhà máy để ra chi phí khấu hao phải tính vào giá thành.  Sau đó, so sánh giá 1 tấn sản phẩm trên thị trường thế giới thì biết ngay khoản lời, lỗ của dự án.
Ngay cả trong trường hợp tính có lãi cũng phải lấy lãi này so sánh với lãi, nếu đem làm chuyện khác như trồng cà phê để tính lãi theo nguyên tắc giá thành cơ hội (opportunity cost) phải lấy lãi từ làm bô xít trừ đi lãi trồng cà phê. Đó mới là lãi thực.
Ngoài chi phí cơ hội kinh tế, còn chi phí xã hội thì khôn lường: hàng ngàn người mất nguồn thu nhập mà nếu tính đủ thì không chỉ là tiền công ‘lấy công làm lời’ mà còn cả các chi phí bảo trợ xã hội đang bị bỏ qua.
Đất bazan là đặc sản của Tây Nguyên, một trong những loại đất địa thành tốt nhất cho nông nghiệp nhất là cây công nghiệp dài ngày  nhờ có tỷ lệ sét cao, khả năng giữ nước, giữa phân rất tốt, khi bị bóc đi, bề mặt bị mưa rửa trôi, xói mòn là tổn thất không dễ bù đắp.
Dù được bao cấp, ưu đãi rất nhiều nhưng tính bằng cách nào chúng tôi cũng chỉ thấy dự án bô xít lỗ to chưa kể rất nhiều rủi ro khó lường khác về chính trị, an ninh quốc phòng, kinh tế, xã hội, và môi trường. Cảnh báo trên, đến nay nhìn lại càng được thực tế chứng minh là chính xác.
Khai thác bauxite không được sự đồng thuận của các nhà khoa học Việt Nam và cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã dẫn chứng kết quả điều tra về việc này của các chuyên gia Liên Xô cũ, là họ không tán thành việc khai thác này, rất không có lợi cho VN. Trước đây có lời giải thích là ta làm bôxit  vì “chủ trương lớn”.  Nếu cần hỏi tiếp thì phải là tại sao các vị có trách nhiệm lại quyết định có “chủ trương lớn”!? Dự án bô xít Tây Nguyên nếu nhìn lại quá trình đàm phán và cam kết, có thể nói đó là chuyện đã chót lỡ, rồi mới đưa ra Quốc hội cho đủ thủ tục và Chính phủ thực thi.
Theo quy trình cải thiện liên tục PDCA (Plan Do Check Act)  Kế hoạch – Thực hiện – Kiểm tra và – Hành động,  thừa đủ dữ kiện để đánh giá ai quyết định về chủ trương đầu tư, phê duyệt dự án thì người ấy phải chịu trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước (Quốc hội) và nhân dân. Còn những ai đã báo cáo không chính xác để dẫn đến quyết định sai thì những người đó phải chịu trách nhiệm trước người đã ra quyết định.
Vấn đề đã rõ như ban ngày, đâu cần thêm thông tin để làm quyết định.  Vấn đề là ai quyết định? Không lẽ Quốc hội chỉ vì “Đảng cử dân bầu” nên vẫn né tránh không bàn đến các “chủ trương lớn” và quan tâm đến nguyện vọng của cử tri.  Xem lại các trang báo mạng, báo giấy thời sôi động can ngăn dự án “Trời gầm” nầy thì sẽ thấy nhân dân ta thông minh và tâm huyết biết chừng nào. Gần đây, Chính phủ biết lắng nghe các ý kiến phản biện, đối chiếu với thực tế đã hủy bỏ dự án cảng Kê Gà. Bây giờ, dừng dự án Nhân Cơ tuy muộn, dù sao còn hơn không vì chỉ cần thí điểm dự án Tân Rai là quá đủ! Bài học đổ vỡ đắt giá về Vinashin, Vinaline vv… rất có thể dự án bô xit Tây Nguyên trở thành nấm mồ của một anh cả đỏ khác là Tập đoàn Than khoáng sản VN.
Tham khảo: Không yên tâm với dự án bôxit (Tuổi trẻ). Những đoạn tô đỏ là đã được cắt bỏ so với bài Bôxit lỗ nhiều mặt trong báo Tuổi trẻ của TS Tô Văn Trường.
TRÁCH NHIỆM CỦA BỘ CÔNG THƯƠNG TRONG CÁC DỰ ÁN BAUXITE
Bài của TS NGUYỄN THÀNH SƠN trên Quechoa 22/3/2014

Ts Nguyễn Thanh Sơn
(1) Về việc Bộ Công Thương đề xuất các “ưu đãi”
Các phương tiện thông tin đại chúng gần đây đưa tin nhiều về báo cáo giải trình với Ủy ban Thường vụ Quốc hội của Bộ Công Thương về các dự án bauxite Tây Nguyên, trong đó có nêu ra các “ưu đãi” để dự án có “lãi”.
Theo báo cáo của Bộ Công Thương, hai dự án Tân Rai và Nhân Cơ đều đã điều chỉnh tăng tổng mức đầu tư lên 15.400 tỷ đồng và 16.800 tỷ đồng; lỗ lũy kế của Tân Rai đến năm 2015 là 460 tỷ đồng, Nhân Cơ lỗ dự kiến đến 2020 là 3.000 tỷ; một yếu tố dẫn đến lỗ tăng mạnh là do giá bán alumin thấp hơn dự kiến 70 USD/tấn. Do đó, Bộ Công Thương đã đề xuất và tham mưu với nhà nước tiếp tục “ưu đãi” một cách tương đối triệt để và đồng bộ cho cả hai dự án này.
Cách đây vài năm, cũng trên diễn đàn Quốc hội, Bộ Công Thương đã có báo cáo giải trình bằng giấy trắng, mực đen tương đối dài và toàn diện nhằm khẳng định tính khả thi, sự cần thiết, và hiệu quả của việc triển khai các dự án bauxite Tây Nguyên.
Nghiên cứu nội dung của hai báo cáo này, có thể nhận ra việc Bộ Công Thương đã và đang “cố đấm ăn xôi”, tìm mọi lý lẽ để bao biện cho những ý kiến tham mưu sai lầm, để đánh lạc hướng dư luận về những yếu kém, bất cập trong quản lý và để lẩn tránh trách nhiệm của Bộ Công Thương về hai dự án bauxite kém hiệu quả này.
Trước hết, mức lỗ thật của cả hai dự án còn cao hơn nhiều nếu tính đúng và tính đủ. Cái gọi là “hiệu quả” của Bộ Công Thương là “hiệu quả có điều kiện” (không bình thường, không tính thuế, coi tài nguyên khoáng sản thuộc sở hữu toàn dân là sở hữu của một nhóm người) và là “hiệu quả” theo các tiêu chí, tiêu chuẩn riêng của Bộ Công Thương (“sáng tác”), chứ không phải theo các chuẩn mực của kinh tế thị trường.
Cả hai dự án bauxite đều thuộc lĩnh vực khai thác khoáng sản (không có nguyên liệu chính trong cơ cấu giá thành) thuộc ngành có IRR bình quân lớn hơn 30%. Mặc dù vậy, Bộ Công Thương vẫn báo cáo lỗ đến 7 năm liên tục. Nếu dự án “buộc phải lỗ” 1-3 năm đầu còn có thể chấp nhận được (vì phải trả gốc và lãi vốn vay), nhưng sau vài năm lỗ mức lãi phải tăng lên rất nhanh tới 18-30% để đảm bảo tính tổng thể cả đời dự án có hiệu quả (IRR> lãi suất, và NPV>0).
Thứ hai, về dự báo giá nhôm kim loại, Bộ Công Thương đã chỉ dựa vào các số liệu dự báo có “lợi” cho các giải trình và ý kiến tham mưu của mình nên thiếu khách quan, không khoa học. Mức giá alumina hay giá nhôm kim loại như trên thị trường hiện nay đã được các nhà khoa học dự tính và cảnh báo cách đây vài năm. Nhìn chung, các đánh giá của Bộ Công Thương (từ trước đến nay) về các dự án bauxite rất chủ quan và không đúng bản chất. Các giải trình của Bộ Công Thương trước Quốc hội (hiện nay và cách đây vài năm), cũng như các ý kiến của Bộ Công Thương tại cuộc hội thảo của VUSTA cách đây vài tháng đều không đúng thực tế.
Thứ ba, về ưu đãi giảm thuế/phí, việc Bộ Công Thương phải xin các “ưu đãi” cho hai dự án này cho thấy: (i) thực chất (sự thật) là cả hai dự án không có hiệu quả; và, (ii) trong quản lý về tài nguyên khoáng sản của Bộ Công Thương có quá nhiều bất cập, không bình thường.
Việc xin “ưu đãi” cho cả hai dự án để “lỗ” thành “lãi” vào sau năm 2020 chỉ tạm thời làm “mát mặt” cơ quan tham mưu/quản lý nhà nước như Bộ Công Thương. Còn trên thực tế, cả hai dự án đang và sẽ “đau đầu” về dòng tiền (Cash Flow). Đối với doanh nghiệp, trong trường hợp cụ thể của hai dự án bauxite, khi mới đi vào hoạt động, dòng tiền là yếu tố không thể bỏ qua. Nếu không “bấu” vào các mỏ than ngoài Quảng Ninh (lãi/doanh thu/dòng tiền từ than) thì dự án Tân Rai sẽ tồn tại không quá 3 năm nữa.
Thứ tư, về “ưu đãi” giảm mức đầu tư hồ bùn đỏ, việc Bộ Công Thương xin ưu đãi giảm mức đầu tư của hồ bùn đỏ chẳng khác nào “vạch áo cho người xem lưng”. Thiết kế hồ bùn đỏ do chính Bộ Công Thương phê duyệt. Phải chăng đã có sự móc ngoặc giữa các bên (cơ quan quản lý, tư vấn thiết kế, chủ đầu tư, nhà thầu) để nâng khống vốn đầu tư của dự án (giống như đường cao tốc)? Phải chăng Bộ Công Thương và các bên đã lợi dụng “sức ép” của dư luận để kéo dài tiến độ triển khai dự án? Phải chăng nghi ngờ của Bộ Công Thương trước đây về các “thế lực phản động” lien quan đến hai dự án này đã trở thành hiện thực?.
Trước khi cho phép “giảm đầu tư cho hồ bùn đỏ”, Chính phủ nên xem lại trách nhiệm của người đã phê duyệt thiết kế, và nên có hình thức kỷ luật thỏa đáng vì đã gây ra thiệt hại hàng nghìn tỷ đồng (do dự án chậm tiến độ và tăng vốn đầu tư).
Hồ bùn đỏ Tân Rai được thiết kế để đảm bảo mức an toàn cho hàng chục năm sau. Đến nay, hồ bùn đỏ đầu tiên này vận hành chưa được 50% công suất thải bùn đỏ, và thời gian tồn tại mới chỉ vài % (tính theo tuổi thọ) chưa thể đánh giá là quá “an toàn” được. Chưa có bất kỳ một báo cáo đánh giá nào về các giải pháp kỹ thuật, chưa có các số đo quan trắc liên quan đến hồ bùn đỏ. Trong khi trên thực tế công nghệ thải bùn đỏ của Tân Rai là hoàn toàn “ướt”. Bùn đỏ thải ra là “ướt”- độc hại, sau một thời gian mới “khô”. Nếu nhà máy vận hành liên tục đủ công suất thì hồ bùn sẽ “ướt” cho đến khi nhà máy chuyển sang thải vào hồ bùn khác. Cùng một diện tích chiếm đất, nếu thải “ướt” thì dung tích chứa của hồ chỉ bằng 1/3-1/5 so với hồ bùn đỏ được thải “khô”. Số lượng hồ bùn đỏ của Tân Rai sẽ gấp nhiều lần so với hiện có. Lý do xin giảm mức đầu tư (sửa đổi thiết kế) của Bộ Công Thương đưa ra là không logic.
Trên thế giới, các hồ bùn đỏ nằm sát biển (rất an toàn, không may khi vỡ, bùn đỏ chỉ tràn ra biển và thiệt hại chỉ như “muối bỏ biển”) nhưng vốn đầu tư còn cao gấp 5-10 lần so với của Tân Rai. Đầu tư cho khâu an toàn chẳng bao giờ là “cao” cả.
Thứ năm, về khả năng làm ra nhôm kim loại, cách đây không lâu (trong năm 2012/2013), Bộ Công Thương đã từng “ăn bánh vẽ” của một đối tác nước nước ngoài (Atlantic – Úc) khi đối tác đó đưa ra một “chương trình” phát triển từ mỏ bauxite, đường sắt trên Tây Nguyên đến cảng biển xuất khẩu với vốn đầu tư 3-5 tỷ U$. Trong đó, Atlantic cũng chỉ chủ yếu dựa vào xuất khẩu hàng năm vài chục triệu tấn quặng bauxite (mới có lãi). Cách đây khá lâu (trước 2000), dự án đồng Sinh Quyền do chính Bộ Công Thương phê duyệt thiết kế, khi đi vào hoạt động, do công nghệ quá lạc hậu, việc xuất khẩu đồng kim loại cho thấy không hiệu quả bằng xuất khẩu quặng tinh. Hiện nay, việc xuất khẩu quặng bauxite tinh (alumina) trên Tây Nguyên còn chưa có lãi (ưu đãi hết mức còn “tính” mãi không ra). Việc làm ra nhôm kim loại có mức tiêu hao điện rất cao. Các nguồn thủy điện lớn rẻ tiền (dưới 3 cents/kWh) ở Việt Nam không còn. Cơ cấu của nền kinh tế Việt Nam là cơ cấu tiêu hao năng lượng ở mức quá cao. Trong bối cảnh đó, Bộ Công Thương không nên đưa ra cho Quốc hội bất kỳ cái “bánh vẽ” nào nữa về điện phân nhôm.
(2) Suy nghĩ về cách tiếp cận của Bộ Công Thương
Trước hết, việc tính toán lỗ, lãi kèm theo các điều kiện là cách tiếp cận không đúng. Việc xin những “ưu đãi” không bình thường (giảm thuế, giảm phí, giảm mức độ an toàn) sẽ làm cho kinh tế thị trường bị méo mó và chỉ khuyến khích doanh nghiệp ỷ lại.
Thứ hai, theo lập luận của Bộ Công Thương, mặc dù lỗ, nhưng hai dự án vẫn có hiệu quả kinh tế – xã hội “tổng hợp”. Đây là một lập luận hoàn toàn định tính, không có cơ sở kinh tế. Bất kỳ một dự án sản xuất kinh doanh nào, đặc biệt trong lĩnh vực khai thác tài nguyên khoáng sản, cũng phải đảm bảo trước hết hiệu quả kinh tế – tài chính. Một dự án kinh doanh không có hiệu quả kinh tế – tài chính sẽ không thể mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội.
Thứ ba, Bộ Công Thương là cơ quan quản lý nhà nước, có chức năng và nhiệm vụ khác với một doanh nghiệp. Trong trường hợp của hai dự án bauxite, Bộ Công Thương là người đã đề xuất và tham mưu với Chính phủ để TKV được “cưỡi lên lưng hổ”. Những ưu đãi mà TKV đưa ra là dễ hiểu dưới góc độ của một doanh nghiệp đang “cưỡi trên lưng hổ”. Bộ Công Thương lẽ ra phải đưa ra các đề xuất căn cơ hơn, triệt để hơn. Thay vì “nhại” lại các đề xuất của TKV, Bộ Công Thương phải có trách nhiệm đề xuất để đưa TKV xuống khỏi lưng hổ một cách ít mạo hiểm nhất (giống như trường hợp Cảng bauxite Kê Gà). Với việc đề xuất miễn giảm thuế/phí, Bộ Công Thương chỉ tạm làm TKV yên tâm để tiếp tục “cưỡi hổ”, còn việc đề xuất giảm vốn đầu tư cho khâu an toàn (hồ bùn đỏ), Bộ Công Thương đã vô tình làm cho “con hổ” trở nên nguy hại hơn.
Thứ tư, điều dư luận quan ngại nhiều hơn về những nguyên nhân thực sự của việc cả hai dự án đều không có hiệu quả là do công nghệ lạc hậu. Là một cơ quan quản lý có bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực công nghiệp, Bộ Công Thương cần báo cáo rõ với Quốc hội về công nghệ khí hóa than của cả hai dự án rất lạc hậu (thuộc những năm 50 của thế kỷ trước). Là một cơ quan quản lý có bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực khai khoáng, Bộ Công Thương cần báo cáo rõ với Quốc hội về những bất cập, khó khăn không thể khắc phục trong bảo vệ và phục hồi môi trường đã được thực tế ba năm qua chứng minh. Thay vì xin ưu đãi giảm phí môi trường, Bộ Công Thương nên báo cáo rõ với Quốc hội liệu có thể hoàn thổ để trồng chè, cà phê, cau su hay chỉ có thể “phủ xanh là được”. Là một cơ quan quản lý có bề dày kinh nghiệm về năng lượng, Bộ Công Thương cần báo cáo rõ với Quốc hội về giá thành 1kWh điện do nhà máy nhiệt điện chạy than của dự Tân Rai làm ra là bao nhiêu? v.v.
Thứ năm, cần có sự lựa chọn. Đối với nền kinh tế, TKV nằm trong ‘top ten’. Đối với TKV, than ở Quảng Ninh là không thể thiếu, chiếm 90-99% lợi nhuận. Bauxite/alumina Tây Nguyên nền kinh tế chưa có nhu cầu. Cả hai dự án alumina trên Tây Nguyên có thể đóng cửa bất cứ lúc nào cũng không ảnh hưởng đến nền kinh tế, còn các mỏ than ngoài Quảng Ninh, nếu phải đóng cửa, vấn đề an ninh năng lượng của Việt Nam sẽ rất rủi ro.
Cuối cùng, trong lĩnh vực công nghiệp khai khoáng nói chung đã đến lúc phải xem lại trách nhiệm của Bộ Công Thương về công tác quy hoạch phát triển và dự báo thị trường trong thời gian qua. Đây là hai khâu quan trọng nhất, nhưng cũng bất cập nhất, thuộc chức năng quản lý nhà nước của Bộ Công Thương./.
N. T. S.
NẤM MỒ CỦA TẬP ĐOÀN THAN KHOÁNG SẢN VIỆT NAM: DỰ ÁN BAUXITE TÂY NGUYÊN
Bài của TS TÔ VĂN TRƯỜNG trên Quechoa 23/3/2014
Anh bạn Phạm Quang Khải nhắn tin cho tôi: “TS Nguyễn Thành Sơn ở Vinacomin nhiều lần dặn Khải khi nào anh Trường ra Hà Nội bố trí để gặp mặt, trò chuyện vì chỉ được biết nhau đã lâu qua mạng …”. Xin cám ơn Internet đã cho tôi hàng nghìn bạn đọc, bạn hữu chia sẻ những vấn đề cùng quan tâm.

Ngày hôm qua, TS Nguyễn Thành Sơn, Giám đốc Ban quản lý các dự án than đồng bằng sông Hồng (Vinacomin), gửi GS Nguyễn Huệ Chi và tôi bài viết: “Suy nghĩ về cách tiếp cận của Bộ Công Thương trong các dự án bauxite”. Là người trong ngành, am hiểu sâu sắc cả về lý luận và thực tế, ý kiến tâm huyết của TS Nguyễn Thành Sơn rất thuyết phục.
Năm ngoái, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang mời TS Nguyễn Thành Sơn đến để lắng nghe báo cáo về dự án bauxite Tây Nguyên. Trong nhóm chuyên gia tư vấn cũng phải thảo luận về nội dung cần báo cáo, nhưng nghe xong rồi… cũng chẳng thấy có tiến triển gì hơn!
Dự án bauxite cho cái “bánh vẽ” tù mù triển vọng 30 năm sau… lúc đó những người “chủ trương lớn” và cố đấm thực hiện dự án này đã “đi xa”, chỉ con cháu chúng ta phải đắng cay è cổ ra mà trả nợ cho sự mông muội, bảo thủ của thế hệ cha ông!
Có người đặt câu hỏi, vì sao không bắt những người cổ súy cho dự án này, nếu thấy lời thì hãy “cổ phần hóa” cùng đóng góp đầu tư thay cho việc sử dụng tiền thuế của dân? Thực tế, những người trong cuộc, thay nhau ra đi. Ngay Chủ tịch TKV đương nhiệm chỉ còn 3 tháng nữa là “hạ cánh” an toàn, còn Tổng Giám đốc thì có thể được “luân chuyển cán bộ” sau khi dự lớp cán bộ nguồn của Đại hội Đảng khóa 12!
Vấn đề đã rõ như ban ngày, đâu cần thêm thông tin để làm quyết định. Vấn đề là ai quyết định? Không lẽ Quốc hội chỉ vì “Đảng cử dân bầu” nên vẫn né tránh không bàn đến các “chủ trương lớn” và quan tâm đến nguyện vọng của cử tri. Quốc hội phải vào cuộc, vì Hiến pháp xưa nay đã xác nhận là cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước. 500 cái đầu, chắc chắn trí tuệ sẽ phong phú, đa chiều hơn. Thực tế chứng minh Quốc hội khóa 12 đã dũng cảm bác bỏ dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam là bài học quý giá biết lắng nghe tiếng lòng của dân.
Xem lại các trang báo mạng, báo giấy thời sôi động can ngăn dự án “Trời gầm” này thì sẽ thấy nhân dân ta thông minh và tâm huyết biết chừng nào. Gần đây, Chính phủ biết lắng nghe các ý kiến phản biện, đối chiếu với thực tế đã hủy bỏ dự án cảng bauxite Kê Gà. Bây giờ, dừng dự án Nhân Cơ tuy muộn, dù sao còn hơn không vì chỉ cần thí điểm dự án Tân Rai là quá đủ! Bài học đổ vỡ đắt giá về Vinashin, Vinalines, v.v. còn đó. Rất có thể dự án bauxite Tây Nguyên trở thành nấm mồ của một anh cả đỏ khác, là Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam. 
T. V. T.
BAUXITE TÂY NGUYÊN: BỘ CÔNG THƯƠNG CẦN CÔNG KHAI…
Bài pv ông PHẠM QUANG TÚ trên ĐV 24/3/2014

(Tin tức thời sự) – “Khi Bộ Công thương cho rằng tiêu chuẩn quá cao thì phải công bố công khai toàn bộ các tiêu chuẩn kỹ thuật họ đã phê duyệt cho nhà máy Tân Rai”.

Ông Phạm Quang Tú, Phó Viện trưởng Viện tư vấn phát triển (CODE) thuộc Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam đã nói như vậy với Đất Việt liên quan đến hai dự án bauxite ở Tây Nguyên.

PV: – Thưa ông Bộ Công thương vừa có báo cáo gửi đoàn giám sát Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã đưa ra kiến nghị xin giảm đầu tư hồ chứa bùn đỏ vì thiết kế có độ an toàn quá cao. Ông đánh giá như thế nào về kiến nghị này khi từ trước tới nay đã có quá nhiều ý kiến lo ngại về sự an toàn hồ chứa?

Ông Phạm Quang Tú: – Đối với vấn đề như hồ chứa bùn đỏ của dự án bauxite Tây Nguyên, đầu tiên cần có quan điểm thống nhất mức độ an toàn phải đặt ở mức cao nhất. Lý do là vì bùn đỏ là một hóa chất độc hại, nếu bị phát tán ra môi trường sẽ bị ảnh hưởng tới môi trường và sức khỏe con người.

Bauxit Tây nguyên: Cứ lỗ mãi thì cho không còn hơn!

Đặc thù hồ bùn đỏ của Việt Nam được đặt ở Tây Nguyên, đầu nguồn các con sông, đặc biệt với hai dạ án bauxite Tân Rai, Nhân Cơ là đầu nguồn của sông Đồng Nai và Sêrêpok. Nếu giả sử có sự cố gì xảy ra thì nó không chỉ ảnh hưởng vùng đó mà cả tới vùng rộng lớn hạ du là Đông Nam Bộ, đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là vùng rất quan trọng cả về dân sinh cũng như phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam.

Hơn nữa, bùn đỏ là vấn đề từ trước đến nay xã hội quan tâm và lo lắng. Chính vì vậy việc xây dựng nó ở mức độ an toàn cao nhất là điều cần phải làm để bảo sự đồng thuận của xã hội.

Vậy trong trường hợp này tại sao chủ đầu tư là TKV và cơ quan chủ quản là Bộ Công thương trước đây đã xác định được mức độ an toàn và đưa ra tiêu chuẩn cao như vậy khiến dư luận xã hội rất yên tâm và hoan nghênh. Nay đặt lại vấn đề là mức an toàn quá cao và cần điều chỉnh lại?

Đề xuất này thể hiện phương pháp làm việc không thống nhất trước và sau giữa chủ đầu tư và cơ quan chủ quản.Tức là trước đây hồ này cũng do chủ đầu tư thiết kế và Bộ Công thương phê duyệt, sao nay lại nói là cao?.

Tôi cho rằng việc đặt an toàn ở mức độ cao nhất là cần phải làm và không nên giảm tiêu chuẩn kỹ thuật, có thể ảnh hưởng về mặt tương lai. Bởi hiện nay trong hoàn cảnh biến đổi khí hậu, sự rủi ro môi trường, tai biến thiên tai ngày càng tăng.

Thêm nữa nếu giảm tiêu chuẩn xuống một lần nữa sẽ tạo ra sự lo lắng trở lại đối với xã hội về sự an toàn, bền vững của hồ chứa này.

Khi Bộ Công thương cho rằng tiêu chuẩn quá cao thì phải công bố công khai toàn bộ các tiêu chuẩn kỹ thuật họ đã phê duyệt cho nhà máy Tân Rai. Đồng thời cũng phải nói rõ tiêu chuẩn nào là cao quá để xã hội đóng góp ý kiến.

Còn phê duyệt thì nói làm thế này, đến khi thấy có vấn đề về tài chính thì lại đòi giảm thì không ai tin được.

<img class="aligncenter" src="http://118.69.168.115/staticfile/Subject/2014/03/23/ho-chua-bun-do_23023455.jpg&quot; alt="Ông Phạm Quang Tú cho rằng Bộ Công thương phải nói rõ tiêu chuẩn nào là cao quá để xã hội đóng góp ý kiến.<br /><br /><br />
” />
Ông Phạm Quang Tú cho rằng Bộ Công thương phải nói rõ tiêu chuẩn nào là cao quá để xã hội đóng góp ý kiến

PV: – Không những thế Bộ Công thương còn xin giảm thuế môi trường, không đền bù tiền đất cho dân mà chỉ thuê có thời hạn. Có ý kiến cho rằng dự án đang phạm chính tiêu chí ban đầu đó là góp phần phát triển kinh tế, đảm bảo an toàn xã hội. Ông có đồng tình với ý kiến này?

Ông Phạm Quang Tú: – TKV muốn xin thuế VAT về bằng 0 vì cho rằng alumin chế biến sâu. Thực ra alumin chỉ mới trải qua một công đoạn gọi là chế biến không còn là quặng thô.

Để được xem là chế biến sâu hay nông thì phải trải qua một chuỗi giá trị của ngành nhôm. Ít nhất có 4 công đoạn (quặng thô, alumin, nhôm kim loại, sản phẩm sau nhôm kim loại…) thì chế biến alumin chỉ là công đoạn đầu tiên và so với chuỗi giá trị của ngành này thì chưa thể coi là chế biến sâu.

Do vậy nếu lập luận rằng như thế đã là chế biến sâu rồi, đóng góp nhiều cho xã hội rồi để không đóng thuế VAT nữa là không thỏa đáng. Đặt lại câu hỏi nếu không đóng thuế thì nhà nước, địa phương được hưởng lợi gì từ tài nguyên này.

Còn đóng thuế tài nguyên thì Việt Nam vẫn đang bị đánh giá là ăn vậm vào tài sản của tương lai. TKV còn xin giảm phí môi trường xuống giống như ngành than xuống mức 7%. Nhưng theo tôi không thể đánh đồng giữa bauxite và than được.

Để nói giảm hay tăng hay giảm cần phải có những nghiên cứu đánh giá khoa học về ảnh hưởng môi trường của khai thác bauxite so với than rồi mới đưa ra được con số.

Vậy Bộ Công thương đã dựa trên cơ sở nào để đưa ra đề xuất giảm thuế môi trường xuống bằng so với khai thác than?.

Còn với đất đai TKV đề xuất không đền bù tiền đất cho dân mà chỉ thuê có thời hạn. Riêng với phương pháp này cá nhân tôi đồng ý về mặt nguyên tắc. Lý do là vì một trong những điểm mà chúng ta lo lắng nhất từ trước tới nay đối với các dự án của Việt Nam khi được triển khai là thu hồi đất đai vĩnh viễn và người dân mất đất.

Tuy nhiên cái giá thuê được tính như thế nào? Nó phải được tính dựa trên cơ sở của 3 chi phí (đền bù hoa màu và các sản phẩm trên đất thuê tính đúng, đủ theo giá thị trường; rồi chi phí cơ hội trong thời gian thuê đất; công ăn việc làm…). Nhưng ở đây TKV lại giải trình là hỗ trợ sinh kế trong thời gian thuê đất là không thỏa đáng.

Phải khẳng định trong trường hợp này là chủ đầu tư phải đền bù chứ không phải hỗ trợ bởi dự án đang lấy đất của dân. Nếu nói hỗ trợ giống như đền bù tái định cư là chủ đầu tư nói kiểu ban ơn. Chính từ ‘hỗ trợ’ dễ tạo ra khoảng an toàn cho doanh nghiệp. Mà đã là hỗ trợ thì dân không có quyền đòi hỏi, dù 5 đồng hay 1 đồng cũng là hỗ trợ.

Thêm một vấn đề nữa là trả lại cho dân bằng đất nào? Khi trả lại phải ít nhất là loại đất có thể canh tác trước đây chứ không phải khi dân trao cho anh là đất thịt nạc còn khi trả lại thì là cục xương.

Do vậy cá nhân tôi cũng còn rất băn khoăn với cách thức triển khai khi chủ đầu tư khi đưa ra đề xuất này. Do vậy nếu có đồng ý thì chính quyền địa phương phải có những quy trình cam kết chặt với chủ đầu tư nếu không sẽ đẩy người dân vào thế khó.Cần cảnh giác nếu không đất trả lại sẽ không có khả năng canh tác.

PV:- Theo ông các cơ quan chức năng nên ứng xử như thế nào cho phù hợp với dự án này để đảm bảo tính công bằng giữa các doanh nghiệp? Ông có kiến nghị gì?

Ông Phạm Quang Tú: – Hiện nay nhà máy Tân Rai đã xây dựng xong đã đi vào vận hành ổn định và có sản phẩm xuất khẩu ra bên ngoài. Theo kết luận 245 của Bộ Chính trị từ tháng 4/2009 thì Tân Rai và Nhân Cơ là các nhà máy thí điểm.

Do vậy hiểu thí điểm là sau khi triển khai phải có đánh giá đúc rút kinh nghiệm. Nhìn lại thời gian ban hành kết luận của Bộ Chính trị đến nay cũng là 5 năm, công việc của Tân Rai đã xong thì đây là thời điểm cần đánh giá lại một cách nghiêm túc.

Hiện nay Ủy ban Thường vụ Quốc hội đang chủ trì đánh giá hiệu quả, tôi mong muốn đoàn giám sát làm rõ thêm ngoài hiệu quả tài chính của dự án thì hiệu quả xã hội và môi trường mà chính quyền và người dân địa phương nhận được như thế nào. Cần đánh giá mở rộng thêm.

Một trong những phương pháp luận về kinh tế tôi tin là các nhà làm luật về kinh tế của Ủy ban kinh tế của Quốc hội biết rõ là phải nội địa hóa tất cả các chi phí ngoại biên bao gồm những ảnh hưởng về môi trường và xã hội vào trong bài toán hiệu quả.

Sau kết quả đánh giá rồi mới có đề nghị tiếp tục hay là dừng.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Bích Ngọc (thực hiện)

BAUXITE TÂY NGUYÊN LÀM THEO ĐÚNG QUY ĐỊNH THÌ…LỖ TO!

Bài pv của BÍCH NGỌC trên Quechoa 29/3/2014

Ông Trần Sơn Lâm

Ông Trần Sơn Lâm, Hội viên Tổng hội Địa chất Việt Nam, Nguyên chuyên viên cao cấp, nguyên Vụ trưởng Vụ Khoa giáo – Văn phòng Chính phủ đã chia sẻ với Đất Việt như vậy.
PV: – Thưa ông Bộ Công thương vừa có báo cáo gửi đoàn giám sát Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã đưa ra kiến nghị xin giảm đầu tư hồ chứa bùn đỏ vì thiết kế có độ an toàn quá cao. Không những thế Bộ Công thương còn xin giảm thuế môi trường, không đền bù tiền đất cho dân mà chỉ thuê có thời hạn. Có ý kiến cho rằng dự án đang phạm chính tiêu chí ban đầu đó là góp phần phát triển kinh tế, đảm bảo an toàn xã hội. Do vậy tốt nhất là dừng hoặc cho không tài nguyên đi còn hơn. Ông có đồng tình với ý kiến này?
Ông Trần Sơn Lâm: – Tôi cho rằng về dự án bauxite Tây Nguyên nếu làm theo đúng quy định của pháp luật thì lỗ to, như vậy không thể giải quyết được vấn đề lấy bauxite trở thành nguồn lực để hiện đại hóa đất nước như mục tiêu ban đầu mà chủ dự án đã trình bày và báo cáo với Chính phủ, Quốc hội và các cơ quan có thẩm quyền.
Lỗ này lại phải bù lại từ tiền thuế của người dân, của các doanh nghiệp, từ các hoạt động kinh tế khác như khai thác dầu mỏ, khoáng sản… và trực tiếp ảnh hưởng lên nền kinh tế của đất nước và phát triển xã hội.
Hoạt động kinh tế càng lỗ thì sẽ càng  ảnh hưởng đến phúc lợi, an sinh xã hội như y tế, giáo dục và đời sống của nhân dân, đặc biệt tình hình lạm phát và suy thoái kinh tế hiện nay vẫn chưa được cải thiện rõ rệt.
Dự án bauxite bị lỗ sẽ phải bù lại từ tiền thuế  của người dân, của các doanh nghiệp, từ các hoạt động kinh tế khác như khai thác dầu mỏ, khoáng sản... và trực tiếp ảnh hưởng lên nền kinh tế của đất nước
Dự án bauxite bị lỗ sẽ phải bù lại từ tiền thuế của người dân, của các doanh nghiệp, từ các hoạt động kinh tế khác như khai thác dầu mỏ, khoáng sản… và trực tiếp ảnh hưởng tới nền kinh tế của đất nước
Thế nhưng hai dự án đang làm không thể nào dừng lại được vì đó là tài sản của nhân dân. Nhưng làm thế nào để dự án thành công thì cần phải suy nghĩ. Lý do là vì hàng tỉ đô la đang đổ vào đó, nếu dừng lại thì sẽ mất không số tiền đó.
Do đó nhà nước phải có quyết sách nào đó để duy trì dự án và phát triển lên.
Tôi nghĩ cần tập trung toàn lực các nhà khoa học kể cả trong nước và ở nước ngoài, viện nghiên cứu, công nghệ  đe chế biến bùn đỏ trở thành sản phẩm thương mại hóa được, kể cả mua công nghệ nước ngoài.
Phải huy động các doanh nghiệp của các thành phần kinh tế xắn tay cung tháo gỡ vấn đề.
Không nên bán sản phẩm alumin mà phải đầu tư chế biến thành các sản phẩm nhôm, hợp kim nhôm để phục vụ cho nền kinh tế của đất nước và xuất khẩu. Tôi được biết trước khi hợp tác với Trung quốc, các đối tác khác như Pháp và Úc đã đề xuất khai thác bô xít và chế tạo thành kim loại nhôm ở ngay tại nước ta.
Tôi nghĩ đất nước ta không thiếu những con người có tài và có tâm để thực hiện việc này.  Đây cũng chính là thử thách để lựa chọn những người lãnh đạo.
Nếu bây giờ ta vẫn xuất khẩu quặng chưa tinh luyện, một mặt làm hao hụt lượng tài nguyên dự trữ của đất nước, mặt khác không thể thu hồi vốn nhanh để có thể đưa Việt Nam thành nước có nền công nghiệp hoá vào năm 2020.
Chúng ta hãy nhìn sang nước bạn Hàn Quốc, vào những năm 1970 họ cũng có nền kinh tế phát triển không cao hơn hẳn các nước Đông Nam Á nhưng chi hơn hai chục năm sau  họ đã trở thành một nước có nền công nghiệp hiện đại, kể cả  sản xuất các lò phản ứng hạt nhân cho nhà máy điện hạt nhân. Vì họ  biết tập trung nguồn lực và huy động nhân tài với phương châm làm đến cùng.
Hiện nay dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc đứng đầu thế giới, lên đến vài nghìn tỷ USD nên việc họ nhập quặng của ta để dự trữ tài nguyên cũng là việc làm bình thường trong kinh doanh. Ta đều biết Mỹ rất giàu tài nguyên nhưng họ đưa ra các đạo luật rất khắt khe để hạn chế việc khai thác bừa bãi, phá hủy môi trường.
PV: – Thưa ông nhưng có ý kiến cho rằng trữ lượng bauxite không như giải trình của dự án nên nếu đầu tư công nghệ chế biến tinh sẽ rất tốn kém. Như vậy tiếp tục làm theo kiểu đâm lao, theo lao thì nguy hiểm hơn. Ông có nghĩ như vậy?
Ông Trần Sơn Lâm: – Theo tôi được biết, trước đây Tổng công ty than và khoáng sản Việt Nam trình các cấp có thẩm quyền bảy (7) dự án khai thác, nhưng tiếp thu ý kiến của các nhà khoa học, dư luận xã hội,  Bộ Chính trị quyết định chỉ làm hai (2) dự án thí điểm như hiện nay.
Khi báo cáo trước Quốc hội, có bộ trưởng đã nói trữ lượng bauxite của Việt Nam là 10-11 tỉ tấn. Vấn đề này đã được PGS.TS Nguyễn Khắc Vinh, Chủ tịch Tổng hội Địa chất Việt Nam, nguyên viện trưởng Viện Địa chất và Khoáng sản  VN làm rõ trong các báo cáo gửi các cấp có thẩm quyền trong đó nêu rõ con số 10-11 tỷ tấn chỉ là con số dự báo tài nguyên.
Cho đến nay, trên các tài liệu đã công bố, Việt Nam dự báo chỉ có 6,9 tỉ tấn tài nguyên bauxite, còn Mỹ nhận định trữ lượng bauxite của Việt Nam chỉ có 2,1 tỉ tấn. Tuy nhiên, khi thăm dò chi tiết, trữ lượng có thể thấp hơn nữa. Trong khi trữ lượng bauxite của cả thế giới chỉ có 38 tỉ tấn.
 Vì vậy để có bức tranh tổng thể về tài nguyên bauxite, chúng ta cần tiếp tục công tác thăm dò tìm kiềm để xác định được con số tương đối chính xác, từ đó đưa đến việc có tiếp tục đầu tư lớn nữa không, hay ở mức trung bình hoặc giữ   nguyên ở hai dự án như hiện nay để con cháu chúng ta tiếp tục phát triển.
Vấn đề đầu tư công nghệ chế biến cho hai dự án hiện nay theo tôi nghĩ là một bước cần thiết cho ngành chế biến luyện kim trong nước, đầu tư ở mức nào thì phải tính toán tương ứng với lượng quặng ta khai thác được.
PV: – Vậy theo ông nên ứng xử như thế nào với hai dự án này?
Ông Trần Sơn Lâm: – Như trên tôi đã nói, bây giờ không thể bỏ hai dự án này được, vì đây là tài sản của toàn xã hội, của nhân dân. Vừa qua trên mặt trận giao thông vận tải, Bộ trưởng Bộ Giao Thông cũng đã có các chỉ đạo quyết liệt trong việc thi công các con đường quốc lộ và đang thu được những thành công ban đầu, được dư luận hoan nghênh.
Vì vậy đối với dự án bauxite, bộ trưởng Bộ Công thương cũng phải có trách nhiệm đề xuất với chính phủ các biện pháp tháo gỡ các khó khăn, bảo đảm hai dự án bauxite phát triển trên nguyên tắc phải bảo tồn và phát triển nguồn vốn đã đầu tư và phải có lãi.
Xin trân trọng cảm ơn ông!

Bình luận về bài viết này

Chuyên mục

Tạo trang giống vầy với WordPress.com
Hãy bắt đầu