Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Ba 31, 2014

20140331. VỀ QUAN HỆ GIỮA DÂN CHỦ VÀ GIÀU MẠNH CỦA ĐẤT NƯỚC

ĐIỂM BÁO MẠNG

TẠI SAO CÁC NƯỚC DÂN CHỦ LẠI GIÀU CÓ?

Bài của Ricardo Hausmann*Phạm Nguyên Trường dịch trên Quechoa 31/3/2014

Khi Adam Smith vừa tròn 22 tuổi, ông đã tuyên bố một câu nổi tiếng rằng, “Đưa một nhà nước từ tình trạng man rợ nhất đến tình trạng giàu sang nhất không đòi hỏi gì nhiều, đấy là hòa bình, thuế thấp và thái độ khoan dung trong việc thực thi công lý: tất cả những thứ khác sẽ xảy ra trong tiến trình tự nhiên của sự vật”. Hôm nay, gần 260 năm sau, chúng ta biết rằng không có gì xa sự thật đến như thế.
Việc biến mất của chiếc máy bay mang mã số 370 của hãng hàng không Malaysia cho thấy Smith sai đến mức nào vì nó thể hiện rõ tương tác phức tạp giữa nền sản xuất hiện đại và nhà nước. Để làm cho việc du hành bằng máy bay trở thành khả thi và an toàn, các quốc gia phải đảm bảo rằng phi công và máy bay phải vượt qua những bài kiểm tra nghiêm ngặt. Họ xây dựng các sân bay và cung cấp radar và vệ tinh có thể theo dõi máy bay, cung cấp các nhân viên kiểm soát không lưu để giữ cho máy bay không đâm vào nhau, và công tác an ninh để không cho những kẻ khủng bố lên máy bay. Và, khi xảy ra sự cố thì hòa bình, thuế thấp, và công lý không thể giúp đỡ được; mà phải dùng các cơ quan chuyên nghiệp, có đầy đủ nguồn lực của nhà nước thì mới giải quyết được.
Tất cả các nền kinh tế tiên tiến hiện nay dường như cần nhiều hơn những điều mà chàng trai trẻ Smith giả định. Và chính phủ của những nền kinh tế đó không chỉ lớn và phức tạp, có hàng ngàn cơ quan quản lý hàng triệu trang giấy ghi các quy tắc và quy định; đấy cũng là những chính phủ dân chủ – và không chỉ vì họ thường xuyên tổ chức bầu đến như thế. Vì sao?
Vào thời điểm xuất bản tác phẩm Của cải của các quốc gia (The Wealth of Nations), ở 43 tuổi, Smith đã trở thành nhà khoa học tổng hợp đầu tiên. Ông hiểu rằng nền kinh tế là một hệ thống phức tạp, một hệ thống cần phải có nhằm phối hợp công việc của hàng ngàn người chỉ để làm một việc đơn giản, thí dụ, như một bữa ăn hay một bộ quần áo.
Nhưng Smith cũng hiểu rằng nền kinh tế lúc đó đã quá phức tạp, không ai có đủ sức tổ chức, nhưng nó lại có khả năng tự tổ chức. Nó có một “bàn tay vô hình”, hoạt động thông qua giá cả thị trường nhằm cung cấp một hệ thống thông tin có thể được sử dụng để tính toán xem có nên sử dụng các nguồn lực cho một mục đích nhất định nào đó hay không – tức là có mang lại lợi nhuận hay không.
Lợi nhuận là một hệ thống khích lệ, hướng dẫn các doanh nghiệp và các cá nhân trong việc phản ứng trước những thông tin do giá cả cung cấp. Và thị trường vốn là một hệ thống huy động các nguồn lực, nó cấp tiền cho các công ty và các dự án mà người ta nghĩ là sẽ có lời – nghĩa là cấp tiền cho những người phản ứng một cách phù hợp với giá cả của thị trường.
Nhưng nền sản xuất hiện đại đòi hỏi nhiều yếu tố đầu vào mà thị trường không thể cung cấp được. Và, như trong trường hợp của các hãng hàng không, các yếu tố đầu vào này – các quy tắc, các tiêu chuẩn, các chứng chỉ, cơ sở hạ tầng, trường học và trung tâm đào tạo, phòng thí nghiệm khoa học, các dịch vụ an ninh, cùng với những dịch vụ khác – là những bổ sung cực kì cần thiết cho những thứ có thể mua được trên thị trường. Chúng tương tác với nhau theo những cách phức tạp nhất với các hoạt động mà thị trường là người tổ chức.
Cho nên ở đây có một câu hỏi: Ai kiểm soát việc cung cấp các yếu tố đầu vào được cung cấp một cách công khai? Thủ tướng? Cơ quan lập pháp? Những vị thẩm phán hàng đầu nào của đất nước đã đọc hàng triệu trang sách pháp luật hay xem xét chúng bổ sung hay mâu thuẫn với nhau như thế nào, chứ chưa nói đến việc áp dụng chúng vào cực kì nhiều hoạt động khác nhau của nền kinh tế? Thậm chí chính quyền hành pháp của tổng thống cũng không thể biết hết được được những điều mà hàng ngàn cơ quan của chính phủ đã làm hay không làm và chúng ảnh hưởng như thế nào đến các thành phần của xã hội.
Đây là vấn đề chứa nhiều thông tin và  tương tự như thách thức trong việc phối hợp về mặt xã hội mà thị trưởng giải quyết, không có chỗ cho quản lí tập trung ở đây. Điều nó đòi hỏi là một cái gì đó tương tự như bàn tay vô hình của thị trường: một cơ chế tự tổ chức. Những cuộc bầu cử rõ ràng là không đủ, bởi vì bầu cử thường chỉ được tổ chức với chu kì từ hai đến bốn năm và thu thập được rất ít thông tin trên mỗi cử tri.
Thay vào đó, hệ thống chính trị thành công phải tạo ra một bàn tay vô hình khác – một hệ thống phân cấp quyền lực nhằm xác định vấn đề, đề xuất giải pháp và theo dõi việc thực thi, một hệ thống mà các quyết định đưa ra với nhiều thông tin hơn hẳn.
Xin dẫn ra một ví dụ, chính phủ liên bang của Hoa Kỳ chỉ có 537 trong khoảng 500.000 chức vụ dân cử của đất nước. Rõ ràng là, có nhiều chức vụ được phân bố ở những nơi khác.
Quốc hội Mỹ có 100 thượng nghị sĩ, mỗi người có 40 trợ lý, và 435 hạ nghị sĩ, mỗi người lại có 25 phụ tá. Họ được tổ chức thành 42 ủy ban và 182 tiểu ban, có nghĩa có lúc nào cũng có 224 cuộc đàm thoại diễn ra cùng một lúc. Và nhóm hơn 15.000 người này  (100×40 + 435×25 – ND) không phải là nhóm duy nhất. Trước mặt họ là khoảng 22.000 nhà vận động hành lang có đăng ký, với nhiệm vụ (cùng với những mục đích khác) là ngồi với các nhà lập pháp và đưa ra dự thảo luật lệ.
Điều này, cùng với tự do báo chí, là một phần của cái cấu trúc đang đọc hàng triệu trang pháp luật và theo dõi xem các cơ quan chính phủ làm gì và không làm gì. Nó tạo ra những thông tin và sáng kiến nhằm phản ứng trước những việc làm của chính phủ. Nó tạo ảnh hưởng lên việc phân bổ ngân sách. Nó là một hệ thống mở, ai cũng có thể tạo ra tin tức hoặc tìm người vận động hành lang để vận động cho dự án của mình, dù đấy có là bảo vệ cá voi hay ăn thịt chúng thì cũng thế.
Thiếu một cơ chế như thế, hệ thống chính trị không thể cung cấp được môi trường mà nền kinh tế hiện đại đòi hỏi. Đó là lý do vì sao tất cả các nước giàu có đều là những nước dân chủ, và đó là lý do vì sao một số nước, tương tự như nước tôi (Venezuela), đang trở thành nghèo hơn. Mặc dù một số nước trong số những quốc gia này có tổ chức bầu cử, nhưng họ thường lưỡng lự trước những sự phối hợp đơn giản nhất. Xếp hàng để bỏ phiếu không phải là bảo đảm rằng người dân sẽ không còn phải xếp hàng để mua giấy vệ sinh.
R.H.
* Ricardo Hausmann, là cựu Bộ trưởng Bộ kế hoạch của Venezuela và cựu kinh tế trưởng của Ngân hàng phát triển liên Mĩ, hiện là Giáo sư kinh tế ở đại học Harvard (Harvard University), đồng thời là Giám đốc trung tâm phát triển quốc tế ở trường này.
VIỆT NAM CÓ TỶ PHÚ ĐÔ LA: VUI HAY BUỒN?
Bài của ĐẶNG HOÀNG GIANG trên TVN  30/3/2014

Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu?

Đầu tháng 3 vừa rồi, báo chí đăng tin ông Phạm Nhật Vượng, chủ tịch tập đoàn Vingroup, tiếp tục được tạp chí quốc tế Forbes “vinh danh” trong danh sách tỉ phú đô-la toàn cầu của mình.

Năm ngoái, ông Vượng, lần đầu tiên, và là người Việt duy nhất, lọt vào danh sách này, và năm nay, ông vẫn vững vàng bảo vệ vị trí của mình, tuy rằng chỉ khiêm nhường nằm trong nhóm phần ba cuối bảng của 1645 người giàu có nhất hành tinh này.

Chữ “vinh danh” mà báo chí dùng, cũng như các comment trên mạng về “người con ưu tú” làm “rạng danh đất nước” cho thấy có một niềm tự hào không nhỏ của người Việt về việc này. Có thể hiểu được lý do của niềm tự hào này. Nhiều người hẳn vẫn còn bị ám ảnh bởi khẩu hiệu “Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” của những năm ’80 bao cấp của thế kỷ trước. Trong khi theo đuổi một viễn tưởng về một xã hội bình đẳng, thoả mãn mọi ham muốn và nhu cầu của con người, trên thực tế người ta đã tạo ra một xã hội mà trong đó, giáo sư, nông dân, bác sĩ, công nhân, và nghệ sĩ đều nghèo như nhau.

Xuất thân từ tỉnh nghèo Hà Tĩnh, và đi học ngành địa chất không liên quan gì tới kinh doanh, con đường của ông Vượng từ mỳ tôm tới bất động sản là chất liệu của giấc mơ mới của người Việt, một minh chứng là người ta đã được phép giầu và có thể giầu. Sau nhiều năm xấu hổ vì bị coi là nghèo, hèn và kém cỏi, làm lòng tự trọng bị xây xước nghiêm trọng, người ta muốn tìm những dấu hiệu để an ủi cho bản thân về giá trị của mình: một cúp vô địch bóng đá khu vực (đã có), một hoa hậu tầm quốc tế (chưa có), hay một tỉ phú đô-la (cuối cùng thì cũng có).

Nhưng chúng ta hãy tự hỏi thực ra có gì để tự hào trong chuyện này? Trung Quốc có tới 152 tỉ phú, xếp thứ hai trong danh sách về con số tuyệt đối, chỉ sau Mỹ. Nga cũng đóng góp 111 tỉ phú, một tỉ lệ trên đầu người cao hơn nhiều nước Tây Âu phát triển khác. Có thực sự hai quốc gia này là những nước trọng người tài, có thượng tôn pháp luật, hệ thống quản trị quốc gia minh bạch và sạch sẽ, tức là những nền tảng cơ bản để người dân có thể làm giầu một cách chính đáng? Nigeria có 4 tỉ phú, Ai cập có 8, Kazahkstan có 5. Đây là những mô hình chúng ta muốn noi theo? Liệu số lượng tỉ phú có thể làm thước đo thành công cho sự phát triển của một quốc gia?

Tôi không nghĩ vậy.

tỷ phú, Phạm Nhật Vượng, phân hóa giàu nghèo

Tỷ phú Phạm Nhật Vượng trên bìa tạp chí Forbes Việt Nam, Ảnh: Forbes

 

Tài sản 85 cá nhân bằng một nửa dân số toàn cầu

Nếu có một điều mà câu chuyện tỉ phú này có thể nói với chúng ta thì đó là ngày nay sự phân hoá giầu nghèo ở nhiều quốc gia đã lên tới mức bất an. Nhưng trước khi đi tiếp, chúng ta hãy dừng lại một chút để chuẩn bị tinh thần. 1 tỉ là một con số trừu tượng, có thể hình dung ra nó như thế nào? Người ta có thể làm gì với 1 tỉ đô-la?

Thu nhập trung bình của người Việt hiện nay là gần 2 000 USD một năm. Nhưng ta không lấy con số này, mà hãy lấy hẳn một người ở thành phố lớn, được học hành, đào tạo tốt, và có thu nhập cao gấp 10 lần mức trung bình của toàn quốc, tức là 20 000 USD một năm (mức này đã bằng tới hai phần ba mức thu nhập trung bình của người Mỹ).

Cứ cho là con người giỏi giang và may mắn này có thể tiết kiệm được toàn bộ số tiền này, mà không phải tiêu xài gì cả. Vậy anh ta sẽ phải làm việc trong bao nhiêu năm để tích luỹ được 1 tỉ USD? Câu trả lời là 50 000 năm. Hay là hơn 1 200 thế hệ, nếu mỗi thế hệ có 40 năm để lao động.

Đây là một ví dụ nữa, sau khi bạn đã phục hồi khỏi cơn choáng. Hình dung ra một khách sạn xa xỉ, chúng ta vẫn nghĩ tới mức giá vài trăm đô-la một đêm. Ít người biết rằng ở những nơi như Burj Al Arab, khách sạn có hình cánh buồm ở Dubai, thu nhập 20 000 USD mỗi năm của người nói trên chỉ đủ để trả tiền phòng cho một đêm. Thế còn với 1 tỉ USD, bạn có thể ngủ bao nhiêu đêm ở đây? 144 năm và mấy tháng lẻ.

Chênh lệch giầu nghèo đã trở thành một hiện tượng toàn cầu. Trên thực tế, trong nhóm những quốc gia có chênh lệch khủng khiếp nhất có đủ các loại: giầu như Mỹ, thu nhập trung bình như Brazil, hay khốn khổ như Zimbabwe.

Ở Mỹ, năm 2011, gần một nửa dân số không có tài sản gì cả (tức là họ có mức nợ cao hơn sở hữu của cải của mình), trong khi đó, 1% những người giàu nhất sở hữu trên 35% tổng tài sản của quốc gia này. Ở Việt Nam, nếu lấy số liệu của công ty Wealth-X / UBS làm cơ sở thì năm ngoái, 195 người siêu giàu (“siêu giầu” được công ty này định nghĩa là có trên 30 triệu USD) sở hữu tổng cộng 20 tỷ USD, bằng hơn nửa GDP của toàn bộ TP Hồ Chí Minh, và bằng 12% tổng sản lượng quốc gia.

Đầu năm nay, Oxfam, một tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nhân đạo và phát triển của Anh, công bố một con số gây sốc: 85 cá nhân giầu nhất thế giới, nghĩa là một nhóm người vừa đủ nhét vừa vào trong một xe bus hai tầng, có tài sản bằng một nửa dân số toàn cầu.

Cũng theo Oxfam, riêng phần gia tăng của cải trong năm qua của 100 tỉ phú giầu nhất thế giới đã đủ để xoá xổ sự nghèo đói trên toàn bộ hành tinh này tới bốn lần.

Trước tình hình này, “Báo cáo rủi ro toàn cầu” của Diễn đàn Kinh tế thế giới Davos năm 2013 đã đưa bất bình đẳng trong thu nhập vào danh sách những rủi ro toàn cầu nguy cấp nhất.

Theo một khảo sát của Gallup, hai phần ba người dân Mỹ bất bình về tình trạng phân bổ của cải hiện nay ở nước họ. Trong một diễn văn đầu năm nay, tổng thống Obama cho rằng chênh lệch thu nhập còn đe doạ nền kinh tế Mỹ hơn cả vấn đề thâm hụt ngân sách. Mùa hè năm ngoái, “The Guardian”, một tờ báo lớn của Anh, tổ chức một toạ đàm trực tuyến với các chuyên gia hàng đầu và chạy tít “Liệu chúng ta có nên tìm cách xoá bỏ giầu có quá mức, thay vì xoá bỏ nghèo đói cùng cực?”

Nhưng vì sao giàu có quá mức (khái niệm tiếng Anh được dùng hiện nay là “extreme wealth”), kể cả khi nó được tạo ra một cách hợp pháp, lại trở thành mối nguy trong con mắt của những nhà lãnh đạo chính trị và kinh tế quốc tế? Xã hội sẽ phải trả giá gì cho mức phân hoá giàu nghèo cực đoan?

Phần hai của bài sẽ đề cập tới vấn đề này.

Tỷ phú phải chăng dây thép gai dẫn điện quanh dinh thự, và thuê hàng đại đội vệ sĩ đưa con đi học, thì lúc đó đêm đêm ngủ trên cái giường, dẫu 6 tỉ hay 60 tỉ, liệu có sung sướng?

Đặng Hoàng Giang

(Phó giám đốc CECODES – Trung tâm Hỗ trợ Cộng đồng và Nghiên cứu Phát triển)


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Chuyên mục

%d bloggers like this: