Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Ba 22, 2016

20160322. NHẬN XÉT VỀ LUẬT BẦU CỬ QUỐC HỘI

ĐIỂM BÁO MẠNG

BẦU CỬ KIỂU GÌ KHI TỆ NGAY TỪ LUẬT

GS HOÀNG XUÂN PHÚ/ BVN 22/3/2016

Càng gần cuối nhiệm kỳ, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng càng phát ngôn nhiều câu ấn tượng, gần hơn với sự thật. Chẳng hạn, trong phiên làm việc của Ủy ban Thường vụ Quốc hội vào ngày 23/2/2016, Chủ tịch Quốc hội đã thẳng thắn thừa nhận rằng:

“Th tc hành chính đi vi dân gi cay nghit, đc ác lm. Có tin là cp, không có tin là không cp.”

Hàng chục triệu nạn nhân bỗng dịu lòng, bởi lần đầu tiên nỗi cực khổ của họ được một vị trong “t tr triu đình” công khai thừa nhận. Nhưng rồi chững lại, khi nhận ra Chủ tịch Quốc hội mới chỉ hiên ngang rảo bước trong cái vành đai ngoài cùng, nơi trú ngụ của phần nhỏ sự thật mang tính hệ quả, mà vẫn còn ngoảnh đi, tránh nhìn vào khu vực trung tâm, chốn chất chứa những sự thật cốt lõi mang tính tiền đề.

Cái thủ tục hành dân ấy từ đâu mà ra? Hiển nhiên, chẳng phải từ trên trời rơi xuống, cũng chẳng phải từ dưới địa ngục chui lên, và chắc chắn không phải do thế lực thù địch cài cắm, để phá hoại chế độ xã hội chủ nghĩa tự xưng là ưu việt. Rõ ràng, thủ tục hành chính chỉ là công cụ được sử dụng để hành dân. Thế còn thủ phạm tạo ra và sử dụng công cụ hành dân là những ai?

Nếu Chủ tịch Quốc hội chỉ tay về phía cơ quan hành pháp, thì xin hỏi tiếp: Cơ quan hành pháp từ đâu mà ra? Một trong những nhiệm vụ của Quốc hội, được hiến định tại Điều 70 Hiến pháp 2013, là “bu, min nhim, bãi nhim… Th tướng Chính ph và “phê chun đ ngh b nhim, min nhim, cách chc Phó Th tướng Chính ph, B trưởng và thành viên khác ca Chính ph. Vậy thì tại sao Quốc hội lại bầu, lại phê chuẩn cái đội ngũ đẻ ra thủ tục hành dân? Và nếu nhận ra đã bầu nhầm, thì tại sao lại không bãi nhiệm? Nếu vì sợ “v bình hoa” mà đành tránh “đánh con chut” (theo cách nói của Tổng Bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng), thì Quốc hội vẫn còn có một nhiệm vụ hiến định khác, là “bãi b văn bn ca… Chính ph, Th tướng Chính ph. Biết chúng “cay nghit, đc ác lm”, tại sao Quốc hội không ra tay bãi bỏ? Đứng đầu “cơ quan đi biu cao nht ca Nhân dân, cơ quan quyn lc nhà nước cao nht ca nước Cng hoà xã hi ch nghĩa Vit Nam” (Điều 69 Hiến pháp 2013), mà gần về hưu mới thừa nhận vài cái “đi vi dân gi cay nghit, đc ác lm”, thì đã quá buồn. Nhận ra rồi, mà làm như vô can, vẫn không chịu ra tay bãi bỏ theo thẩm quyền hiến định, thì còn đáng buồn hơn.

Cũng chẳng cẩn phải tìm kiếm đâu xa. Bản thân Quốc hội cũng sinh ra rất nhiều điều khoản Hiến pháp và pháp luật, mà đối với dân thì cũng thuộc dạng “cay nghit, đc ác lm”. Chúng là tiền đề pháp lý cho các thủ tục hành dân là chính. Một trong những luật mới nhất, chứa đựng nhiều điều khoản tệ hại, là Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân  Số 85/2015/QH13, được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 25/6/2015(sau đây viết tắt là Luật BCĐBQH 2015). Nó thay thế cho Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội (không số) được Quốc hội khóa IX thông qua ngày 15/4/1997(sau đây viết tắt là Luật BCĐBQH 1997).

Luật BCĐBQH 2015 được áp dụng để tổ chức kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV, đã chính thức bắt đầu vào ngày 25/11/2015, khi Quốc hội khóa XIII raNghị quyết số 105/2015/QH13. Nghị quyết ấy xác định ngày bầu cử là 22/5/2016 và công bố danh sách Hội đồng bầu cử quốc gia, do ông Nguyễn Sinh Hùng làm Chủ tịch. Rõ khổ, trước lúc về hưu lại còn phải đứng đầu cái hội đồng “không cn phi bu”, bởi “làm gì có… đc lp”, như Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã khẳng định trong cuộc họp của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội (thảo luận về dự thảo Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân) vào sáng 25/2/2015:

Đt nước ch mt Đng thì làm gì có Hi đng bu c quc gia đc lp? Thc tế không có chuyn bu li Quc hi, Hi đng nhân dân cũng không, nên không cn phi bu Hi đng bu c quc gia.”

Đương nhiên, Luật BCĐBQH 2015 ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của kỳ bầu cử và cả chất lượng của đội ngũ đại biểu Quốc hội khóa XIV. Tại Hội nghị triển khai Quy chế phối hợp công tác năm 2016 giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vào chiều ngày 2/3/2016, Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng đã nói:

“Bây gi ch có tiếp tc ch đo, gii đáp thc mc, t chc trin khai làm sao cho cuc bu c này tht s dân ch, công bng, thc s đúng pháp lut và là ngày hi ca toàn dân.”

Liệu cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội này có thể “tht s dân ch, công bng, thc s đúng pháp lut” hay không? Đã từng có một cuộc bầu cử tốt đẹp như thế diễn ra dưới chế độ xã hội chủ nghĩa trên đất nước Việt Nam hay chưa? Vì sao? Và công dân nên ứng xử thế nào cho phải?

Bài viết này trình bày một số ý, góp phần để chúng ta cùng nhau tìm lời giải đáp cho mấy câu hỏi nêu trên. Nó được chia thành bốn phần. Phần 1, với tiêu đề “Thăng trm hiến đnh”, điểm lại quá trình biến đổi của các quy định về bầu cử đại biểu Quốc hội, được hiến định trong năm bản Hiến pháp của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Phần 2, với tiêu đề “Thc tế bi hài”, lược qua một số biểu hiện sai trái của mấy kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội trước đây. Phần 3, với tiêu đề“Căn nguyên t lut”, phân tích một số nguyên nhân luật định tất yếu dẫn đến tiêu cực, bắt nguồn từ Luật BCĐBQH 1997 và Luật BCĐBQH 2015. Phần 4, với tiêu đề “Băn khoăn muôn mi”, trao đổi về một số tâm tư, suy nghĩ trên cương vị công dân đối với cuộc bầu cử sắp tới.

  1. Thăng trm hiến đnh

Sau khi khai sinh ra chế độ hiện thời, các nhà lập hiến đã long trọng khẳng định trong Hiến pháp 1946(Điều thứ 17) rằng:

“Chế đ bu c là ph thông đu phiếu. B phiếuphi t do, trc tiếp và kín.”

13 năm sau, nguyên tắc bầu cử được hiệu chỉnh trong Hiến pháp 1959 (Điều 5) như sau:

“Vic tuyn c đi biu Quc hi và đi biu Hi đng nhân dân các cp đu tiến hành theo nguyên tc ph thông, bình đng, trc tiếp và b phiếu kín.”

Nội dung này được tiếp tục duy trì trong Hiến pháp 1980 (Điều 7)Hiến pháp 1992 (Điều 7) và Hiến pháp 2013 (Điều 7).

Có một “thay đi nh, nhưng phản ánh một“chuyn biến ln” của đội ngũ từng giương cao ngọn cờ “t do” để giành chính quyền, đó là xóa bỏ “t do” trong điều hiến định về nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội. Thay vào đấy là “bình đng”, thứ lung linh đã tưởng chừng trôi dần gần tầm với, song từ thời “đi mi” nó ngày càng dạt ra xa, mà vẫn bị đem ra ca hoài ca mãi, như thể đùa dai.

Phải chăng việc triệt tiêu nội dung hiến định “b phiếu phi t do là nhằm dọn đường cho việc cản trở công dân tự do ứng cử và ép người người phải tham diễn vở bầu cử phi dân chủ?

Nguyên tắc bầu cử “ph thông” được Hiến pháp 1946 (Điều thứ 18) cụ thể hóa như sau:

“Tt c công dân Vit Nam, t 18 tui tr lên, không phân bit gái trai, đu có quyn bu c, tr nhng người mt trí và nhng người mt công quyn.”

Người ng c phi là người có quyn bu c, phi ít ra là 21 tui, và phi biết đc, biết viết ch quc ng.”

Với kinh nghiệm của 14 năm cầm quyền, các nhà lập hiến đã sửa lại quy định về bầu cử “ph thông”trong Hiến pháp 1959 (Điều 23) như sau:

Công dân nước Vit Nam dân ch cng hoà,không phân bit dân tc, nòi ging, nam n, thành phn xã hi, tôn giáo, tín ngưỡng, tình trng tài sn, trình đ văn hoá, ngh nghip, thi hn cư trú, t mười tám tui tr lên đu có quyn bu c, t hai mt tui tr lên đu có quyn ng c, tr nhng người mt trí và nhng người b Toà án hoc pháp lut tước quyn bu c và ng c.”

Điều đặc biệt là: Hiến pháp 1959 đã hủy bỏ đòi hỏingười ng c phi biết đc, biết viết ch quc ng của Hiến pháp 1946, đồng thời khẳng định công dân không phân bit trình đ văn hóa đu có quyn ng c. Phải chăng đó là cách nhận thức về “bình đng”, thứ được đem ra thay thế cho “t do”“Bình đng” kiểu ấy tất yếu sinh ra loại Quốc hội với đại đa số đại biểu chỉ có trình độ tầm đại chúng, không đủ khả năng tham gia lập hiến và lập pháp.

Hãy tưởng tượng xem, nếu mấy ông bà mù chữ ứng cử đại biểu Quốc hội, rồi trúng cử và tham gia thực hiện những nhiệm vụ trọng đại được hiến định tạiĐiều 50 Hiến pháp 1959, như làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, làm pháp luật, quyết định kế hoạch kinh tế Nhà nước, thì sẽ vất vả đến nhường nào? Song nếu được gợi ý ra ứng cử, thì chắc hẳn những người thất học cũng nhận ra, là mình bị đẩy lên sân khấu đóng vai hề. Sao lại nỡ bỡn cợt với phận nghèo như vậy?

Đó chỉ là một ví dụ nho nhỏ, nhưng lại rất đặc trưng cho kiểu hiến định đã trở thành tập quán: Càng không đnh tôn trng và thc thi Hiến pháp thì càng hiến đnh hào phóng.

Sau khi đã thống nhất đất nước, nắm trọn trong tay quyền lực trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, nhà cầm quyền lại hạn chế tiếp trong Hiến pháp 1980 (Điều 57):

“Công dân không phân bit dân tc, nam n, thành phn xã hi, tín ngưỡng tôn giáo, trình đ văn hoá, ngh nghip, thi hn cư trú, t mười tám tui tr lên đu có quyn bu c và t hai mươi mt tui tr lên đu có th được bu vào Quc hi, Hi đng nhân dân các cp, tr nhng người mt trí và nhng người b pháp lut hoc Toà án nhân dân tước các quyn đó.”

Cái gì thay đổi ở đây? Cm t “có quyn ng c” đã b xóa b khi Hiến pháp. Thay vào đấy là mệnh đề  có th được bu vào Quc hi và Hi đng nhân dân các cp”.

Vậy là, bằng thủ thuật tráo chữ, Hiến pháp 1980 đãcông khai ph nhn “quyn ng c” ca công dân vào Quc hi và Hi đng nhân dân các cp.

Thay đổi ấy là một trong những bằng chứng có thể minh họa nhận định của một số người, cho rằng Hiến pháp 1980 thuộc loại phi dân chủ nhất trong năm bản Hiến pháp của chế độ này. Nhưng đấy là xét về hình thức. Còn xét về thực chất, từ phương diện “quyn ng c của công dân, thì phải chăng Hiến pháp 1980 là tử tế nhất trong số bốn bản Hiến pháp từ năm 1959 đến nay? Vì sao ư? Bởi lẽ nó trung thực nhất. Cho dù “quyn ng c tự do của công dân có được hiến định hay không, thì trên thực tế, suốt bao thập kỷ đằng đẵng, quyền ấy cũng không được nhà cầm quyền tôn trọng và chấp nhận trên thực tế. Vừa hiến định công dân có “quyn ng c, đồng thời lại dùng mọi thủ đoạn (từ công cụ pháp luật đến tiểu xảo chợ búa) để cản trở công dân ứng cử, thì kiểu lừa gạt ấy còn tệ hơn hẳn việc công khai khước từ “quyn ng c.

Hiến pháp 1992 (Điều 54) khôi phục “quyn ng ccủa công dân:

“Công dân, không phân bit dân tc, nam n, thành phn xã hi, tín ngưỡng, tôn giáo, trình đ văn hoá, ngh nghip, thi hn cư trú, đ mười tám tui tr lên đu có quyn bu c và đ hai mươi mt tui tr lên đu có quyn ng c vào Quc hi, Hi đng nhân dân theo quy đnh ca pháp lut.”

Nhưng như vậy lại trở về với trạng thái hào phóng giả tạo của Điều 23 Hiến pháp 1959, là “Công dân, không phân bit… trình đ văn hoá… đu có quyn ng c vào Quc hi…”. Tuy cụm từ “theo quy đnh ca pháp lut” được dùng làm vũ khí ám muội nhằm hạn chế quyền công dân, nhưng một khi Hiến pháp đã khẳng định “không phân bit… trình đ văn hoá…”, thì không thể sinh ra thứ “quy đnh ca pháp lut” nào đó hòng đòi hỏi công dân thực hiện “quyn ng c phải “biết đc, biết viết ch quc ng (như đã từng quy định trong Hiến pháp 1946), hay phải có “trình đ văn hóa” ở mức nào đó. Đây là một trong những ví dụ khắc họa tầm tư duy thấp kém của đấng lập hiến.

Chẳng biết vô tình hay hữu ý, nhưng nhờ viết gọn hơn nên Hiến pháp 2013 (Điều 27) đã thoát khỏi trạng thái trớ trêu ấy:

“Công dân đ mười tám tui tr lên có quyn bu c và đ hai mươi mt tui tr lên có quyn ng c vào Quc hi, Hi đng nhân dân. Vic thc hin các quyn này do lut đnh.

Mệnh đề “Vic thc hin các quyn này do lut đnh”là sáng tạo mới mẻ, được huy động để tạo ra bức tường thành tùy tiện mà kiên cố, có thể dễ dàng ngăn cản công dân “thc hin” các quyền cơ bản, nếu nhà cầm quyền cố tình không ban hành “lut đnh”. Nhưng tiếc thay, giăng bẫy rồi tự sập bẫy, như đã phân tích trong bài Hiến pháp 2013 – Sa nhm hay đi thit?.

Dù quyền bầu cử và ứng cử được hiến định thăng trầm thế nào, thì điều quan trọng đọng lại vẫn là:C năm bn Hiến pháp ca chế đ này đu khng đnh ba nguyên tc bu c “ph thông”, “trc tiếp” và “b phiếu kín”. Trong khi Hiến pháp 1946 quy đnh “b phiếu phi t do”, thì bn bn Hiến pháp tiếp theo thay thế ni dung y bng nguyên tc “bình đng”.

  1. Thc tế bi hài

Hiến pháp quy định như vậy, còn trên thực tế thì các cuộc bầu cử diễn ra như thế nào? Ta hãy cùng nhau điểm qua một số nét của bức tranh toàn cảnh, để hiểu phần nào lý do, tại sao một số người lại so sánh cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội với màn bi hài kịch.

2.1. Va đá bóng va thi còi

Bầu cử đại biểu Quốc hội thường được mở màn bằng việc ra mắt “Hi đng bu c Trung ương”. TheoĐiều 14 Luật BCĐBQH 1997, được sửa đổi theo Luật số 63/2010/QH12 ngày 24/11/2010, Hội đồng này là tổ chức do y ban thường v Quc hi thành lp”, để “lãnh đo, ch đo vic t chc bu c trong c nước”.

Đặc biệt, Hội đồng bầu cử chính là nơi “lp và công b danh sách nhng người ng c đi biu Quc hi theo tng đơn v bu c trong c nước”. Với chức năng này, Hội đồng bầu cử có thể lập ra danh sách ứng cử chỉ bao gồm những người của “h, hay ít nhất cũng được “h chấp nhận. Muốn trúng cử thì hiển nhiên phải lọt vào danh sách những người ứng cử, nhưng kết quả còn phụ thuộc nhiều vào việc người ứng cử được Hội đồng phân đến đơn vị bầu cử nào. Nếu bị xếp vào đơn vị mà cử tri thuộc loại“cng đu”, lại phải cạnh tranh với mấy đối thủ quá mạnh, thì chưa vào trận đã nắm chắc phần thua. Ngược lại, nếu gặp được khối cử tri “d bo”, lại chỉ phải tranh cao thấp với mấy vị lùn lùn, thì chưa cần nhón chân đã có thể vững tin là thắng.

Hơn nữa, Hội đồng bầu cử cũng là nơi “gii quyết khiếu ni, t cáo v công tác bu c đi biu Quc hi…; gii quyết khiếu ni, t cáo v người ng c đi biu Quc hi; gii quyết khiếu ni v kết qu bu c đi biu Quc hi”. Giữa thời buổi suy đồi, ai dám đảm bảo rằng “người nhà” sẽ bị xử lý nghiêm khắc khi gian lận?

Vì vậy, không quá khó hiểu nếu người ứng cử nào đó muốn “vun đp quan h tình cm” với các thành viên của Hội đồng bầu cử nhằm mưu cầu thuận lợi. Song đừng tưởng như vậy đã là cao tay, bởi vẫn còn kém lợi thế của các siêu ứng cử viên, những vị chẳng cần mất công “quan h, vì bản thân là Chủ tịch, hay Phó Chủ tịch, hay thành viên của Hội đồng bầu cử. Vị thế siêu đẳng ấy rất thuận lợi cho những ai muốn vừa chăm việc nước, vừa lo việc nhà, tự lựa chọn đơn vị bầu cử thuận lợi cho bản thân, và đỡ phải e dè khiếu nại.

Nếu muốn tìm hiểu công nghệ vừa lãnh đạo bầu cử vừa ứng cử, có thể tham khảo kinh nghiệm của ông Nông Đức Mạnh. Ngày 14/4/1997 Chủ tịch Quốc hội khóa IX Nông Đức Mạnh đã ký Nghị quyết số 360 NQ/UBTVQH9 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, trong đó bổ nhiệm chính mình làm Chủ tịch Hội đồng bầu cử ở Trung ương để lãnh đạo việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa X, mặc dù bản thân cũng ra ứng cử, và tất nhiên đắc cử, rồi sau đó lại tiếp tục làm Chủ tịch Quốc hội khóa X.

Tương tự, Chủ tịch Quốc hội khóa XII Nguyễn Phú Trọng đã ký Nghị quyết số 1018/NQ-UBTVQH12 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội vào ngày 21/1/2011, trong đó bổ nhiệm chính mình làm Chủ tịch của “Hi đng bu c đ ph trách t chc vic bu c đi biu Quc hi khoá XIII…”, mặc dù bản thân cũng ra ứng cử. Cùng với ông Chủ tịch, Hội đồng bầu cử này còn có thêm 12 vị nữa (tức là chiếm 61,9% trong tổng số 21 thành viên) cũng là ứng cử viên và hiển nhiên cũng trúng cử vào Quốc hội khóa XIII. Đó là bà Tòng Thị Phóng, khi ấy là Phó chủ tịch Quốc hội khóa XII kiêm Phó chủ tịch thường trực Hội đồng bầu cử Quốc hội khóa XIII. Và đó là hai vị Phó chủ tịch Hội đồng bầu cử Nguyễn Sinh Hùng và Nguyễn Thị Doan, cùng các thành viên Lê Hồng Anh, Nguyễn Quốc Cường, Nguyễn Thị Thanh Hòa, Nguyễn Đức Kiên, Vũ Trọng Kim, Uông Chu Lưu, Huỳnh Ngọc Sơn, Phùng Quang Thanh và Đặng Ngọc Tùng.

Thử hỏi có quốc gia văn minh nào mà đương kim tổng thống vừa tái ứng cử tổng thống, lại vừa đứng ra lãnh đạo toàn quốc bầu cử tổng thống, hay không? Cũng chẳng cần nghiêng ngó đâu xa, mà ngay ở Việt Nam, tại những vùng quê chậm tiến nhất, đương kim trưởng thôn cũng đủ tỉnh táo và tự trọng để không vừa tái ứng cử trưởng thôn, lại vừa đứng ra lãnh đạo toàn thôn bầu cử trưởng thôn. Ấy vậy mà cõi lòng thiên giới lại chẳng hề gợn chút lăn tăn…

2.2. Rng đường qua i… l kim

Dù quyền ứng cử được long trọng hiến định, nhưngnhng người thc s t ng c (tức không phải được tổ chức phân công sắm vai “t ng c để hóa trang dân chủ cho chế độ) rt khó lt vào “danh sách chính thc nhng người ng c đi biu Quc hi”. Đầu tiên họ được vận động, thậm chí có thể bị hăm dọa, để phải tự rút lui. Nếu vẫn chưa“tnh ng, thì sẽ vấp ải “ly ý kiến c tri”.

Hội nghị cử tri nơi cư trú được đạo diễn rất công phu. Đối với những trường hợp ứng cử thuộc diện đặc biệt, cần sớm bị loại bỏ, thì chỉ những cử tri chọn lọc mới được tham dự, bởi nơi tổ chức Hội nghị cử tri được bảo vệ nghiêm ngặt như chốn xử án kín. Cuộc đối thoại được tổ chức theo công nghệ phát minh từ thời cải cách ruộng đất. Sau màn đấu tố, kết quả bỏ phiếu tín nhiệm người tự ứng cử thế nào thì chẳng nói cũng rõ.

Không chỉ những nhân vật bị xếp vào sổ đen mới bị phân biệt đối xử. Ngay cả nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải cũng phải nếm “qu đng” khi ra ứng cử Quốc hội vào năm 2011. Như được trình bày trong đơn khiếu nại của ông Lê Cường (Ủy viên Hội đồng biên tập Tạp chí Quê hương – thuộc Bộ Ngoại giao), ông Hải đã gửi thư trực tiếp đến ngài Nguyễn Phú Trọng, với các tư cách Tổng Bí thư ĐCSVN, Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng bầu cử, kiêm cả Trưởng đoàn giám sát bầu cử tại Hà Nội. Trong thư ấy ông Hải viết rằng:

“Đây là mt cuc Hi ngh ly ý kiến ca c tri nơi cư trú đ Hi đng bu c hiu biết thêm v nét sinh hot ca tôi ti đa phương, và s là mt cuc ly ý kiến công bng dân ch, nhưng rt tiếc là không phi như vy:

– Không mi nhng c tri ca các h lin k nơi cư trú ca ng c viên.

– Mi quá nhiu nhng c tri không nơi cư trú ca ng c viên mà không rõ ngun gc.

– B trí nhng người phát biu xuyên tc v lý lch và hot đng khoa hc ca ng c viên.

ng c viên không được tr li nhng phát biu xuyên tc.

– Phát hành s phiếu quá nhiu so vi thông báo ban đu.

– Quyết đnh b phiếu ngay lp tc sau khi đã xuyên tc v ng c viên mà ng c viên không được tr li.

– Ban kim phiếu không kim phiếu trước mt Hi ngh mà mang nhau sang bung riêng, nên không th rõ s minh bch ca nhng phiếu này.”

Nếu người ứng cử được coi là “vô hi”, thì có thể trót lọt khi lấy ý kiến cử tri nơi làm việc và nơi cư trú. Nhưng đừng vội mừng mà hụt, vì khó lòng vượt qua cái ải gọi là “Hi ngh Hip thương ln th ba”. Lần này,

“Hi ngh hip thương căn c vào tiêu chun đi biu Quc hi, cơ cu, thành phn và s lượng đi biu được bu ca cơ quan, t chc, đơn v đa phương đã được U ban thường v Quc hi điu chnh ln th hai và kết qu ly ý kiến c tri đ la chn, lp danh sách chính thc nhng người ng c đi biu Quc hi.” (Điều 43 Luật BCĐBQH 1997, được sửa đổi theo Luật số 31/2001/QH10)

Về cơ bản, vở kịch ứng cử dân chủ kết thúc tại đây. Bởi phần lớn những người tự ứng cử, đã vượt qua mọi thử thách, bây giờ cũng bị loại khỏi vòng chiến. Tại cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII vào năm 2011, trong số 832 ứng viên được đưa vào“danh sách chính thc”, chỉ có 15 người tự ứng cử, chiếm 1,80%. Còn lại một “danh sách chính thc nhng người ng c đi biu Quc hi” với hầu hết là người của “h, dù bỏ phiếu cho ai thì cử tri cũng chỉ thực hiện “quyn t do bu cho h mà thôi.

Sau khi thỏa mãn mọi tiêu chuẩn và đạt được số phiếu cao trong hai cuộc “ly ý kiến c tri”, một số người tự ứng cử đang vững tin là mình sẽ lọt vào danh sách chính thức, nay lại đột nhiên phải chia tay với cuộc thử nghiệm dân chủ, mà không rõ vì sao.

Nhà báo Nguyễn Minh Tuấn, phóng viên báo Đại đoàn kết, thuộc vào số tự ứng cử đại biểu Quốc hội năm 1997 đã rơi vào hoàn cảnh ấy. Khi đó, ông đã được trên 80% phiếu ủng hộ tại Hội nghị cử tri nơi công tác và 100% phiếu ủng hộ tại Hội nghị cử tri nơi cư trú. Vì vậy, như ông tâm sự 10 năm sau,

“Đến vòng Hip thương 3, tôi ch đi, và tin chc tên mình s có trong danh sách ng c viên chính thc, đ đưa ra cuc bu c Quc hi chính thc, vì tôi đã lt qua ‘2 vòng sát hch’ ri. Thế nhưng ít hôm sau, my người bn là đng nghip my t báo bn gi đin đến cho tôi, hi tôi là ‘Ti sao cu li xin t rút lui ra khi danh sách bu c chính thc?’. Tôi rt ngc nhiên, nói là tôi đã tham gia xin t ng c Quc hi, thì sao li xin t rút được. ‘Hi đng bu c h nói thế đy’, mt người bn nói vi tôi.”

Và sau khi cuộc bầu cử Quốc hội kết thúc được khoảng hơn một tháng, ông Nguyễn Minh Tuấn nhận được thư của Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hà Nội, giải thích rằng:

“Do yêu cu v cơ cu, thành phn, và s lượng ĐBQH Khóa 10 ca Hà Ni có hn, nên không th đưa hết các ĐB vào danh sách đ gii thiu ra ng c Đi biu Quc hi được…”

Cứ như thế, số tự ứng cử cứ rụng dần, rồi cuối cùng rơi lả tả như cành hoa đào bị lẳng đi sau khi đã hoàn thành sứ mạng trang trí tết. Lúc kết thúc nhận hồ sơ vào chiều ngày 18/3/2011, Thành phố Hồ Chí Minh có 22 người tự ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XIII. Đến ngày 20/4/2011, sau hiệp thương vòng ba, chỉ 4 người trong số đó được đưa vào danh sách chính thức để bầu đại biểu Quốc hội khóa mới. Cuối cùng,chỉ một người tự ứng cử có tên Hoàng Hữu Phước trúng cử vào Quốc hội khóa XIII. Đó chính là vị hay phát biểu kiểu “bo hoàng hơn vua” tại diễn đàn Quốc hội, khiến dư luận vấn vương với câu hỏi: Không hiểu ông ta có thực sự “t ng c hay không?

Như vậy, chỉ có 4/22 = 18,18% trong số tự ứng cử tại Thành phố Hồ Chí Minh được đưa ra cho cử tri bầu trực tiếp vào năm 2011. Tỷ lệ này khá thấp, nhưng vẫn còn cao hơn hẳn so với kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII vào năm 2007. Khi đó, chỉ có 7 trong số 101 người tự ứng cử tại Thành phố Hồ Chí Minh (chiếm 6,93%) lọt vào “danh sách chính thc nhng người ng c đi biu Quc hi”, và cuối cùng thì không ai trúng cử. Sự gia tăng tỷ lệ “lt vào vòng chung kết” không hẳn bắt nguồn từ tiến bộ dân chủ, mà do số người tự ứng cử đã giảm đi 101/22 = 4,59 lần sau bốn năm. Phải chăng, sụt giảm đó cũng thể hiện nỗi thất vọng đọng lại sau màn bầu cử 2007?

2.3. Bu… “cua trong l

Dân ch bu c ch có th tr thành hin thc nếu công dân có quyn la chn. Trước hết, s ng c phi nhiu hơn hn s cn bu. Nhưng như vậy vẫn chưa đủ! Lựa chọn chỉ thực chất khicông dân có đy đ thông tin cn thiết, để so sánh giữa các ứng cử viên và đối chiếu với mong muốn của bản thân, mà đưa ra quyết định. Không có đủ thông tin mà vẫn lựa vẫn chọn, thì đó chỉ là trò đùa nhân danh dân chủ mà thôi.

Tiếc rằng, các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội ở CHXHCN Việt Nam thường giống như “ngày hi bu… cua trong l. Cử tri hầu như không biết gì về những người mà họ phải bầu, phải chọn. Thậm chí, quá nửa danh sách người ứng cử là những cái tên mà cử tri mới đọc lần đầu khi bước chân vào phòng bỏ phiếu.

Trước ngày bầu cử người ta cũng tổ chức cho những người ứng cử tiếp xúc với cử tri, nhưng chỉ là hình thức, làm cho có. Gọi là tiếp xúc với cử tri, nhưng thường thì chưa đến một phần nghìn cử tri thuộc đơn vị bầu cử được tiếp xúc. Thay vì công bố rộng rãi cho người người đều biết, để bất cứ ai quan tâm cũng có thể đến tham dự, thì lại tiến hành lặng lẽ như thể vụng trộm, chỉ một vòng hẹp “c tri ct cán” nhận được giấy mời. Thay vì tổ chức ở nơi rộng thênh thang, đủ chỗ cho ngàn người chứng kiến, thì lại bố trí phòng họp nhỏ xíu, khiến cử tri “hng hai”muốn đến nghe lỏm cũng khó chen chân. Mà dù có chen được vào, thì sau chút thời gian dành cho cả dàn ứng cử viên đồng diễn, người nghe chẳng hiểu thêm mấy về tính cách và năng lực của mỗi cá nhân.

Một thời gian dài, người ta còn “chu đáo” hướng dẫn cử tri phải bầu ai, gạch ai. Thậm chí, để dễ nhớ, đỡ nhầm lẫn, họ còn xếp những vị cần được bầu lên đầu danh sách ứng cử viên, bất chấp vần ABC. Khổ thân thay mấy vị được đưa vào danh sách, để có người cho cử tri gạch bỏ. Bây giờ “tế nh hơn, nên ít can thiệp thô bạo hơn. Vả lại cũng chẳng cần thiết, vì thường thì tất cả “danh sách chính thc” đều là người của “h, nên dù cử tri bỏ phiếu cho ai thì những người trúng cử cũng là của “h mà thôi.

Vậy là khi bỏ phiếu, nếu không muốn bầu bừa, thì cử tri cũng đành tần ngần trước mấy dòng lý lịch trích ngang… vu vơ như cạm bẫy. Tên tuổi, bằng cấp, chức vụ, danh hiệu, huân huy chương… Những thứ ấy đảm bảo được gì, khi có thể mua hay ngụy tạo? Nếu đọc liệt kê y viên Trung ương ĐCSVN, Bí thư tnh y, Anh hùng Lc lượng vũ trang nhân dân…”, thì bạn có thể yên tâm bầu người ấy vào Quốc hội hay không? Song chưa biết chừng đó lại là lý lịch trích ngang của ai đó giông giống Hồ Xuân Mãn, loại được lãnh đạo tối cao hết mực tin tưởng và cất nhắc, nhưng lại bị đồng đội tố cáo là man trá… Thế thì còn biết làm gì, ngoài việc tặc lưỡi chọn bừa mấy cái tên trong danh sách do nhà cầm quyền ấn định? Dân chủ xã hội chủ nghĩa là như vậy sao?

2.4. Nét hài màn chót

Cử tri thông thường chẳng thể biết rõ việc kiểm phiếu có trung thực hay không, nên đối với họ thì vở bầu cử dân chủ kết thúc ở màn bỏ phiếu.

Mặc dù Điều 57 Luật BCĐBQH 1997 quy định rõ ràng, rằng “vic b phiếu bt đu t by gi sáng đến by gi ti”, nhưng mới sáng sớm chủ nhật tổ bầu cử đã phái người tới mọi ngõ ngách, giục giã cử tri đi bầu cử. Rồi gọi điện thoại nhắc nhở, khiến cử tri chưa đi bỏ phiếu chưa yên. Ấy là cuộc đua, xem tổ nào bầu xong sớm hơn. Những vị cao niên bỗng trở nên hiếu thắng như trẻ thơ. Quá hồn nhiên, họ tưởng rằng mình đang thực thi trọng trách nên có quyền hối thúc, mà quên rằng bao người dân vẫn phải hàng ngày lo chuyện làm ăn, kiếm sống… Có người đang phải ngủ bù vì vừa qua ca làm đêm. Có người phải hối hả vào bệnh viện chăm sóc người thân. Đâu phải ai ai cũng thênh thang thời gian như mấy cụ về hưu, có thể chủ động ngủ sớm dậy sớm để tham gia “ngày hi ln”. Do muốn đạt thành tích xong sớm, người ta chấp nhận một người bỏ phiếu thay cho cả nhà, mặc dù Điều 58 Luật BCĐBQH 1997 (được sửa đổi theo Luật số 63/2010/QH12)quy định rằng “C tri phi t mình đi bu, không được nh người khác bu thay…”. Lẽ ra phải tổ chức bầu cử một cách nghiêm túc và tôn trọng quyền tự do của công dân, thì họ lại biến bầu cử thành trò chơi, như thể thi đua dành phiếu bé ngoan.

Cầm lá phiếu trên tay, cử tri lúng túng với câu hỏi bầu ai gạch ai. Nhưng còn lúng túng hơn khi tặc lưỡi bầu, mà chẳng biết làm sao cho khỏi bị lộ, bởi bàn viết phiếu cứ tênh hênh giữa bao người chen chúc. Vai chạm vai, mắt chạm mắt, chỉ vô tình cũng thấy rõ lá phiếu của vị kế bên, huống hồ kẻ rắp tâm theo dõi. Cái tay đeo kính râm có phải là mật vụ không? Phải chăng gã lấc láo kia là tay chân của ứng cử viên mà mình định gạch? Thực hiện quyền bầu cử của công dân, mà cứ phải lấm lét như vụng trộm. Gọi là “b phiếu kín”, nhưng chỉ kín khi phiếu đã nằm yên trong thùng. Còn lúc viết phiếu bầu thì khó lòng mà kín nổi, khi không có ca bin hay màn che chắn, để từng cử tri có thể viết phiếu một cách kín đáo. Ngay cả nơi bầu cử đặt tại các cơ quan trung ương giữa lòng Thủ đô Hà Nội cũng thế, nói gì đến nơi rừng rú xa xôi. Thuở xa xưa còn thiếu thốn, dốt nát đã đành. Giờ bước sang thế kỷ 21 đã quá mười năm, mà “b phiếu kín” ở xứ này vẫn chẳng kín được như ở xứ người mấy mươi năm trước. Cổ hủ mãi như vậy là “bi” hay là “hài”?

  1. Căn nguyên t lut

Trong phần 2, ta đã phác qua mấy nét ký họa đặc tả hình hài dân chủ của bầu cử ở CHXHCN Việt Nam. Nói chung, chẳng cần tìm cội nguồn đâu xa, bởimc đ dân ch trong bu c là th hin tương ng trng thái dân ch ca chế đ. Tuy nhiên, trong phần này, ta sẽ đề cập đến mấy căn nguyên từ luật.

Vì lý do thời sự, nhằm khẳng định căn nguyên từ luật sẽ gây ra ảnh hưởng xấu tới cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và các kỳ bầu cử tiếp theo, ta sẽ xem xét Luật BCĐBQH 2015. Phòng ngừa ngụy biện, rằng luật mới thông qua giữa năm 2015 không thể ảnh hưởng đến các cuộc bầu cử trước đó, ta sẽ chỉ ra rằng những căn nguyên ấy cũng đã tồn tại trong Luật BCĐBQH 1997, được Quốc hội khóa IX thông qua năm 1997, được Quốc hội khóa X sửa đổi năm 2001 bởi Luật số 31/2001/QH10 và được Quốc hội khóa XII sửa đổi năm 2010 bởi Luật số 63/2010/QH12.

Sẽ quá dài nếu phân tích tất thảy mọi điều phi lý, nên ta chỉ tập trung vào mấy điều khoản vi hiến của Luật BCĐBQH 1997 và Luật BCĐBQH 2015. Và để chứng tỏ tính vi hiến, ta cũng chỉ tham chiếu một điều khoản trong Hiến pháp, đó là:

“Vic bu c đi biu Quc hi và đi biu Hi đng nhân dân được tiến hành theo nguyên tc ph thông, bình đng, trc tiếp  b phiếu kín.”

Nội dung này đã được hiến định tại Điều 7 Hiến pháp 1992 và được tiếp tục duy trì tại Điều 7 Hiến pháp 2013. Cho nên, nếu điều khoản nào của Luật BCĐBQH 1997 hay Luật BCĐBQH 2015 vi phạm một trong bốn nguyên tắc trên, thì nó vi hiến so với cả Hiến pháp trước đây lẫn Hiến pháp hiện hành.

3.1. Kín… tênh hênh

Đầu tiên ta thảo luận về nguyên tắc cuối cùng, đó là“b phiếu kín”. Vì sao? Bởi đó là nguyên tắc mà nhà cầm quyền dễ chấp nhận nhất và cũng dễ thực hiện nhất. Thành thử, nếu nguyên tắc đơn giản ấy mà còn bị phớt lờ, thì đừng ngạc nhiên về số phận của ba nguyên tắc kia. Câu hỏi then chốt là: Phải làm sao để đảm bảo nguyên tắc “b phiếu kín” và ai có trách nhiệm thực thi?

Điều 60 Luật BCĐBQH 1997 quy định rằng: “Khi c tri viết phiếu bu, không ai được đến xem, k c thành viên T bu c.” Câu này được nhắc lại nguyên văn tại Khoản 5, Điều 69 của Luật BCĐBQH 2015. Ngoài nó ra, không còn tồn tại điều khoản luật định nào khác liên quan đến nguyên tắc “b phiếu kín”.

Đọc qua thì tưởng là rất hợp lý, song nghĩ kỹ lại thấy quy định ấy chứa những nét hài hước. Khi nhiều cử tri phải cùng chụm đầu quanh một cái bàn nhỏ để viết phiếu, hay phải đứng sau lưng người đang viết phiếu để đợi đến lượt mình, thì chỉ còn nước nhắm mắt mới đảm bảo chẳng nhìn thấy lá phiếu của người khác. Hơn nữa, không chỉ người đang đứng gần, mà cả người đứng từ xa cũng dễ dàng quan sát trạng thái lá phiếu, thậm chí có thể dùng cả camera để ghi lại toàn bộ quá trình cử tri viết phiếu, khi bàn để viết phiếu được đặt tênh hênh giữa phòng, không hề được che chắn. Vậy thì cần gì phải mất công “đến” mà “xem”? Cứ như thể ép bao người phải tụ họp trong trạng thái khỏa thân, rồi quy định rằng không ai được nhìn vào vùng kín… tênh hênh của người khác, nhằm chứng tỏ phía tổ chức rất tôn trọng bí mật riêng tư.

Giữ bí mật nội dung lá phiếu của bản thân là quyền, chứ không phải là trách nhiệm của cử tri. Vì vậy, chẳng lạ nếu cử tri nào đó không có nhu cầu giữ bí mật, mà ngược lại còn muốn khoe với người thân hay bạn bè, rằng mình bầu ai gạch ai. Khi đó, chỉ cần nghe đã biết, thì cấm “xem” phỏng có ích gì? Cũng thường tình nếu cử tri đem theo con nhỏ tới nơi bỏ phiếu. Hiển nhiên, bố mẹ đi đâu thì đứa trẻ cũng “đến” đó, và khi bố mẹ viết phiếu bầu thì đứa trẻ cũng có thể “xem”, cho dù đã biết đọc hay chưa. Vậy thì tại sao luật lại áp đặt “không ai được đến xem” cả trong những hoàn cảnh như vậy?

Kiểu quy định trách nhiệm đơn phương “không ai được đến xem” lặp lại một lối tư duy đặc trưng của giới cầm quyền tự nhận là “đy t ca dân”. Đó là lẩn tránh trách nhiệm của chính quyền và đổ dồn trách nhiệm lên phía người dân. Một ví dụ điển hình của kiểu tư duy này là chuyện xử phạt mũ bảo hiểm xe máy. Lẽ ra, chính quyền có tránh nhiệm kiểm soát và quản lý thị trường, sao cho mũ bảo hiểu không đảm bảo chất lượng không được bày bán ở cứ nơi nào trên lãnh thổ Việt Nam. Và nếu người dân mua phải mũ “rm”, thì họ có quyền kiện và yêu cầu chính quyền phải bồi thường. Song chính quyền lại để mặc cho mũ “rm” được công khai bày bán nơi nơi, rồi quy định xử phạt những người mua phải mũ “rm”. Tương tự như vậy, lẽ ra Quốc hội phải quy định trong Luật BCĐBQH, rằng các cơ quan t chc bu c phi thiết lp nơi bu c sao cho người khác không th đc được phiếu bu ca c tri. Song Quốc hội lại bỏ qua trách nhiệm đó, mà luật định rằng người khác không được đc, và thản nhiên như thể đã làm tròn nhiệm vụ lập pháp.

Để người khác không đọc được phiếu bầu của cử tri, thì Luật bầu cử cần và chỉ cần quy định hết sức đơn giản. Chẳng hạn, Luật bầu cử của CHLB Đức quy định tại Điều 33 như sau:

“Phi tiến hành các bin pháp phòng nga sao cho c tri có th đin và gp phiếu bu mà không b quan sát.”

Đó là trách nhiệm của cơ quan tổ chức bầu cử. Còn đối với phía cử tri, để đảm bảo bí mật nội dung lá phiếu, Luật bầu cử của CHLB Đức hướng dẫn tại Điều 34 như sau:

“Sau đó c tri gp lá phiếu, sao cho người khác không th nhn biết ý kiến bu c ca mình, và b vào thùng phiếu.”

Rõ ràng, nếu đã đảm bảo “c tri có th đin và gp phiếu bu mà không b quan sát” thì chẳng cần phải quy định thêm “không ai được đến xem”. Ngược lại, nếu cử tri “b quan sát” (từ xa, bằng mắt hay thông qua camera) lúc đang điền phiếu bầu, thì dù “không ai được đến xem” cũng chẳng giữ nổi bí mật nội dung lá phiếu. Hơn nữa, dù không bị quan sát lúc viết phiếu, nhưng nếu cử tri không gấp phiếu cẩn thận, mà cầm trên tay lá phiếu mở lộ nội dung và đi từ nơi viết phiếu đến thùng phiếu, rồi bỏ nó vào thùng phiếu có vách trong suốt, thì mọi biện pháp bảo mật tại nơi viết phiếu đều là vô ích. Và lúc đó, cử tri không thể đổ lỗi cho phía tổ chức bầu cử hay những người khác.

Trên thực tế, có thể dễ dàng thiết lập những khoang bầu cử, để từng cử tri có thể tới đó viết phiếu bầu một cách kín đáo (xem Phụ lục 1).

Về lý mà nói, Luật BCĐBQH 1997 và Luật BCĐBQH 2015 không cấm các khu vực bầu cử thiết lập khoang bầu cử. Nếu có đủ khả năng tư duy và có đủ tinh thần trách nhiệm (trước cử tri và Hiến pháp), thì những người tổ chức bầu cử vẫn có thể chủ động nghĩ ra và tiến hành các biện pháp che chắn cần thiết nhằm đảm bảo bí mật khi cử tri viết “phiếu kín”. Nhưng tiếc thay, sau mấy mươi năm sống dưới chế độ “do Nhân dân làm ch, các chủ nhân đã bị thụ động hóa tột cùng, đến mức chỉ còn hành động như những rô-bốt, chỉ có thể làm và chỉ dám làm theo lập trình của đấng bề trên. (Phải chăng, đó chính là chủ đích và bí quyết cai trị của giới cầm quyền?) Hệ quả là, dù Hiến pháp đã quy định rõ ràng vẫn chưa dám thực hiện và cũng chưa được phép thực hiện, mà còn phải đợi Quốc hội ban hành luật. Và dù có luật rồi thì vẫn phải tiếp tục đợi nghị định, thông tư… hướng dẫn. Vậy thì làm sao có thể trông chờ các rô-bốt tổ chức bầu cử dám chủ động nghĩ ra biện pháp để thực thi bầu cử theo đúng tinh thần của Hiến pháp?

Cho nên, trong hoàn cảnh xã hội bị rô-bốt hóa triệt để, cơ quan lập pháp có trách nhiệm ban hành các quy định pháp luật nhằm đảm bảo cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội có thể diễn ra một cách hợp hiến, tức là đáp ứng đầy đủ bốn nguyên tắc hiến định. Ít nhất, chính Quc hi phi quy đnh c th trong Lut BCĐBQH ni dung b máy t chc bu c “phi tiến hành các bin pháp phòng nga sao cho c tri có th đin và gp phiếu bu mà không b quan sát”. Không thể phó mặc cho bộ máy hành pháp, lúc thì quy định lúc thì không. Cũng không thể bắt các cấp thực thi phải mày mò tìm kiếm, xem có văn bản hướng dẫn nào đã được ban hành trong quá khứ nhưng vẫn còn hiệu lực, rồi xem có văn bản hướng dẫn nào mới được sinh ra, và còn phải phân vân với câu hỏi: Văn bản mới đã đề cập đầy đủ mọi điều cần thiết chưa, hay vẫn phải bổ sung thêm một số nội dung từ văn bản cũ (xem Phụ lục 2)?

Vì lẽ đó, vic Quc hi không quy đnh trong Lut BCĐBQH yêu cu phi trin khai bin pháp cn thiết nhm đm bo nguyên tc “b phiếu kín” có th coi là mt hành vi vi phm Hiến pháp. Đặc biệt, một khi đã viết rõ trong phần mở đầu của Luật BCĐBQH 1997, rằng “Lut này quy đnh vic bu c đi biu Quc hi”, mà vẫn không quy định phi trin khai bin pháp cn thiết nhm đm bo nguyên tc “b phiếu kín”, thì càng có thể coi là vi hiến.

Cử tri đã phải chịu cảnh bầu cử kín… tênh hênh suốt bẩy thập kỷ, vậy mà Quốc hội vẫn không nhận ra điều bất cập, và sau năm lần thay đổi Luật bầu cử vẫn không bổ sung quy định cụ thể để khắc phục. Điều đó chứng tỏ hạn chế về trình độ lập pháp của Quốc hội, chứ không thể đổ hết trách nhiệm cho các cơ quan hành pháp và các cấp thực thi.

3.2. Trc tiếp… ngây ngô

Để thể hiện nguyên tắc “bu c trc tiếp”Điều 58 Luật BCĐBQH 1997 quy định như sau:

“C tri phi t mình đi bu, không được bu bng cách gi thư, tr nhng trường hp quy đnh ti Điu 59 ca Lut này.”

Và nội dung Điều 59 là:

“C tri không th t viết được phiếu bu thì nh người khác viết h, nhưng phi t mình b phiếu; người viết h phi bo đm bí mt phiếu bu ca c tri; nếu c tri vì tàn tt không t b phiếu được thì nh người khác b phiếu vào hòm phiếu.”

“Trong trường hp c tri m đau, già yếu, tàn tt không th đến phòng b phiếu được thì T bu c mang hòm phiếu ph và phiếu bu đến ch ca c tri đ c tri nhn phiếu và bu.”

Các nội dung trên cũng được đưa vào Điều 69 của Luật BCĐBQH 2015, song bỏ đi mệnh đề “không được bu bng cách gi thư. Đặc biệt, nội dung thứ hai trong Điều 59 của Luật BCĐBQH 1997 được mở rộng như sau:

“4. Trong trường hp c tri m đau, già yếu, khuyết tt không th đến phòng b phiếu được thì T bu c mang hòm phiếu ph và phiếu bu đến ch , ch điu tr ca c tri đ c tri nhn phiếu bu và thc hin vic bu c. Đi vi c tri là người đang b tm giam, người đang chp hành bin pháp đưa vào cơ s giáo dc bt buc, cơ s cai nghin bt buc mà tri tm giam, cơ s giáo dc bt buc, cơ s cai nghin bt buc không t chc khu vc b phiếu riêng hoc c tri là người đang b tm gi ti nhà tm gi thì T bu c mang hòm phiếu ph và phiếu bu đến tri tm giam, nhà tm gi, cơ s giáo dc bt buc, cơ s cai nghin bt buc đ c tri nhn phiếu bu và thc hin vic bu c.”

Nghĩa là bổ sung thêm yêu cầu “T bu c mang hòm phiếu ph và phiếu bu đến… ch điu tr ca c tri” và “đến tri tm giam, nhà tm gi, cơ s giáo dc bt buc, cơ s cai nghin bt buc”. Chu đáo đến thế là cùng, phải không?

Tiếc rằng, chu đáo kiểu ấy thì ngây ngô, vì không khả thi. Chỗ điều trị của các cử tri đang đau ốm có thể rất phân tán, ở nhiều bệnh viện khác nhau và có thể ở xa cả ngàn km. Vậy thì bắt buộc “T bu c mang hòm phiếu ph và phiếu bu đến…” tất cả các“ch điu tr đó hay sao? Tương tự, cử tri có thể bị tạm giam hay đưa vào cơ sở giáo dục hoặc cai nghiện ở nhiều địa điểm khác nhau. Hơn nữa, để tăng cường “tác dng giáo dc” đối với cả đương sự lẫn người nhà, nơi giam giữ thường được bố trí tại những nơi “kh ho cò gáy” cách rất xa nơi cư trú của đương sự. Vậy Tổ bầu cử buộc phải bươn trải viếng thăm một loạt trại giam xa xôi hẻo lánh, rải khắp đất nước, hay sao?

Nguyên nhân khiến bộ máy tổ chức bầu cử phải lang thang lưu lạc đó đây là các nhà lập pháp đã hiểu sai lệch nguyên tắc “bu c trc tiếp”. Họ đinh ninh rằng đã “bu c trc tiếp” thì “c tri phi t mình đi bu”, tức là bản thân cử tri phải đến phòng bỏ phiếu, rồi tự tay viết phiếu và bỏ vào thùng phiếu. Đương nhiên, không phải cử tri nào cũng có thể tự tay viết phiếu và bỏ vào thùng. Vậy là buộc phải chấp nhận ngoại lệ, cho phép người khác viết hộ phiếu hay bỏ hộ phiếu vào thùng. Chưa đủ, còn có những cử tri bị đau ốm, không thể đến phòng bỏ phiếu. Vậy là quy định Tổ bầu cử mang hòm phiếu và phiếu bầu đến tận nhà. Song lại có những người bệnh không nằm điều trị ở nhà. Thế thì Tổ bầu cử phải tới cả bệnh viện…

Cứ thế, chuỗi ngoại lệ cứ dài dần, song không bao giờ đủ. Giống như cảnh dùng vải mục may quần, rồi cố gắng vá víu cho kín mọi bề, nhưng càng vá thì càng rách, và dù cố đến đâu thì cuối cùng cũng chỉ thu được kết quả kín đáo kiểu đóng khố mà thôi. Đáng nói là bế tắc nảy sinh ngày càng nhiều và càng khó xử lý hơn, thậm chí không thể xử lý được. Ví dụ: Nếu công dân đang điều trị tại một bệnh viện ở nước ngoài (giống như trường hợp Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh điều trị ở Pháp) thì Tổ bầu cử sẽ làm sao? Tất nhiên là… tịt.

Quá trình vá víu bất tận và vô vọng kể trên sẽ dễ dàng biến mất, nếu chấp nhận thực hiện hình thức“bu bng cách gi thư. Song Điều 58 Luật BCĐBQH 1997 lại quy định thẳng thừng, rằng“không được bu bng cách gi thư. Tuy Luật BCĐBQH 2015 không nhắc lại mệnh đề cấm đoán ấy, nhưng nó cũng không đưa ra bất cứ cơ chế hay biểu hiện nào cho phép “bu bng cách gi thư, nghĩa là vẫn không được thực hiện. Tại sao lại nhất quyết là không? Nếu chấp nhận cho những cử tri đau ốm hay tàn tật được nhờ người khác bỏ hộ phiếu vào thùng, thì tại sao lại không chấp nhận cho những công dân ở xa nhờ bưu điện làm hộ việc đó? Vì nhân viên bưu điện không đáng tin cậy ư? Tại sao có thể tin tưởng vào đạo đức và nghiệp vụ của mấy vị nghiệp dư, năm năm mới tham gia tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội một lần; nhưng lại không thể tin tưởng bộ máy bưu điện chuyên nghiệp, vốn thường xuyên phải nghiêm ngặt tuân thủ quy định pháp luật về bí mật thư tín?

Cần nhấn mạnh rằng: Hình thức “bu bng cách gi thư hoàn toàn không mâu thuẫn với nguyên tắc“bu c trc tiếp”. Chính vì vậy, một số nước, chẳng hạn như CHLB Đức, vừa luật định nguyên tắc “bu c trc tiếp”, vừa luật định hình thức “bu bng cách gi thư. Gần đây, trong cuộc bầu cử Quốc hội CHLB Đức năm 2013, có tới 10.758.677 cử tri (chiếm 24,3%) sử dụng hình thức “bu bng cách gi thư. Cho nên, nếu dựa vào nguyên tắc “bu ctrc tiếp” để khước từ hình thức “bu bng cách gi thư thì quả là ngây ngô.

3.3. Trc tiếp… vi hư

Bầu cử là một thể hiện dân chủ, nhưng chưa chắc đã là dân chủ tuyệt đối, thậm chí có thể chỉ là dân chủ nửa vời, hay dân chủ giả tạo.

Để đảm bảo độ “an toàn” (theo một nghĩa tử tế hay tệ hại nào đó), phía tổ chức bầu cử có thể tiến hành bầu cử qua một hay mấy bước trung gian. Ví dụ, ở Mỹ cử tri bình thường chỉ có thể tham gia trực tiếp bầu ra Hội đồng các đại cử tri (Electoral College), rồi các đại cử tri thuộc Hội đồng ấy mới bầu ra Tổng thống. Nghĩa là công dân Mỹ chỉ bầu Tổng thống một cách gián tiếp thông qua các đại cử tri. Ở Việt Nam, đảng viên ĐCSVN họp chi bộ để bầu ra đại biểu đi dự đại hội đảng bộ trực thuộc, đại hội cấp hai ấy lại bầu ra đại biểu đi dự đại hội cấp quận huyện, đại hội cấp ba bầu ra đại biểu đi dự đại hội cấp tỉnh thành, rồi đại hội cấp bốn mới bầu ra đại biểu đi dự đại hội cấp toàn quốc. Cuối cùng thì đại hội cấp toàn quốc cũng chỉ được bầu ra Ban chấp hành Trung ương, rồi Ban chấp hành Trung ương mới bầu ra Tổng Bí thư ĐCSVN. Xét về hình thức thì có thể coi là đảng viên ở cơ sở đảng cũng tham gia bầu Tổng Bí thư, nhưng chỉ gián tiếp qua năm tầng đại diện trung gian. Về thực chất thì  sự tham gia của đảng viên ở cơ sở đảng chỉ có tác dụng trang điểm dân chủ, chứ không hề đóng vai trò nào trong việc bầu ra Tổng Bí thư. Cách bầu như trong hai ví dụ vừa nêu được gọi là “bu c gián tiếp” (indirect election). Hình thức bầu cử này thường được áp dụng trong những trường hợp mà phía tổ chức không yên tâm với trình độ chung của lực lượng tham gia bầu cử, hay khi phía tổ chức muốn tăng cường khả năng thao túng của mình đối với kết quả bầu cử, hay đơn giản là vì tuân theo truyền thống lịch sử, hoặc không cần thiết phải làm khác đi.

Ngược lại với hình thức “bu c gián tiếp” là “bu ckhông gián tiếp”, tc bu c không qua bt c khâu trung gian nào. Nó thường được gọi là “bu c trc tiếp” (direct election). Dưới hình thức bầu cử này,cử tri (tức những người tham gia bầu) lựa chọn trực tiếp trong số các cá nhân hay tổ chức ứng cử, để quyết định mình bầu cho ai hay tổ chức nào, nhằm có được kết quả bầu cử cuối cùng. Tức là quyết định bầu ai không được thực hiện bởi các tầng lớp trung gian (như đại cử tri hay người đại diện). Không thế lực nào (kể cả Hội đồng bầu cử quốc gia, Mặt trận Tổ quốc, hay một nhóm nhỏ cử tri) được phép đứng ra cản trở hay tác động vào quyết định bầu ai của cử tri. Đặc biệt, không thể chấp nhận kiểu sơ tuyển, thường được gọi “hip thương”, nhằm gạt bớt những người tự ứng cử độc lập. Cử tri phải là người đưa ra tiếng nói đầu tiên và cũng là tiếng nói quyết định cuối cùng đối với từng người ứng cử.

Dù là bầu cử gián tiếp hay trực tiếp, luôn tồn tại những phương thức tiến hành bầu cử khác nhau để cử tri thể hiện quyết định bầu ai. Nếu chọn phương thức bầu cử thông dụng nhất, là bỏ phiếu tại những nơi bầu cử, thì cử tri có thể tiếp xúc trực tiếp với hai dụng cụ bầu cử đặc trưng là lá phiếu và hòm phiếu. Nhưng nếu chọn phương thức “bu bng cách gi thư thì đương nhiên cử tri không cần và cũng không thể tiếp xúc trực tiếp với hòm phiếu. Còn khi chọn phương thức bầu cử bằng máy thì cử tri chỉ tiếp xúc với máy, chứ không tiếp xúc trực tiếp với lá phiếu bầu nữa. Thậm chí, nếu chọn phương thức giơ tay biểu quyết thì chẳng cần có dụng cụ nào để cử tri phải tiếp xúc trực tiếp cả.

Qua đó ta thấy: Không th coi vic tiếp xúc trc tiếp vi dng c phc v mt phương thc bu c c th nào đó là biu hin bt buc ca nguyên tc bu c “trc tiếp”, nhất là khi luật bầu cử cho phép sử dụng những phương thức bầu cử khác nhau. Nếu quan niệm việc cử tri phải tự mình viết phiếu và bỏ nó vào thùng phiếu là thể hiện bắt buộc cử bầu cử “trc tiếp”, thì cũng không thể chấp nhận những trường hợp phải nhờ người khác viết hộ hay bỏ hộ lá phiếu vào thùng phiếu. Khi đó, không thể dùng nguyên tắc bầu cử “ph thông” để biện hộ cho các trường hợp ngoại lệ, bởi vì nguyên tắc ấy chỉ đảm bảo quyền bầu cử của những công dân có ý muốn và có đủ khả năng tham gia bầu cử.

Thông thường, nếu quy định cử tri phải tự mình viết phiếu và bỏ nó vào thùng phiếu, hay không chấp nhận “bu bng cách gi thư, thì lý do chính đáng không phải là để thực hiện nguyên tắc bầu cử “trc tiếp”, mà để đảm bảo tính đích thực (rằng lá phiếu đúng là của một người có quyền tham gia bỏ phiếu), để hạn chế tiêu cực, để thực thi nguyên tắc bình đẳng (mỗi người chỉ thể hiện quan điểm của mình thông qua một lá phiếu có giá trị bình đẳng với các lá phiếu khác), và để đảm bảo bí mật trong bầu cử.

Như vậy, t “trc tiếp” trong thut ng “bu c trc tiếp” được dùng đ th hin mi quan h bu c gia c tri và nhng người ng c, ch không th hin mi quan h gia c tri vi các dng c phc v mt phương thc bu c c th nào đó. Dù đích thân cử tri Mỹ trực tiếp viết phiếu và bỏ nó vào thùng phiếu thì cuộc bầu cử Tổng thống ở Mỹ vẫn là bầu cử gián tiếp. Và dù rất nhiều cử tri Đức tham gia bầu bằng cách gửi thư thì cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội ở Đức vẫn là bầu cử trực tiếp.

Tiếc rằng, trong giới cầm quyền và giới luật gia Việt Nam lại phổ biến một cách hiểu ngược lại. Chẳng hạn, tài liệu “Mt s kiến thc pháp lut v quyn con người – Dành cho giáo viên dy môn Giáo dc công dân, môn Pháp lut” (Tập 1) của Vụ Phổ biến, Giáo dục Pháp luật thuộc Bộ Tư pháp (Nhà xuất bản Pháp luật 2012) viết rằng:

“Nguyên tc bu c trc tiếp đòi hi c tri không được nh người bu h, bu thay hoc bu bng cách gi thư.”

Nghĩa là, quan h trc tiếp gia người vi người đã b hiu nhm thành quan h trc tiếp gia người vi đ vt. Thành thử, Luật BCĐBQH 1997 và Luật BCĐBQH 2015 đã dành rất nhiều câu chữ để quy định về việc cử tri phải trực tiếp viết phiếu rồi bỏ nó vào hòm phiếu, và lúng túng gỡ rối đống bòng bong ngoại lệ, mà càng gỡ thì lại càng rối. Trong khi đó, hai luật ấy lại x lý sai mi quan h bu c trc tiếp gia c tri và nhng người ng c.

Cần thấy rằng: Quan h bu c trc tiếp phảihin din gia mi c tri và mi người ng c. Xét từ góc độ của cử tri, quan h bu c trc tiếpcó nghĩa là mi c tri đu trc tiếp la chn t tp hp toàn th nhng người ng c ti đơn v bu c ca mình. Ngược lại, xét từ góc độ của người ứng cử, quan h bu c trc tiếp có nghĩa là mi người ng c đu có quyn được hưởng và ch phi chu s đánh giá la chn trc tiếp ca tp hp toàn th c tri thuc đơn v bu c ca mình.

Rõ ràng, đi vi bu c trc tiếp, không tn ti bt c thế lc nào có tư cách chính đáng đ đng ra hn chế phm vi tp hp toàn th ca các c tri hay tp hp toàn th ca nhng người ng c. Nếu cử tri chỉ được bầu chọn một phần nhỏ của tp hp toàn th những người ứng cử tại đơn vị bầu cử của mình, hay nếu người ứng cử chỉ được hay phải chịu sự phán chọn của một phần nhỏ của tp hp toàn th cử tri thuộc đơn vị bầu cử của mình, thì tức là có thế lực xông vào chiếm lĩnh vai trò trung gian, đứng ra cắt xén và phá vỡ tính toàn vẹn của mối quan hệ trực tiếp với tp hp toàn th. Điều đó đương nhiên là vi phạm nguyên tắc bầu cử “trc tiếp”.

Lưu ý rằng, sự lựa chọn của tp hp toàn th cử tri đối với những người ứng cử đại biểu Quốc hội chỉ có thể thực hiện thông qua lá phiếu của các cử tri trong ngày bầu cử Quốc hội. Tài liệu “Mt s kiến thc pháp lut v quyn con người – Dành cho giáo viên dy môn Giáo dc công dân, môn Pháp lut”(đã dẫn ở trên) viết rằng:

“Bu c trc tiếp, có nghĩa là công dân trc tiếp th hin ý chí ca mình qua lá phiếu, công dân trc tiếp bu ra đi biu ca mình ch không qua mt cp đi din c tri nào.”

Tức là cử tri chỉ được “th hin ý chí ca mình qua lá phiếu, đương nhiên là b ti đa đim b phiếu trong ngày bu c. Không thể chấp nhận việc một nhóm nhỏ cử tri sử dụng võ miệng tấn công người ứng cử tại cái gọi là “Hi ngh c tri”, hòng loại bỏ những người tự ứng cử ra khỏi danh sách ứng cử, tiếp diễn trò đấu tố đã từng hoành hành trong cải cách ruộng đất.

Tp hp toàn th nhng người ng c bao gồm hai dạng. Dạng thứ nhất là những người được các tổ chức chính trị đề cử. Dạng thứ hai là những người tự ứng cử. Ở đây ta không thảo luận về cơ chế mà các tổ chức chính trị áp dụng để chọn người đưa vào danh sách đề cử của họ, bởi đó là chuyện nội bộ của các tổ chức ấy. Điều đáng quan tâm là số phận của những người tự ứng cử. Họ là ai? Nói chính xác hơn: Những ai thuộc vào diện tự ứng cử để cho cử tri lựa chọn trong ngày bầu cử? Đương nhiên, những người đó phải chính thức đăng ký ứng cử và tha mãn nhng tiêu chun pháp quy hp hiến có th d dàng xác đnh mt cách chính xác.

Cần nhấn mạnh tính pháp quy hp hiến, vì không thể dùng những quy định pháp luật vi hiến để cản trở công dân thực hiện quyền hiến định. Ví dụ: Điều 3 Luật BCĐBQH 2015 quy định “người ng c đi biu Quc hi phi đáp ng các tiêu chun ca đi biu Quc hi quy đnh ti Lut t chc Quc hi”. Trong khi đó, Điều 22 Luật tổ chức Quốc hội quy định rằng đại biểu Quốc hội phải “có trình đ văn hóa”. Và như vậy, giả sử Hiến pháp 1992 còn có hiệu lực, thì Điều 3 Luật BCĐBQH 2015 sẽ trở nên vi hiến, vì Điều 54 Hiến pháp 1992 quy định rằng“công dân, không phân bit trình đ văn hoá… đ hai mươi mt tui tr lên đu có quyn ng c vào Quc hi”. Song, căn cứ vào Hiến pháp hiện hành thì Điều 3 Luật BCĐBQH 2015 không còn bị vi hiến như vậy nữa, bởi vì Điều 27 Hiến pháp 2013 đã gạch bỏ mệnh đề “không phân bit… trình đ văn hoá”.

Hơn nữa, chỉ có thể đòi hỏi người ra ứng cử phải đáp ứng nhng tiêu chun pháp quy có th d dàng xác đnh mt cách chính xác. Vì nếu không hạn chế trong phạm vi những tiêu chuẩn như vậy, thì ai sẽ là người có đủ khả năng và tư cách để phán xét, xem đương sự có đáp ứng hay không? Chẳng hạn, có thể căn cứ vào giấy khai sinh để xác định xem đương sự đã đủ 21 tuổi trở lên hay chưa. Hay căn cứ vào bằng tốt nghiệp để xác định xem đương sự đã tốt nghiệp phổ thông hay chưa. Luật Bầu cử CHLB Đức (Điều 20) chỉ đưa ra một tiêu chuẩn bắt buộc duy nhất đối với những người tự ứng cử, là phải xuất trình chữ ký ủng hộ của ít nhất 200 cử tri ở cùng đơn vị bầu cử, bởi vì đó là tiêu chuẩn có thể kiểm chứng dễ dàng. Nói chung, nhng tiêu chun kiu này phi mang tính đnh lượng và được th hin rõ ràng trên giy t. Còn những tiêu chuẩn định tính thì không ai có thể xác định một cách tuyệt đối khách quan và chính xác.

Tiếc rằng, tất cả các tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội được quy định tại Điều 22 của Luật Tổ chức Quốc hội (số 57/2014/QH13, do Quốc hội khóa XIII ban hành 20/11/2014) đều thuộc loại lơ mơ, dễ nắm bắt… như lươn. Chẳng hạn:

“1. Trung thành vi T quc, Nhân dân và Hiến pháp…”

“2. Có phm cht đo đc tt, cn, kim, liêm, chính, chí công vô tư, gương mu chp hành pháp lut; có bn lĩnh, kiên quyết đu tranh chng tham nhũng…”

“3. Có trình đ văn hóa, chuyên môn, có đ năng lc, sc khe, kinh nghim công tác và uy tín đ thc hin nhim v đi biu Quc hi.”

Than ôi, biết làm sao để cân đo đong đếm lòng trung thành với Tổ quốc? Thỏa thuận Thành Đô thể hiện lòng trung thành với Tổ quốc nào? Suốt mấy chục năm ròng ngăn cấm việc trình bày sự thật lịch sử của cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc trong sách giáo khoa, cản trở các thế hệ sinh sau đẻ muộn tìm hiểu một trong những chương quan trọng nhất của lịch sử đấu tranh bảo vệ Tổ quốc. Cái thế lực ngăn cấm, cản trở ấy có trung thành với Tổ quốc hay không? Suốt mấy nhiệm kỳ liên tiếp, Quốc hội đều phớt lờ việc sách giáo khoa tránh nhắc tới cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974, trận đánh Gạc Ma bảo vệ Trường Sa năm 1988… Rồi phớt lờ cả việc chính quyền cản trở, đàn áp những công dân tham gia tưởng niệm các đồng bào và chiến sĩ đã hy sinh. Điều đó có chứng minh lòng trung thành với Tổ Quốc của tất thảy đại biểu Quốc hội hay không?

Một Quốc hội bất chấp nguyện vọng đích thực của Nhân dân, hiến định thể chế xã hội chủ nghĩa đã lụn bại từ lâu, hiến định vô điều kiện quyền lãnh đạo vĩnh viễn của ĐCSVN, phủ định cả quyền sở hữu của người dân đối với đất đai đã được khai hoang và thừa kế từ bao đời, thì có thể coi là trung thành với Nhân dân hay không?

Một Quốc hội từng thông qua bao điều luật vi hiến, thậm chí 97,59% tổng số đại biểu Quốc hội đã biểu quyết tán thành thông qua một Hiến pháp vi hiến(tức là Hiến pháp vi phạm chính nó), thì có thể coi là trung thành với Hiến pháp hay không?

Làm thế nào để xác định “phm cht đo đc tt”?“Tt” theo quan niệm nào? Theo lập trường ngoại lai giả danh giai cấp, hay lý tưởng thực sự vì Nước vì Dân? Theo thước đo chuyên chính vô sản cực đoan, hay chuẩn mực dân chủ đích thực? Những ai trong số leo trèo trên chính trường thực sự “vô tư?

Một Quốc hội chưa phế truất được bất cứ phần tử tham nhũng nào trong bộ máy ngập tràn tham nhũng, thì có thể coi là “có bn lĩnh, kiên quyết đu tranh chng tham nhũng” hay không?

Những ai không đáp ứng tiêu chuẩn “có trình đ văn hóa”? Sau một năm cắp sách tới trường thì đã có“có trình đ văn hóa” lớp 1. Gắng 12 năm thì “có trình đ văn hóa” lớp 12. Thậm chí, mù chữ mà biết hát xẩm thì cũng ít nhiều “có trình đ văn hóa” dân gian. Vậy thì đại biểu Quốc hội phải “có trình đ văn hóa” tầm nào, sao không viết rõ?

Thông qua một bản hiến pháp với đầy lỗi sơ đẳngvới vẻn vẹn hai phiếu trắng và không hề có phiếu chống, thì có phải tất cả các đại biểu Quốc hội đều“có đ năng lc… đ thc hin nhim v đi biu Quc hi”, hay không?

Hỏi lịch sự như vậy thôi, chứ dù thận trọng đến đâu thì cũng có thể khẳng định rằng: Quá nhiều đại biểu Quốc hội KHÔNG “đáp ng các tiêu chun ca đi biu Quc hi quy đnh ti Lut t chc Quc hi”.

Có hai câu hỏi nảy sinh ở đây:

– Một là, nếu bản thân các đại biểu Quốc hội đương nhiệm còn không “đáp ng các tiêu chun ca đi biu Quc hi quy đnh ti Lut t chc Quc hi”, thì có quyền đòi hỏi “người ng c đi biu Quc hi phi đáp ng các tiêu chun ca đi biu Quc hi quy đnh ti Lut t chc Quc hi”, hay không?

– Hai là, có thể dùng cái cơ chế và bộ máy đã từng tuyển chọn ra biết bao đại biểu Quốc hội không đáp ứng các tiêu chuẩn… để chọn lọc những người ứng cử, hay không?

Câu trả lời tất nhiên là KHÔNG và KHÔNG.

Rõ ràng, không th dùng nhng tiêu chun vu vơ, khó xác đnh chính xác, như các tiêu chun ca đi biu Quc hi được quy đnh ti Lut T chc Quc hi s 57/2014/QH13, đ làm lý do gt b mt s người ng c khi danh sách ng c.

Nếu tn ti tiêu chun đnh tính hp lý hp pháp nào đó đi vi nhng người ng c đi biu Quc hi, thì tng c tri s t mình xem xét và đánh giá nhng người ng c, đ đưa ra kết lun và quyết đnh cho riêng mình, rng bn thân s bu chn ai. Không có t chc hay cá nhân nào có đ tư cách đng ra làm vic y, thay cho bn thân các c tri. Và hiển nhiên, không thể chấp nhận thủ đoạn được triển khai tại các “Hi ngh c tri”, trong đó huy động một nhúm cử tri nhân danh toàn thể cử tri để phán xét và buộc tội những người tự ứng cử, hòng loại họ ra khỏi danh sách ứng cử.

Chính vì thế, nếu người nào đó mun t ng c và đáp ng được nhng tiêu chun đnh lượng hp hiến hp pháp, thì cơ quan t chc bu c không được phép ngăn cn người y ng c. Mà theo Hiến pháp và Luật BCĐBQH hiện hành, thìngười ng c đi biu Quc hi ch cn là công dân nước Cng hòa xã hi ch nghĩa Vit Nam và ch phi tha mãn mt tiêu chun đnh lượng duy nht là “đ hai mươi mt tui tr lên”.

Vậy mà Điều 43 Luật BCĐBQH 1997 lại cho phép Hội nghị hiệp thương “la chn, lp danh sách chính thc nhng người ng c đi biu Quc hi”, vàĐiều 48 Luật BCĐBQH 2015 sửa tên danh sách ấy thành “danh sách nhng người đ tiêu chun ng c đi biu Quc hi”. Dù gọi tên danh sách thế nào, thì về thực chất cũng là loi b bt mt s người ng c.

Như đã viết ở trên, ta không bàn đến thành phần được Đảng Cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị tham gia Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đề cử, nên cũng không thảo luận về việc các tổ chức ấy dùng cơ chế “hip thương” để sàng lọc và thiết lập danh sách đề cử của họ. Song phải khẳng định rằng: Hi ngh hip thương không có tư cách chính đáng đ loi b bt nhng người t ng c không h tham gia hip thương, cũng như nhng người được các t chc không tham gia hip thương đ c.

Để ngụy tạo tính chính đáng, trong Luật BCĐBQH 2015, Điều 48 quy định rằng “Hi ngh hip thương ln th ba căn c vào kết qu ly ý kiến c triđ la chn, lp danh sách nhng người đ tiêu chun ng c đi biu Quc hi”. Mà theo Điều 44thì “vic t chc ly ý kiến c tri được thc hin theo quy đnh ti Điu 45 ca Lut này”, tức tại cái gọi là “Hi ngh c tri”, thứ “được t chc ti thôn, t dân ph nơi người ng c đi biu Quc hi cư trú thường xuyên”, và ở cả một số cơ quan, nơi người ứng cử làm việc.

Gọi “Hi ngh c tri” là vô tình lạm danh hay cố tình lừa dối. Bởi vì số cử tri tham gia “Hi ngh c tri” chỉ chiếm chưa đến một phần nghìn cử tri của đơn vị bầu cử. Thật vậy, trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XIII vào năm 2011, cả nước có 62.313.605 cử tri và được chia thành 183 đơn vị bầu cử. Như vậy, bình quân mỗi đơn vị bầu cử có khoảng 340.512 cử tri. Nếu một thôn hay tổ dân phố có khoảng 200 cử tri, thì nó chỉ chiếm khoảng 0,059% (tức là chưa đến 6 phần vạn) toàn bộ cử tri của đơn vị bầu cử. Trên thực tế, khi cần loại bỏ người tự ứng cử thì tỷ lệ cử tri tham gia “Hi ngh c tri” còn thấp hơn hẳn, vì chỉ những phần tử cốt cán đắc lực mới được huy động đến.

Như vậy, chỉ có một phần siêu nhỏ cử tri thuộc đơn vị bầu cử tham gia cùng bộ máy tổ chức bầu cử để loại bỏ một số người tự ứng cử. Hậu quả là một số người tự ứng cử bị loại bỏ khỏi cuộc bầu cử chỉ vì ý kiến của một phần siêu nhỏ cử tri, trong khi nguyên tắc bầu cử “trc tiếp” đảm bảo họ có quyn được hưởng và ch phi chu s đánh giá la chn trc tiếp ca tp hp toàn th c tri thuc đơn v bu c ca mình. Đó là cái sai nhìn từ góc độ của người ứng cử. Còn về phía cử tri, họ chỉ được bầu chọn một phần trong số những người ứng cử, trong khi nguyên tắc bầu cử “trc tiếp” đòi hỏi họ phải được trc tiếp la chn t tp hp toàn th nhng người ng c ti đơn v bu c ca mình.

Tóm lại, xét về mọi phương diện, vic dùng cơ chế “hip thương”, trong đó có da vào ý kiến ca cái gi là “Hi ngh c tri”, đ gt b bt nhng người t ng c là hành vi chen ngang của thế lực trung gian, nhằm tước b quyn bu chn trc tiếp ca c tri đi vi tt c nhng người ng c, và quyn được la chn trc tiếp ca nhng người ng c bi toàn th c tri. Vì vậy,cơ chế vi hiến này vi phm nghiêm trng nguyên tc bu c “trc tiếp”.

Hoàn cảnh tệ hại có thể xảy ra đối với không ít cử tri, khi họ cho rằng tất cả các vị có tên trong danh sách ứng cử do bộ máy tổ chức bầu cử đưa ra đều“có vn đ (chẳng hạn không kém năng lực thì lại tham nhũng…). Và các cử tri đó chỉ tín nhiệm mấy người thuộc diện tự ứng cử, song đã bị gạt bỏ trước ngày bầu cử bởi cơ chế “hip thương”. Vậy là chẳng còn ai trong danh sách ứng cử đáng để họ bầu nữa. Nghĩa là cử tri có quyền bầu cử trực tiếp, nhưng lại là trc tiếp vi hư.

3.4. Bình đng… hơn người

Quá trình “hip thương” (được quy định tại Mục 2, Chương 5 của Luật BCĐBQH 1997 và Luật BCĐBQH 2015) do Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương điều khiển. Và thành phần tham gia chỉ có thêm đại diện ban lãnh đạo của các tổ chức thành viên của Mặt trận và đại diện Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Trong khi đó, Khoản 1 Điều 9 Hiến pháp 2013 viết:

Mt trn T quc Vit Nam là t chc liên minh chính tr, liên hip t nguyn ca t chc chính tr, các t chc chính tr – xã hi, t chc xã hi và các cá nhân tiêu biu trong các giai cp, tng lp xã hi, dân tc, tôn giáo, người Vit Nam đnh cư nước ngoài.”

Tức là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chỉ là một “liên hip t nguyn…”. Chắc chắn có rất nhiều cá nhân và tập thể người Việt Nam không hề “t nguyn”tham gia Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Từ thành phần ấy, có thể có nhiều người tự ứng cử, hoặc được các tổ chức không tham gia Mặt trận đề cử. Ngoài ra, còn có cả những người tham gia các tổ chức thành viên của Mặt trận, nhưng không được các tổ chức đó đề cử, mà tự ra ứng cử. Ta tạm gọi họ là những người ứng cử phi chính thống. Trớ trêu thay, họ và đại diện của họ không hề được tham gia “hip thương”, nhưng số phận ứng cử của họ lại do cơ chế“hip thương” quyết định.

Trên thực tế, phần lớn những người ứng cử phi chính thống bị Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gạt bỏ khỏi danh sách ứng cử. Vì

Mt trn T quc Vit Nam là b phn ca h thng chính tr ca nước Cng hòa xã hi ch nghĩa Vit Nam do Đng Cng sn Vit Nam lãnh đo…” (Điều 1 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam số 14/1999/QH10)

Mà lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thì khó chấp nhận những người ứng cử phi chính thống.

Hệ quả tất yếu là đa số những người ứng cử phi chính thống không được hưởng sự bầu chọn của toàn thể cử tri trong ngày bầu cử, mà bị loại bỏ từ trước bởi cơ chế “hip thương”, trong khi hơn tám trăm người được bộ máy tổ chức của ĐCSVN đề cử hay chấp nhận cho ứng cử thì được hưởng sự bầu chọn ấy. Đó rõ ràng là bất bình đẳng giữa những người ứng cử.

Chưa đến một phần nghìn cử tri của đơn vị bầu cử được tham gia “Hi ngh c tri” để tôn vinh nhằm ủng hộ, hay phê phán nhằm loại bỏ một số người ứng cử cụ thể nào đó, trong khi hơn 999 phần nghìn cử tri còn lại không được tham gia bày tỏ quan điểm về người ứng cử ấy. Như vậy là bất bình đẳng giữa các cử tri.

Điều 66 Luật BCĐBQH 2015 quy định về cái gọi là“Hi ngh tiếp xúc c tri”, với “thành phn tham d hi ngh tiếp xúc c tri gm đi din các cơ quan, t chc, đơn v c tri đa phương, và tất nhiên có cả những người được chấp nhận ứng cử tại “đa phương” ấy, tức là tại đơn vị bầu cử tương ứng. Hội nghị kiểu ấy đã từng diễn ra trước đây, nhưng chẳng mấy cử tri được biết. Ngay cái loa phường, thường ra rả đủ thứ, cũng chưa bao giờ tiết lộ, rằng vụ “tiếp xúc c tri” sắp xảy ra bao giờ và ở đâu. Vả lại, nếu vô tình biết được thì cũng chẳng được tham gia. Dù có bất bình thì cử tri cũng khó lòng mà khiếu nại, vì hoạt động này chỉ được đề cập rất sơ sài tại Điều 52 của Luật BCĐBQH 1997.

Bây giờ Điều 66 Luật BCĐBQH 2015 quy định khá chi tiết, với ba nội dung chính là:

“b) Đi din Ban thường trc y ban Mt trn T quc Vit Nam cp t chc hi ngh tiếp xúc c tri ch trì cuc tiếp xúc c tri, gii thiu và đc tiu s tóm tt ca người ng c.”

“c) Tng người ng c báo cáo vi c tri v chương trình hành đng ca mình nếu được bu làm đi biu Quc hi, đi biu Hi đng nhân dân.”

“d) C tri nêu ý kiến, đ đt nguyn vng ca mình vi nhng người ng c. Người ng c và c tri trao đi dân ch, thng thn và ci m nhng vn đ cùng quan tâm.”

Đặc biệt, để không cử tri nào có thể kêu ca rằng mình không biết mà tham gia, Điều 66 Luật BCĐBQH 2015 còn quy định rõ ràng tại Khoản 1 rằng: y ban nhân dân nơi t chc hi ngh tiếp xúc c tri có trách nhim thông báo v thi gian, đa đim t chc hi ngh đ c tri tham d đông đ.”Như vậy là tòi ra cái đuôi giả tạo hay ấu trĩ của những người soạn thảo và thông qua luật này.

Đương nhiên, khi đã viết chung chung là “tiếp xúc c tri” (chứ không phải là “tiếp xúc vi đi biu c tri”) thì có nghĩa là tiếp xúc với tất cả các cử tri muốn tham gia, và cái chất “tt c cũng hiện ra trong từ “đông đ. Để giới thiệu với cử tri về những người ứng cử và chương trình hành động của họ, cũng như để cử tri “đ đt nguyn vng ca mình vi nhng người ng c, thì đối tượng của “Hi ngh tiếp xúc c tri” hiển nhiên phải là tất cả cử tri của đơn vị bầu cử tương ứng. Mà, như đã viết ở cuối phần trên, bình quân mỗi đơn vị bầu cử có khoảng 340.512 cử tri. Vậy thì có nơi nào có thể chứa một“Hi ngh tiếp xúc c tri” với ngần ấy người tham gia? Và hội nghị phải kéo dài bao lâu để bằng ấy người “đ đt nguyn vng ca mình vi nhng người ng c? Độ khả thi xấp xỉ bằng 0, mà vẫn luật định bằng được. Đây cũng là một ví dụ về thói hình thức, hiến định bất chấp thực tế, và càng không đnh thc thi thì càng hiến đnh hào phóng.

Kiểu gì thì cũng không thể tổ chức một hình thức gặp gỡ hợp lý nào giữa những người ứng cử và tất cả cử tri, để giới thiệu về những người ứng cử và để cử tri trình bày nguyện vọng của mình. Vậy mà họ đã và sẽ còn tiếp tục tổ chức màn kịch giả tạo ấy. Hệ quả đương nhiên, là chỉ có một vài phần nghìn cử tri liên quan được tham gia. Số còn lại đành bơ vơ ngoài vòng “tiếp xúc”. Không thể trình bày nguyện vọng bản thân đã đành, cộng đồng đại đa số bị bỏ rơi cũng không có điều kiện tìm hiểu về những người ứng cử mà họ sẽ phải bầu chọn, nên đến ngày bầu cử đành phải bầu liều. Đó cũng là một biểu hiện bất bình đẳng giữa các cử tri. Từ đây còn nảy sinh thêm câu hỏi: Khi không được nghe, được biết nguyện vọng của gần hết cử tri thuộc đơn vị bầu cử của mình, thì các đại biểu Quốc hội có thể đại diện cho cử tri thuộc đơn vị bầu cử ấy hay không?

Còn một khía cạnh bất bình đẳng khác của Luật BCĐBQH mà ta không thể không bàn. Điều 48 Luật BCĐBQH 1997 quy định:

“Người ng c không được làm thành viên Ban bu c hoc T bu c  đơn v mình ng c. Nếu đã là thành viên ca Ban bu c hoc T bu c đơn v mình ng c thì người ng c phi được rút khi danh sách thành viên ca t chc ph trách bu c đó k t ngày được ghi tên vào danh sách chính thc nhng người ng c.”

Chứng tỏ các nhà lập pháp cũng thừa nhận, rằng việc “va thi còi va đá bóng” trong bầu cử là không ổn. Tuy nhiên, không hiểu do cố ý hay vô tình, mà họ lại viết rằng “người ng c phi được rút khi danh sách thành viên…”. Viết như vậy thì có thể hiểu là: Nếu người ứng cử muốn xin rút để thể hiện mình khách quan thì “phi được (phép) rút”, còn nếu không muốn rút thì thôi.

Lỗi trên đã được khắc phục trong Luật BCĐBQH 2015 như sau:

Điu 27. Nhng trường hp không được tham gia vào các t chc ph trách bu c

Người ng c đi biu Quc hi, đi biu Hi đng nhân dân không được làm thành viên Ban bu c hoc T bu c đơn v bu c mà mình ng c. Nếu đã là thành viên ca Ban bu c hoc T bu c đơn v bu c mà mình ng c thì người ng c phi xin rút khi danh sách thành viên ca t chc ph trách bu c đó chm nht là vào ngày công b danh sách chính thc nhng người ng c. Trường hp người ng c không có đơn xin rút thì cơ quan đã quyết đnh thành lp Ban bu c, T bu c đó ra quyết đnh xóa tên người ng c khi danh sách thành viên ca t chc ph trách bu c và b sung thành viên khác đ thay thế.”

Tắm gội như vậy là triệt để, phải không? Tất nhiên là… KHÔNG. Bởi vì tắm gội kiểu này mới sạch từ rốn trở xuống, song chưa hề thấm ngực ướt đầu. Điều 27 chỉ quy định “nhng người ng c đi biu Quc hi… không được làm thành viên Ban bu c hoc T bu c đơn v bu c mà mình ng c. Tiêu đề“Nhng trường hp không được tham gia vào các t chc ph trách bu c của Điều 27 cho thấy: Luật BCĐBQH 2015 không hề cấm những người ứng cử đại biểu Quốc hội tham gia các tổ chức phụ trách bầu cử cấp cao hơn. Đó là Hội đồng bầu cử quốc giavà Ủy ban bầu cử ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Chính hai cấp này mới là nơi nắm “quyn sinh quyn sát”, có khả năng thao túng kết quả bầu cử nhiều nhất.

Vì sao khi tắm gội lại chừa ra cái đầu, là Hội đồng bầu cử quốc gia, tổ chức lãnh đạo bầu cử trên phạm vi cả Nước? Đã từ lâu, chẳng mấy ai còn ngây thơ, đến mức tin tưởng hay đòi hỏi lãnh đạo cao cấp phải tử tế và gương mẫu. Do đó, việc Luật BCĐBQH 1997 và Luật BCĐBQH 2015 né tránh đối tượng đáng phải khống chế nhất chính là dung túng việc lạm dụng quyền lực. Nhờ thế, các siêu ứng cử viên có thể tham gia chèo lái Hội đồng bầu cử và các Ủy ban bầu cử, và nếu muốn thì có thể tác động để đưa ra các quyết định có lợi cho việc ứng cử và trúng cử của bản thân. Riêng việc chọn cho bản thân một đơn vị bầu cử với đa số cử tri thuộc loại “d bo” và đưa vào danh sách ứng cử tại đó những đối thủ “nh ký” thì đã có thể yên tâm lắm rồi.

Theo quy định tại Điều 8 Luật BCĐBQH 1997, được sửa đổi theo Luật số 31/2001/QH10, và Điều 7 Luật BCĐBQH 2015, tổng số đại biểu Quốc hội được giới hạn bởi con số năm trăm. Cho nên, lợi thế giúp người này trúng cử có thể là điều bất lợi khiến người khác thất cử. Do đó, vic Lut BCĐBQH 1997 và Lut BCĐBQH 2015 đ cho các siêu ng c viên được phép tham gia Hi đng bu c và U ban bu c tnh, thành ph trc thuc trung ương là vi phm nguyên tc “bình đng” trong bu c.

Hẳn là, tt c mi người đu bình đng, nhưng thế lc cm quyn còn bình đng hơn. Lâng lâng trên vị thế vời vợi “bình đng hơn người” ấy, mới dễ cao hứng mà cảm thấy “cao hơn gp vn ln so vi dân ch tư sn”.

Hiển nhiên, khi tạo ra một cơ chế bầu cử với nhiều khía cạnh bất bình đẳng trầm trọng như vậy, Luật BCĐBQH 1997 và Luật BCĐBQH 2015 không chỉ vi phạm nguyên tắc bầu cử “bình đng”, được hiến định tại Điều 7 Hiến pháp 1992 và Điều 7 Hiến pháp 2013. Chúng còn vi phạm nghiêm trọng cả nguyên tắc “Mi công dân đu bình đng trước pháp lut”, được hiến định tại  Điều 52 Hiến pháp 1992 và Điều 16 Hiến pháp 2013.

3.5. Ph thông mà b sót

Khi một số người tự ứng cử bị loại khỏi danh sách ứng cử, mặc dù họ hoàn toàn có quyền ứng cử, như đã đề cập ở trên, thì có nghĩa là quyền ứng cử của họ đã bị tước bỏ một cách phi lý. Vì vậy, việc dùng cơ chế “hip thương” để loại bỏ họ cũng vi phạm cả nguyên tắc bầu cử “ph thông”.

Xét từ góc độ cử tri, thì nguyên tắc bầu cử “ph thông” còn bị vi phạm tràn lan hơn. Có những trường hợp, nhìn qua thì thấy có vẻ ổn thỏa, nhưng thực ra cũng chẳng hề “ph thông” chút nào. Chẳng hạn như trường hợp “trc tiếp vi hư vô”, đã được xét ở cuối phần 3.3. Đó là hoàn cảnh mà tất cả những người ứng cử được cử tri tín nhiệm đều đã bị“t chc” loại bỏ bằng cơ chế “hip thương”, chỉ còn sót lại một danh sách ứng cử bao gồm những nhân vật mà một số cử tri nào đó cho là đều tệ hại, rặt là“sâu”.

Hoàn cảnh trớ trêu ấy có thể xảy ra, khi đứng đầu một tỉnh lại là loại lãnh đạo như Hồ Xuân Mãn. Nếu ông ta tự công nhận là mình tệ hại, thì “mã tm mã ngưu tm ngưu”. Ngược lại, nếu ông ta thành tâm nghĩ là mình tốt, thì cũng sẽ lựa chọn những người tốt như mình, mà tốt như thế thì cũng đã quá tệ mất rồi. Đừng chủ quan, tin rằng cấp trên sẽ uốn nắn, ngăn chặn. Bởi Hồ Xuân Mãn là một trong ba Bí thư Tỉnh ủy được Ban chỉ đạo Trung ương Cuộc vận động “Hc tp và làm theo tm gương đo đc H Chí Minh”, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tổng Bí thư ĐCSVN Nông Đức Mạnh, vinh danh tại hội nghị biểu dương các điển hình tiên tiến toàn quốc vào tháng 1 năm 2010.

Đương nhiên, khi đứng trước một danh sách ứng cử mà bản thân nghĩ là toàn “sâu”, mọi cử tri có lương tâm và trách nhiệm đều phải gạch hết, không thể bầu cho bất cứ nhân vật nào. Song cả Điều 65 Luật BCĐBQH 1997 và Điều 74 Luật BCĐBQH 2015 đều quy định, rằng phiếu gch xóa hết tên nhng người ng c là phiếu bu không hp l. Vì sao? Phải chăng họ muốn cử tri phải bầu bằng được ai đó trong danh sách mà họ đưa ra. Bầu ai cũng được, vì thông thường thì cả danh sách ứng cử đều là người của họ. Nhưng ít nhất phải bầu cho một người. Xem chừng cũng tương tự kiểu tư duy “b già” “Không tín nhim thng cướp, thì ti thiu cũng phi chp nhn thng trm, vì chúng là con tao.” Cuối cùng, lương tâm và trách nhiệm buộc một số cử tri phải quyết định gch xóa hết tên nhng người ng c, tức là đành phải chấp nhận để phiếu bầu của mình trở thành phiếu không hp l. Mất công đi bầu cử, mà phiếu bầu lại không được tính là hợp lệ, thì còn tệ hơn là không đi bầu. Thành thử, về thực chất,Điều 65 Luật BCĐBQH 1997 và Điều 74 Luật BCĐBQH 2015 đã tước mất quyền bầu cử của những cử tri có lương tâm và trách nhiệm ấy. Tức là chúng vi phạm nguyên tắc bầu cử “ph thông”.

Vừa tước quyền bầu cử hiến định của công dân, vừa vi phạm nguyên tắc bầu cử “ph thông”, hiển nhiêncái quy đnh “phiếu gch xóa hết tên nhng người ng c là phiếu bu không hp l” vi hiến, cho dù chiểu theo bất kỳ hiến pháp nào của chế độ này. Đáng lưu ý, là phiếu không bầu cho ai từng được coi là hợp lệ trong Sắc lệnh của Chủ tịch nước ngày 17 tháng 10 năm 1945 – Số 51. Nó tiếp tục được thừa nhận là hợp lệ trong Luật BCĐBQH 1959 (Điều 44) và Luật BCĐBQH 1980 (Điều 45). Chỉ đến Luật BCĐBQH 1992 (được Quốc hội khóa VIII thông qua ngày 15/4/1992) thì phiếu không bầu cho ai mới bị coi là không hợp lệ (Điều 48). Rồi quy định vi hiến này được tiếp tục duy trì trong Luật BCĐBQH 1997 (Điều 65) và Luật BCĐBQH 2015 (Điều 74).

Một dạng bầu cử khác, có vẻ như quán triệt nguyên tắc bầu cử “ph thông”, nhưng chẳng phải là bầu cử“ph thông” đích thực, mà hoàn toàn hình thức, đó là tổ chức cho cử tri vãng lai tham gia bỏ phiếu bầu cử tại những địa phương xa lạ. Điều 12 Luật BCĐBQH 1997 và Điều 11 Luật BCĐBQH 2015 cho phép thành lập khu vực bỏ phiếu tại bệnh viện, nhà an dưỡng… và thậm chí ở cả trại tạm giam… Nhưng khi bệnh viện, nhà an dưỡng, trại giam… ở quá xa nơi cư trú, nằm ngoài phạm vi đơn vị bầu cử của cử tri, thì đó chỉ là quyền tham gia trò chơi bầu cử mà thôi. Bởi vì những người đi chữa bệnh, hay an dưỡng, hay bị tạm giam… chỉ quan tâm và có hiểu biết nào đó để bầu ra những đại biểu Quốc hội đại diện cho địa phương mà họ đã và sẽ trở về đó sinh sống, chứ không phải bầu ra những đại biểu đại diện cho nơi mà họ đang có mặt chỉ một thời gian ngắn (xem Phụ lục 3).

Những cử tri đang di chuyển trong nước, ra xa đơn vị bầu cử cử mình, vì lý do công việc hay vì những lý do khác, cũng phải chịu chung số phận giống như những người đi chữa bệnh hay bị tạm giam ở xa nơi cư trú. Hoặc là chịu mất quyền bỏ phiếu, hoặc là tham gia bầu cử một cách hình thức ở chốn xa xôi để bầu cho những đối tượng hoàn toàn xa lạ, không liên quan đến bản thân.

Còn những cử tri đi ra nước ngoài trong thời gian bầu cử thì chỉ còn nước chịu mất quyền bỏ phiếu, vì hình thức bỏ phiếu bằng cách gửi thư không được chấp nhận. Đặc biệt, những người được cử ra nước ngoài làm nhiệm vụ nghiễm nhiên bị mất quyền bầu cử (ví dụ như nhân viên các cơ quan ngoại giao, cơ quan thương vụ Việt Nam ở nước ngoài, hay quân nhân được phái đi tham chiến hoặc gìn giữ hòa bình ở nước ngoài). Vắng mặt vì lý do riêng tư thì đã đành, nhưng đi thi hành công vụ mà lại bị mất quyền bầu cử, thì phải lý giải sao đây?

Đó là chưa kể đến đông đảo công dân Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài. Họ thuộc vào cộng đồng quan trọng, có nhiều đóng góp cho Tổ quốc, đến mức Hiến pháp 2013 (Điều 18) phải bổ sung thêm khẳng định: “Người Vit Nam đnh cư nước ngoài là b phn không tách ri ca cng đng dân tc Vit Nam.” Thế mà Luật BCĐBQH 2015(được ban hành khi Hiến pháp 2013 có hiệu lực) vẫn bỏ rơi “b phn không tách ri” ấy.

Tóm lại, cả Luật BCĐBQH 1997 và Luật BCĐBQH 2015 đều phớt lờ quyền bầu cử và ứng cử của rất nhiều công dân Việt Nam đang ở nước ngoài vào thời điểm diễn ra bầu cử đại biểu Quốc hội. Vì thế, chúng vi phạm cả hai nguyên tắc bầu cử “ph thông” và “bình đng”.

3.5. Sát th hóa trang thánh thin

Một trong số bốn nguyên tắc xác định người trúng cử được quy định tại Điều 78 Luật BCĐBQH 2015 là:

Người trúng c phi là người ng c đt s phiếu bu quá mt na tng s phiếu bu hp l.”

Nếu số người trúng cử đại biểu Quốc hội chưa đủ số lượng được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử, thì có thể có bầu cử thêm. Đối với cuộc bầu cử thêm, Điều 79 Luật BCĐBQH 2015 quy định:

“Trong cuc bu c thêm, c tri ch chn bu trong danh sách nhng người ng c ti cuc bu c đu tiên nhưng không trúng c. Người trúng c là người được quá mt na tng s phiếu bu hp l và có s phiếu bu cao hơn. Nếu bu c thêm mà vn chưa đ s lượng đi biu được bu đã n đnh cho đơn v bu c thì không t chc bu c thêm ln th hai.

Luật BCĐBQH 1997 cũng đã quy định những nội dung trên tại Điều 70 và Điều 71.

Hai nội dung pháp định quan trọng nhất là: Trong cả hai cuộc bầu cử ban đầu và bầu cử thêm, người trúng cử buộc phải “được quá mt na tng s phiếu bu hp l, và “nếu bu c thêm mà vn chưa đ s lượng đi biu được bu… thì không t chc bu c thêm ln th hai”. Điều đó chứng tỏ các nhà lập pháp rất coi trọng ý kiến của đa số (quá bán) cử tri, đúng không? Quy định như vậy thì thánh thiện quá, đúng không? Xin đừng vội trả lời, mà hãy kiên trì đọc tiếp, mấy phút sau trả lời cũng không muộn.

Giả sử đơn vị bầu cử được bầu một đại biểu Quốc hội. Nếu, đối với cử tri, uy tín của tất cả những người ứng cử không quá chênh lệch, thì khi danh sách ứng cử có ba người, tỷ lệ số phiếu bầu cho mọi người ứng cử sẽ quanh quẩn xung quanh 33%, và không ai trong số họ “được quá mt na tng s phiếu bu hp l. Trong trường hợp uy tín của những người ứng cử khá khác biệt, thì chỉ cần số người ứng cử đủ nhiều, vẫn có thể xảy ra tình trạng không có ai “được quá mt na tng s phiếu bu hp l. Tương tự như vậy, kể cả khi đơn vị bầu cử được bầu nhiều hơn một đại biểu Quốc hội, danh sách ứng cử đủ dài sẽ có thể dẫn đến kết cục không có ai “được quá mt na tng s phiếu bu hp l. Tức là, theo quy định của Điều 78 Luật BCĐBQH 2015, không có ai trúng cử cả. Trong cuộc bầu cử thêm, cử tri vẫn đứng trước danh sách ứng cử cũ. Dưới giả thiết rằng cử tri bầu cử nghiêm túc theo lập trường kiên định, thì kết quả không hề thay đổi. DoĐiều 79 Luật BCĐBQH 2015 quy định “không t chc bu c thêm ln th hai”, nên cuối cùng đơn vị bầu cử đó sẽ không bầu được đại biểu nào cả. Và nếu việc ứng cử là thực sự tự do, toàn quốc có thể có rất nhiều người ứng cử, đến mức rất nhiều đơn vị không bầu được đại biểu nào, hoặc chỉ bầu được quá ít đại biểu. Hậu quả có thể xảy ra là cả nước chỉ bầu được rất ít đại biểu Quốc hội (xem Phụ lục 4).

Với đội ngũ quá lơ thơ, Quốc hội không thể đảm đương nhiệm vụ hiến định. Thậm chí, kể cả khi chỉ định đóng vai trò của một sân khấu chính trị hình thức, thì Quốc hội cũng không có đủ diễn viên để đóng.

Để một trạng thái bế tắc như vậy không thể xảy ra, nếu không rắp tâm ngụy tạo kết quả bầu cử, thì thế lực cầm quyền chỉ còn có một cách duy nhất, là khống chế số người ứng cử dưới một mức “an toàn”nào đó. Đối với lần bầu cử này, chẳng cần phải đợi lâu để thấy được hành vi khống chế số người ứng cử. Mặc dù Nghị quyết số 41/NQ-HĐBCQG (do Hội đồng bầu cử quốc gia ban hành ngày 29/1/2016)quy định thời hạn nhận hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XIV bắt đầu từ ngày 17/2/2016 và kết thúc vào ngày 13/3/2016, nhưng một số báo đã đưa tin vào ngày 17/1/2016 (tức 12 ngày trước khi Nghị quyết số 41/NQ-HĐBCQG ra đời và đúng một tháng trước khi thời hạn nhận hồ sơ ứng cử bắt đầu), rằng“Ch tch Quc hi Nguyn Sinh Hùng cho biết đã xác đnh được s lượng ng c đi biu Quc hi khóa XIV là 896 người”.

Chẳng có gì đáng bàn nếu đảng cầm quyền tự hạn chế số người trong danh sách đề cử của đảng mình và các tổ chức liên minh, bởi đó là công việc nội bộ của họ. Song hiển nhiên thế lực cầm quyền không đơn phương tự vẫn, mà tìm mọi cách để hạn chế số lượng ứng cử viên độc lập và số lượng đề cử của các tổ chức không thuộc liên minh cầm quyền. Cơ chế“hip thương” là một trong những thủ thuật được sử dụng trên thực tế để khống chế số người ứng cử.

Hành vi ấy không chỉ vi phạm thô bạo quyền ứng cử của công dân, mà còn vi phạm cả quyền bầu cử, bởi nó hạn chế đáng kể phạm vi bầu chọn của công dân. Và hiển nhiên là vi phạm nguyên tắc bầu cử“ph thông”.

Như vậy, cái nguyên tc xác đnh người trúng c được quy đnh ti Điu 78 và Điu 79 ca Lut BCĐBQH 2015, và cũng đã được quy đnh ti Điu 70 và Điu 71 cùa Lut BCĐBQH 1997, tt yếu dn đến tình trng vi phm trm trng quyn ng c và bu c ca công dân trên quy mô toàn quc. Nó chính là sát th đích thực, đượchóa trang thánh thin, như thể rất coi trọng ý kiến của đa số cử tri. Nếu nó còn tồn tại thì quyền ứng cử và bầu cử của công dân nhất định bị xâm phạm, nếu không bởi thủ thuật “hip thương” thì cũng bởi thủ đoạn “sát thương” nào đó. Chính vì vậy, nguyên tc xác đnh người trúng c được quy đnh trong Lut BCĐBQH 1997 và Lut BCĐBQH 2015 chc chn là vi hiến, cho dù chiu theo bt kỳ hiến pháp nào ca chế đ này.

Tất nhiên, ở các nước thật sự dân chủ, chẳng kẻ nào dám mơ đến việc dùng võ bẩn để loại bớt người ứng cử, hòng đảm bảo quân số cần thiết cho Quốc hội. Vậy thì tại sao Quốc hội của họ lại không bao giờ bị lâm vào cảnh thiếu đại biểu trầm trọng, mặc dù công dân có thể ứng cử hoàn toàn tự do? Đơn giản vì luật bầu cử của họ không có quy định ngây ngô như luật của Việt Nam.

Luật Bầu cử CHLB Đức quy định: “Trúng c là người ng c nhn được nhiu phiếu nht”, nghĩa là không hề đòi hỏi người trúng cử phải “được quá na s phiếu hp lQuy tắc bầu cử của Pháp chỉ đòi hỏi người trúng cử phải được hơn nửa số phiếu bầu trong lần bầu cử ban đầu, còn nếu phải bầu cử lần thứ hai thì chỉ cần được nhiều phiếu nhất (xem Phụ lục 5).

Đơn giản như vậy, tại sao các nhà lập pháp Việt Nam lại không quy định tương tự? Câu trả lời chắc sẽ khiến nhiều người phải ngạc nhiên: Các thế hệ lập pháp trước kia của chế độ này đã từng quy định tương tự như quy tắc bầu cử của Pháp. Thật vậy,Sắc lệnh của Chủ tịch nước ngày 17 tháng 10 năm 1945 – Số 51 quy định:

Điu th 56: Phi có mt phn tư (1/4) s c tri (người có quyn bu c) toàn tnh hay thành ph có đi bu thì cuc bu c mi có giá tr. Nếu không, s có cuc bu c th hai.”

Điu th 57: Nhng người ng c phi được hơn mt na s phiếu bu (hp l) thì mi được trúng c.”

Điu th 58: Điu th 56 và 57 k trên không thi hành cho cuc bu c th hai. Ln này người ng c nào được nhiu phiếu hơn thì trúng c.”

Tức là khi tiến hành cuộc bầu cử thứ hai thì không nhất thiết phải một phần tư số cử tri tham gia và người trúng cử chỉ cần được nhiều phiếu hơn, chứ không còn cần phải được hơn một nửa số phiếu bầu. Chính vì thế, sau hai lần bầu cử chắc chắn sẽ bầu được đủ số đại biểu cần thiết.

Cách xác định người trúng cử trong Sắc lệnh kể trên tiếp tục được duy trì trong Luật BCĐBQH 1959Luật BCĐBQH 1980 và Luật BCĐBQH 1992 (với khác biệt nhỏ, là để không phải bầu cử lại thì lần bầu cử thứ nhất phải có quá nửa số cử tri tham gia, chứ không phải một phần tư). Chỉ đến khi ban hành Luật BCĐBQH 1997 (được Quốc hội khóa IX thông qua ngày 17/4/1997, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh và Tổng Bí thư ĐCSVN Đỗ Mười), mới xuất hiện tại Điều 71 đòi hỏi, rằng cả trong lần bầu thêm người trúng cử cũng phải “được quá na s phiếu hp l, và “nếu bu c thêm mà vn chưa đ s đi biu theo quy đnh thì không t chc bu c thêm ln th hai”. Rồi “sát th hóa trang thánh thin” ấy được tiếp tục nuôi dưỡng tạiĐiều 79 của Luật BCĐBQH 2015 (được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 25/6/2015, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng và Tổng Bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng).

Diễn biến kể trên chứng tỏ, dù không có “sát th hóa trang thánh thin”  thì quyền ứng cử của công dân vẫn có th b xâm phm, và lỗi đó không nhất thiết do bản thân Quốc hội gây ra. Song cần phải nhấn mạnh rằng: Khi “sát th hóa trang thánh thin” được Quc hi lut hóa trong Lut BCĐBQH, thì quyn ng c ca công dân chc chn b xâm phm. Đó là trách nhiệm không thể chối bỏ của Quốc hội.

Không nhất thiết phải dùng “sát th hóa trang thánh thin” vẫn có cách khác để đạt được mục đích, thì tại sao phải luật định nó cho tai tiếng? Chắc hẳn do hạn chế về khả năng lập pháp và trình độ tổ chức bộ máy nhà nước của các đại biểu Quốc hội. Mặt khác, có lẽ xuất phát từ tâm lý ngộ nhận hay sĩ diện, cho rằng ta và người của ta hiển nhiên được tín nhiệm cao, khi bầu cử ít nhất cũng được quá bán, và nếu thực tế không phải như vậy thì cũng phải cố mà thể hiện như vậy. Thành thử quy định một cách tràn lan, bầu cử nào cũng phải “quá bán”, và để thực tế không bác bỏ thì thao túng bằng mọi cách để có được kết quả bầu cử như ý. Vậy là sĩ din hình thc kéo theo bu c hình thc.

Sự xuất hiện của quy định “phiếu gch xóa hết tên nhng người ng c là phiếu bu không hp ltrong Luật BCĐBQH 1992 và “sát th hóa trang thánh thin” trong Luật BCĐBQH 1997 là hai ví dụ điển hình về tiến trình phi dân chủ hóa, diễn ra trong một phần tư thế kỷ qua, ngay trong hệ thống lập pháp.

Thật chua chát, khi Nhân dân đã phải tốn bao tiền của để đào tạo và duy trì bộ máy lập pháp, mà chất lượng lập pháp không tăng theo thời gian, thậm chí còn ngược lại. Thuở mới giành được chính quyền, lực lượng lập pháp nói riêng và giới cầm quyền nói chung vừa mỏng, vừa thiếu kiến thức và kinh nghiệm, do ít được hc, nhưng chu hc, nên tránh được nhiều lỗi lập pháp sơ đẳng. Còn ngày nay hậu bối được hc rt nhiu, nhưng lại sinh ra những văn bản pháp luật với chất lượng quá thấp, như Hiến pháp 2013 và Luật BCĐBQH 2015, phải chăng vì không chu hc?

Những quy định pháp luật nhằm hạn chế quyền bầu cử và ứng cử của công dân, giống như “sát th hóa trang thánh thin”, chỉ có thể xuất hiện trong những chế độ không chấp nhận quyền bầu cử “ph thông”của công dân. Và ngược lại, những quy định phi dân chủ ấy lại góp phần đắc lực để duy trì tình trạng phi dân chủ của chế độ.

Bài học cảnh giác, mà những người đấu tranh cho dân chủ, bảo vệ quyền công dân và phấn đấu xây một nhà nước pháp quyền đích thực, cần rút ra qua hai ví dụ trên là: Nhiu điu khon trong h thng văn bn pháp lut có v vô hi, thm chí còn có v thánh thin, nhưng thc ra chúng rt t hi, là sát th đích thc đi vi dân ch và quyn công dân.

  1. Băn khoăn muôn mi

Phần 3 khá dài, mặc dù mới chỉ tập trung phân tích mấy điều khoản vi hiến của Luật BCĐBQH 1997 và Luật BCĐBQH 2015, nhằm chỉ ra rằng chúng vi phm nghiêm trng tt c bn nguyên tc hiến đnh cho bu c Quc hi, là “ph thông”,”bình đng”, “trc tiếp” và “b phiếu kín”. Chỉ riêngvic cho phép Hi đng bu c quc gia và Mt trn T Quc Vit Nam dùng cơ chế “hip thương” đ loi b bt nhng người t ng c và nhng người được các t chc không tham gia Mt trn đ c, thì đã đng thi vi phm ba nguyên tc bu c “ph thông”,”bình đng” và “trc tiếp”. Như vậy đã quá đủ để ta phải băn khoăn…

4.1. Chiến tích nhim kỳ

Rõ ràng, Luật BCĐBQH 2015 là văn bản pháp luật quan trọng thứ hai mà Quốc hội khóa XIII đã thông qua trong nhiệm kỳ của mình. Quan trọng vì nó sẽ quyết định diện mạo và chất lượng của mấy khóa Quốc hội tiếp theo, cho đến khi ban hành một Luật BCĐBQH mới. Tiếc thay, mới thoáng qua ta đã thấy giật mình vì chất lượng của nó.

Văn bản pháp luật quan trọng nhất mà Quốc hội khóa XIII đã thông qua hiển nhiên là Hiến pháp 2013. Một dự thảo mới ở tầm bản nháp, còn chứa đựng quá nhiều lỗi sơ đẳng, kể cả về từ ngữ, văn phạm, lô-gíc và kỹ thuật lập hiến, như đã được chỉ rõ trong bốn bài Hiến pháp 2013 – Sa nhm hay đi thit?“, “Hiến pháp vi hiến“, “Bt mch Hiến… nháp” và “Não lòng vi Hiến pháp. Ấy vậy mà, bất chấp góp ý và khuyên can của bao người hiểu biết, 486 đại biểu Quốc hội khóa XIII (chiếm 99,59% trong số 488 vị tham gia biểu quyết) vẫn bấm nút“tán thành”. Chẳng có ai “không tán thành”. Chỉ có hai vị biểu quyết bằng cách bấm cái nút mang tên“không biu quyết”. Chỉ riêng điều đó cũng chứng tỏ rằng Quốc hội ấy không có đủ trình độ, năng lực, ý thức trách nhiệm và bản lĩnh để có thể đảm nhận nhiệm vụ “Làm Hiến pháp và sa đi Hiến pháp; làm lut và sa đi lut” (được hiến định tại Điều 84 Hiến pháp 1992 và Điều 70 Hiến pháp 2013).

Hai sản phẩm quan trọng nhất, được ưu tiên nhất, mà chất lượng lại thấp như vậy, thì các sản phẩm khác sẽ thế nào? Chẳng nhẽ lòng tự trọng và trí tuệ của hơn chín mươi triệu người dân đất Việt đã cạn kiệt đến mức chỉ chắt lọc ra nổi cái “cơ quan đi biu cao nht ca Nhân dân” (Điều 83 Hiến pháp 1992 và Điều 69 Hiến pháp 2013) với tâm và tầm như vậy hay sao?

Không! Dân tộc này không tàn lụi đến mức chẳng kiếm nổi đủ người xứng tầm lập hiến và lập pháp. Nhưng tiếc rằng quyền quyết định diện mạo Hiến pháp lại bị chiếm giữ bởi những người dưới tầm lập hiến, và quyền thông qua Hiến pháp lại được trao cho cái “cơ quan đi biu cao nht ca Nhân dân” nhưng li không đi din cho trí tu và quyn li ca Nhân dân.

Vì sao lại xảy ra thực tế trớ trêu như vậy trong “Nhà nước… ca Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân”(Khoản 1 Điều 2 Hiến pháp 2013)?

Bởi vì, tuy gọi là “Nước Cng hòa xã hi ch nghĩa Vit Nam do Nhân dân làm ch; tt c quyn lc nhà nước thuc v Nhân dân…” (Khoản 2 Điều 2 Hiến pháp 2013), nhưng hoàn cnh duy nht mà Nhân dân có th thc thi quyn lc nhà nước là các kỳ bu c đi biu Quc hi và đi biu Hi đng nhân dân, như hiến định tại Điều 6 Hiến pháp 1992:

Nhân dân s dng quyn lc Nhà nước thông qua Quc hi và Hi đng nhân dân…”

Điều 6 Hiến pháp 2013 nới rộng thêm đôi chút:

“Nhân dân thc hin quyn lc nhà nước bng dân ch trc tiếp, bng dân ch đi din thông qua Quc hi, Hi đng nhân dân và thông qua các cơ quan khác ca Nhà nước.”

Nhưng “dân ch trc tiếp” là gì? Nó có thể tồn tại trên thực tế hay không, khi “dân ch đi din” cũng chỉ thuộc phạm trù “hư o”? Ngoài Quốc hội và Hội đồng nhân dân, chẳng hề có cơ quan nhà nước nào khác được Nhân dân cử ra thông qua bầu cử phổ thông. Vậy khi “Nhân dân thc hin quyn lc nhà nước… bng dân ch đi din… thông qua các cơ quan khác ca Nhà nước, thì đó là những cơ quan nào? Chất vấn đến tận cùng thì sẽ lòi ra, rằng thể hiện “tiến b ấy thực chất cũng chỉ là tái diễn trò vần vò tập rỗng mà thôi.

Chính vì thế, nếu kỳ bu c đi biu Quc hi b thc thi phi dân ch, nếu b máy t chc bu c dùng đ th đon đ cn tr ng c t do và ch chp nhn danh sách ng c do thế lc đương quyn tuyn la, thì quyn làm ch nhà nước ca Nhân dân cũng b trit tiêu. Và lúc đó Quc hi ch còn là sân khu biu din dân ch, vi dàn din viên ch đi din cho trí tu và quyn li ca gii cm quyn, ch không h đi din cho toàn th Nhân dân.

Dù khen hay trách thì Quốc hội khóa XIII cũng sắp kết thúc nhiệm kỳ, chẳng thể hy vọng hay đòi hỏi gì hơn. Gánh nặng quá khứ để lại và hình thành trong 5 năm tới sẽ chất cả lên vai của Quốc hội khóa XIV. Liệu nó sẽ hoàn thành bao nhiêu phần trăm sứ mạng? Hay sẽ để lại cho tương lai một gánh nặng, còn nặng hơn cả cái gánh mà các thế hệ tiền nhiệm chất lên vai nó?

Nhìn từ góc độ lập hiến và lập pháp, thì băn khoăn lớn nhất là: Liu mt Quc hi được bu theo mt Lut bu c vi hiến có đ năng lc đ ban hành các văn bn pháp lut hp hiến hay không?

4.2. Bến b trách nhim

Những ai phải chịu trách nhiệm về tình trạng vi hiến tràn lan và chất lượng quá thấp của Hiến pháp và của các luật? Hiển nhiên là các đại biểu Quốc hội, những người đã biểu quyết thông qua chúng. Có thể họ sẽ chỉ tay lên trời, ám chỉ cái nơi điều khiển tuyệt đối và toàn diện hoạt động của Quốc hội. Đáp lại, có thể hội trên trời phẩy tay vặn lại: Chốn nào mới là nơi được hiến định quyền lập hiến và lập pháp?

Để trách nhiệm không như con đò vô chủ, bị đùn đẩy giữa dòng sông, mọi công dân nên nghiêm túc nhìn nhận phần mình, cho trách nhiệm một bến bờ neo đậu. Vâng, những người đã và sẽ tham gia bỏ phiếu bầu ra Quốc hội với tâm và tầm như vậy hãy tự trách mình, trước khi trách cái sản phẩm do chính mình tham gia bầu ra.

Nếu cử tri nào nghĩ là mình vô can, bởi cho rằng tất cả các đại biểu Quốc hội đều do thế lực thực quyền lựa chọn và xác định mà thôi, thì hãy chịu khó ngồi yên ở nhà, để cho giới cầm quyền tùy thích tự biên tự diễn, và tự tạo ra cái danh sách đại biểu như ý. Xin ông hay bà đừng sốt sắng xông lên sân khấu sắm vai hề, kẻo mang tội phung phí tiền của Dân để lừa Dân. Nếu cho rằng bầu cử chỉ là hình thức, thì đừng hạ mình tham gia một trò chơi hình thức, mà tác hại thì thực chất và trầm trọng.

Ngoài bốn nguyên tắc bầu cử Quốc hội là “ph thông”, “bình đng”, “trc tiếp” và “b phiếu kín”,Hiến pháp CHLB Đức còn quy định thêm nguyên tắc“t do”. Khi bầu cử là “t do”, thì công dân có quyền“t do” tham gia hay không tham gia. Thành thử,trong kỳ bầu cử Liên bang năm 2013, chỉ có 71,5% cử tri tham gia, mà không ai có thể gây khó dễ cho số 28,5% cử tri còn lại. Như đã viết trong phần 1, ở Việt Nam Hiến pháp 1946 đã từng quy định tại Điều thứ 17, rằng “b phiếu phi t do”. Tuy bốn Hiến pháp tiếp theo không nhắc lại nguyên tắc “t do”, nhưng cũng ch hiến đnh rng công dân có quyn, ch không b bt buc phi tham gia bu c Quc hi. Mà dù có muốn thì cũng không thể quay ra hiến định “b phiếu là bt buc”, một khi Hiến pháp khai sinh của chế độ đã long trọng tuyên bố “b phiếu phi t do”, bởi nếu hành động như thế sẽ bị dư luận coi là tráo trở trắng trợn. Cũng chính vì thừa nhận công dân có quyn t do không tham gia bu c, nên Điều 78 Luật BCĐBQH 2015 mới xét đến trường hợp chưa đạt quá nửa tổng số cử tri tham gia bầu cử, mà quy định rằng:

“Kết qu bu c… ch được công nhn khi đã có quá mt na tng s c tri trong danh sách c tri ti đơn v bu c tham gia bu c, tr trường hp quy đnh ti Khon 4 Điu 80 ca Lut này.”

Và Khoản 4 Điều 80 của Luật này quy định:

“Nếu bu c li mà s c tri đi bu c vn chưa đt quá mt na tng s c tri trong danh sách c tri thì kết qu bu c li được công nhn mà không t chc bu c li ln th hai.”

Hiến pháp và Luật BCĐBQH đều không quy định công dân bắt buộc phải tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội, thì tại sao vẫn tham gia, khi cho rằng bầu cử không thực chất? Nếu đâu đó trưng lên khẩu hiệu“tham gia bu c đi biu Quc hi và Hi đng Nhân dân là quyn và nghĩa v ca công dân”, thì đừng chấp, vì đó chỉ là phát biểu riêng của một số cá nhân. Họ nói dzậy nhưng không nhất thiết nghĩ và hành động như dzậy. Chính họ cũng tuyên bố, mọi người đều phải “sng và làm vic theo Hiến pháp và pháp lut”, song bản thân lại thường xuyên vi phạm, thậm chí chà đạp lên Hiến pháp và pháp luật.

Bởi vậy, nếu chẳng xem bầu cử đại biểu Quốc hội là một trò tiêu khiển, thì chỉ nên tham gia khi bản thân nhận thức đó là trách nhiệm, đồng thời dựa trên giả định, rằng bầu cử cũng có chút ít thực chất, và ít nhất thì lá phiếu bầu của bản thân phải là thực chất. Đương nhiên, không thể coi bản thân có tinh thần trách nhiệm và lá phiếu bầu của mình là thực chất, nếu không hề biết hoặc không có đủ hiểu biết cần thiết về người ứng cử mà cũng bầu, để rồi mới rời khỏi nơi bỏ phiếu đã chẳng nhớ nổi mình vừa bầu ai, gạch ai.

Có một lý do khách quan có thể biện hộ chút ít cho cử tri về chứng chóng quên tên người mà mình đã bầu. Đó là mỗi đơn vị bầu cử có thể bầu đến ba đại biểu. Khó khăn nhớ tên đại biểu sẽ giảm hẳn, hơn nữa còn thu được những ưu điểm khác nữa, nếumi đơn v bu c ch bu đúng mt đi biu, như ở CHLB Đức và Pháp (xem Phụ lục 6).

Khá dễ thống nhất với những cử tri nghiêm túc cái quan điểm, là muốn bầu cho một người ứng cử nào đó thì phải biết tương đối rõ về người ấy. Song thế nào gọi là “biết”?

Đừng ngộ nhận là mình đã biết người ứng cử, sau khi xem bức ảnh màu mè và đọc họ tên cùng mấy dòng trích ngang lý lịch ngắn ngủi treo ở phòng bỏ phiếu. Hay sau khi mình may mắn thuộc vào một vài phần nghìn cử tri được tham gia màn “Hi ngh tiếp xúc c tri”, để nghe mấy lời giới thiệu sơ sài về những người ứng cử. Có lẽ những cử tri nghiêm túc ở Bến Tre, từng tham gia bầu Phó Bí thư thường trực Tỉnh uỷ tỉnh Bến Tre Trần Văn Truyền làm đại biểu Quốc hội khóa X, và bầu Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự Đảng, Tổng Thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền làm đại biểu Quốc hội khóa XII, đã tưởng rằng họ biết đủ rõ về ông, cho đến ngày ông bị báo chí phanh phui đủ chuyện, khiến Ủy ban Kiểm tra Trung ương phải điều tra và kết luận, dẫn tới việc một phần trong số tài sản tham nhũng bị thu hồi.

Đừng tưởng tiếp nhận được thông tin ca ngợi, quảng cáo của đài báo chính thống thì mình đã có được thông tin khách quan và chính xác. Một ví dụ thời sự điển hình, được bao người biết tới, là Lê Xuân Giang, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Liên kết sản xuất thương mại Việt Nam (Liên kết Việt). Hay đi ô tô mang biển kiểm soát 80B…, rồi nhiều lần xuất hiện trên đài báo chính thống, với quân hàm đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam, lại được nhiều tướng và sĩ quan cấp tá tháp tùng. Vậy thì còn gì để nghi ngờ nữa? Tiếc rằng, với lòng tin ngây thơ, được báo chí chính thống chắp thêm đôi cánh, 6 vạn người đã nhẹ nhàng sa vào cái bẫy bán hàng đa cấp của tên trùm lừa đảo.

Tóm lại, mỗi cử tri trung thực và có tinh thần trách nhiệm cần cân nhắc thận trọng. Chẳng bầu cho những người mình không tín nhiệm đã đành, cũng không thể bầu cho những người mà mình không có đủ hiểu biết về họ. Nói gọn lại, nguyên tắc bầu cử trung thực và có trách nhiệm phải là: KHÔNG BIT KHÔNG BU.

Nguyên tắc này hoàn toàn phù hợp với Khẩu hiệu 02, một trong hai khẩu hiệu được văn bản hướng dẫn của số 1327/HD-BNV của Bộ Nội vụ (ban hành ngày 19/4/2011) quy định phải treo ở “hai bên tường phòng b phiếu”. Nội dung của nó là: “Sáng sut la chn nhng người tiêu biu có đ đc, đ tài bu vào Quc hi…”. Rõ ràng, nếu cử tri không biết chắc một người ứng cử “có đ đc, đ tài” hay không, thì phải khiêm tốn mà thừa nhận trung thực rằng mình KHÔNG BIẾT, và vì vậy KHÔNG BẦU cho người đó. Không thể sĩ diện, làm như thể mình biết, rồi bầu bừa một cách vô trách nhiệm. Nếu bầu cho người mà mình không biết có thật sự xứng đáng làm đại biểu Quốc hội hay không, thì bản thân cũng không xứng đáng là cử tri.

Trường hợp xấu nhất là danh sách ứng cử chỉ có những người mà mình không biết, hoặc biết nhưng không tín nhiệm. Nếu vậy thì không thể bầu cho ai cả. Đó là kết luận mà mọi cử tri trung thực và có tinh thần trách nhiệm đều phải rút ra.

Điều 74 Luật BCĐBQH 2015 quy định rằng “phiếu gch xóa hết tên nhng người ng c là “phiếu bu không hp l. Thì đã sao? Không hợp lệ chỉ là quan niệm lệch lạc của phía cầm quyền. Đối với bản thân cử tri, thì quan trọng nhất là lá phiếu phải hợp với lòng mình. Với người tử tế, phiếu bầu bị coi là không hợp lệ nhưng vô hại vẫn còn tốt hơn hẳn, so với phiếu bầu được coi là hợp lệ mà có hại cho Dân, cho Nước.

Cả những cử tri yêu chế độ và đồng cảm với giới cầm quyền cũng chẳng cần phải băn khoăn, về việc lá phiếu bầu của mình bị bộ máy tổ chức bầu cử của chế độ coi là không hợp lệ. Vì những lá phiếu trắng không chỉ là vô hại, mà chúng còn có tác dụng thức tỉnh. Vâng, chúng nhắc nhở những người ứng cử cần cố gắng hơn, và nhắc nhở bộ máy tổ chức phải thận trọng, chu đáo hơn trong lần bầu cử tiếp theo. Ngược lại, nếu vì muốn làm hài lòng giới cầm quyền, mà nhắm mắt bầu bừa cho cả những người mà mình không hề biết hoặc không có đủ hiểu biết cần thiết, thì đó là hành vi tham gia lừa dối Nhân dân, lừa cả bản thân người ứng cử và lừa chính bộ máy tổ chức bầu cử.

Cũng đừng tự dày vò, rằng mình thiếu hiểu biết về những người ứng cử, bởi đó không phải là lỗi của bản thân, mà là lỗi của chính cơ quan tổ chức bầu cử. Họ chẳng triển khai mọi biện pháp cần thiết, cũng chẳng tạo mọi điều kiện cho những người ứng cử tự thể hiện, nhằm giúp tất cả cử tri hiểu rõ về từng người ứng cử. Dù may mắn thuộc vào một vài phần nghìn cử tri được tham gia “Hi ngh tiếp xúc c tri”, thì sau khi nghe mấy lời giới thiệu ngắn ngủi, cử tri cũng không thể biết rõ từng người ứng cử “có đ đc, đ tài” hay không. Nếu ăn nói kém cỏi thì có thể tạm coi là không “đ tài”. Nhưng nếu nói năng rất hay thì chưa thể coi là “đ đc”, bởi vì đám đạo đức giả thường ăn nói giỏi hơn người. Hơn nữa, một khi những người ứng cử chỉ độc diễn kể lể về bản thân, chứ họ không hề công khai tranh luận với nhau, thì làm sao cử tri có thể biết được ai đúng ai sai, ai hơn ai kém, để mà “sáng sut la chn nhng người tiêu biu” theo yêu cầu của Khẩu hiệu 02?

4.3. Phân thân đôi ng?

Bài học KHÔNG BIT KHÔNG BU đã được rút ra ở cuối bài Não lòng vi Hiến pháp. Những tưởng như thế là đã rõ phương châm hành động. Ai dè đến bài này thì ta lại vương vào một mối băn khoăn mới, khó tìm ra câu trả lời thỏa đáng.

Nhận thức quan trọng vừa thu được là: Lut BCĐBQH 2015 vi phm nghiêm trng tt c bn nguyên tc bu c “ph thông”,”bình đng”, “trc tiếp” và “b phiếu kín”, được hiến đnh ti Điu 7 Hiến pháp 2013. Hơn nữa, nếu không có thay đổi đột biến, truyền thống vi hiến của các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội trước đây lại có thể được tiếp diễn. Bên cạnh những hệ quả vi hiến tất yếu của Luật BCĐBQH, còn vô số hành vi vi hiến được bộ máy tổ chức chủ động “sáng to ngoài khuôn khổ pháp luật. Vậy phải ứng xử sao đây?

Nếu vì thế mà không đi bầu đại biểu Quốc hội, thì lại đánh mất một cơ hội, để thể hiện chính kiến công dân và đóng góp cho mục tiêu bầu ra một Quốc hội tốt hơn trước, cho dù tỷ trọng của một lá phiếu cử tri là rất nhỏ. Và nếu không đi bầu thì lại áy náy về trách nhiệm công dân, mặc dù trách nhiệm đó do mình tự đặt ra cho bản thân, chứ không hề được hiến định.

Song nếu tham gia cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội được tiến hành theo một Luật BCĐBQH vi hiến, lại bị những thế lực “không ngi vi hiến” chi phối toàn diện và triệt để, thì lại tòng phạm trong việc vi phạm Hiến pháp. Sự tham gia của đông đảo cử tri sẽ khiến thế lực cầm quyền chủ quan, yên tâm rằng họ đã luật định rất đúng, hoặc dù có luật định sai thì dân trí thấp đến mức chẳng ai nhận ra mà phản ứng, nên cũng chẳng cần phải sửa.

Thực trạng vi hiến khiến những công dân vừa có ý thức trách nhiệm đối với Tổ quốc và Nhân dân, vừa tôn trọng pháp luật hiện hành, lâm vào tình trạng khó xử, băn khoăn đứng trước ngã ba đường. Cả hai ngả đều vấp phải cái quá dở. Biết chọn ngả nào đây?

Chẳng thể phân thân, mong vẹn toàn đôi ng. Nên mỗi người phải tự cân nhắc và quyết định, sao cho phù hợp nhất với lương tâm và quan điểm của chính mình.

* * * * * * * * * *

Ph lc 1: Bin pháp đm bo cho c tri có th b phiếu kín

Khoang viết phiếu kín đáo cho từng cử tri đã được sử dụng hơn một trăm năm (Ảnh 1). Kín đáo nhất là che cả bốn phía, và để tiết kiệm thì có thể dùng vải treo lơ lửng, chỉ che nửa người trên (Ảnh 2). Nếu ai đó cố ngụy biện, rằng như vậy cũng đã quá tốn kém, thì hãy nhớ tới đống tiền vung vãi cho rừng cờ quạt biểu ngữ. Chỉ cần bớt một phần nhỏ những khẩu hiệu “muôn năm”“đi đi”“nhit lit”… thì đã thừa vải để che chắn các khoang bầu cử (Ảnh 3 và 4). Thậm chí, có thể dùng chính cờ quạt, biểu ngữ mà che chắn (Ảnh 5).  Một số nơi chỉ che kín phía trước mặt và hai bên, còn phía sau được che chắn bởi chính thân thể cử tri (Ảnh 6). Trong trường họp ấy thì cử tri thường đứng chứ không ngồi, để khi cúi gập người mà viết thì che kín lá phiếu, đến mức người đứng sau khó nhìn thấy. Trong Ảnh 7 là một kiểu bảo mật bầu cử độc đáo ở Trung Quốc. Nhờ cái hốc gỗ đủ hẹp được che hai bên, phía trước và cả phía trên, dù cử tri ngồi hay đứng để viết thì người khác đứng ở đâu cũng không nhìn thấy lá phiếu, và camera đặt ở đâu cũng không thể ghi hình. Còn ở Mỹ thì có cả những khoang bầu cử gọn nhẹ, có thể gấp lại như một chiếc va li nhỏ khi không sử dụng (Ảnh 8).

Điều đáng nói là: Khoang bầu cử không phải là thứ đặc sản dành riêng cho những xứ giàu có văn minh, mà còn được phổ cập ở cả những vùng nghèo hẻo lánh (Ảnh 9, 10, 11 và 12). Tiếc rằng, trong khi khoang bầu cử được thiết lập nghiêm túc ở cả hai nước láng giềng Lào (Ảnh 13) và Campuchia (Ảnh 14), thì chúng vẫn còn khá xa lạ ở Việt Nam. Không hiểu bao giờ thì trình độ tổ chức bầu cử của giới cầm quyền Việt Nam mới đuổi kịp đồng nghiệp ở Lào và Campuchia?

 clip_image001  clip_image002
Ảnh 1: Khoang bầu cử (bên trái) ở New York vào khoảng năm 1900 Ảnh 2: Khoang bầu cử được che kín bằng vải (Đức)
 clip_image003  clip_image004
Ảnh 3: Cổ động bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII tại Hà Nội Ảnh 4: Cổ động bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII tại Hà Nội
 clip_image005  clip_image006
Ảnh 5: Có thể che kín khoang bầu cử bằng cờ Ảnh 6: Khoang bầu cử được che ba phía (Vương quốc Anh)
 clip_image007  clip_image008
Ảnh 7: Khoang bầu cử được che cả phía trên (Trung Quốc) Ảnh 8: Khoang bầu cử có thể gấp vào như chiếc va li con (Mỹ)
 clip_image009  clip_image010
Ảnh 9: Khoang bầu cử ở Ethiopia Ảnh 10: Khoang bầu cử ở Ấn Độ
 clip_image011  clip_image012
Ảnh 11: Khoang bầu cử ở Indonesia Ảnh 12: Khoang bầu cử ở Thái Lan
 clip_image013  clip_image014
Ảnh 13: Khoang bầu cử ở Lào Ảnh 14: Tờ hướng dẫn bầu cử ở Campuchia (trong đó vẽ hai khoang bầu cử ở bên phải, tách biệt và quay lưng vào tường, để không có ai đứng ở phía sau cử tri đang viết phiếu bầu)

Ghi chú: Các bức ảnh trên được sưu tầm từ internet.

Ph lc 2: Văn bn dưới lut quy đnh v bu c đi biu Quc hi

Để các nhà lập pháp không ngụy biện, rằng đã hoặc sẽ có văn bản hướng dẫn dưới luật, cần lưu ý rằng văn bản “Hướng dn trình t t chc b phiếu, ni quy, trang trí phòng b phiếu bu c đi biu Quc hi khóa XIII và đi biu Hi đng nhân dân khóa 2011 – 2016″ (số 1327/HD-BNV, ngày 19/4/2011) của Bộ Nội vụ không hề đề cập đến biện pháp để đảm bảo nguyên tắc “b phiếu kín”, thậm chí không hề nhắc tới chữ “kín”. Nó quy định tỉ mỉ từng chi tiết, như “c chui có màu hng, xanh, tím… không dùng màu đen và trng”, cả nội dung và vị trí chính xác của “Khu hiu 01 và “Khu hiu 02″. Song nơi viết phiếu của cử tri chỉ được thể hiện trong Sơ đồ Mẫu 02 (kèm theo Hướng dẫn) bằng một hình chữ nhật dài, không hề có ghi chú nào liên quan đến yêu cầu “b phiếu kín”.

Về khía cạnh này thì Thông tư số 02/2016/TT-BNV ngày 1/2/2016 của Bộ Nội vụ hướng dẫn nghiệp vụ công tác tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021 đã tiến bộ hơn, vì có thêm câu sau:

“Nơi c tri viết phiếu bu cn có các vách ngăn đ bo đm c tri “b phiếu kín” theo quy đnh ca pháp lut v bu c.”

Tuy nhiên, khó có thể đánh giá quá cao Thông tư ấy. Vì sao?

Một mặt, tuy Thông tư số 02/2016/TT-BNV bổ sung thêm hướng dẫn về vách ngăn để bảo đảm cho cử tri “b phiếu kín”, nhưng đồng thời nó lại mắc phải những lỗi mới, mà Hướng dẫn số 1327/HD-BNV ngày 19/4/2011 không mắc phải. Ví dụ, Thông tư số 02/2016/TT-BNV quy định vị trí chính xác để treo Khẩu hiệu 01 và Khẩu hiệu 02, nhưng lại chẳng viết nội dung của hai khẩu hiệu ấy là gì. Ví dụ khác, Thông tư số 02/2016/TT-BNV viết rõ ràng rằng:“Cng ra vào và khu vc bên ngoài phòng b phiếu được trang trí theo Mu s 01 ban hành kèm theo thông tư này” và “Khu vc bên trong phòng b phiếu được trang trí theo Mu s 02 ban hành kèm theo thông tư này”. Song trong Mẫu số 01 và Mẫu số 02 (kèm theo Thông tư) lại không hề có vị trí nào để treo danh sách và tiểu sử tóm tắt của những người ứng cử, trong khi quy định rất chi tiết vị trí chính xác của những thứ khác (như cờ quạt, khẩu hiệu, biểu ngữ, danh sách cử tri…). Không có tiểu sử tóm tắt của những người ứng cử, thì cử tri phải bầu mò 100% hay sao?

Mặt khác, chưa chắc quy định “cn có các vách ngăn…” của Thông tư số 02/2016/TT-BNV còn sống sót để “đi vào cuc sng”, bởi lẽ chưa kịp rời khỏi Bộ Nội vụ thì nó đã bị… bay hơi. Thật vậy, quy định ấy không hề xuất hiện trong bài “B Ni v hướng dn nghip v công tác t chc bu c đi biu Quc hi khóa XIV và đi biu Hi đng nhân dân các cp nhim kỳ 2016 – 2021″, được đăng tại mục “Gii thiu văn bn mi” trên trang thông tin điện tử của Bộ Nội vụ. Bài giới thiệu ấy chỉ viết: “Khu vc bên trong phòng b phiếu được trang trí theo Mu s 02 ban hành kèm theo Thông tư này.” Trong khi Mẫu số 02 ấy lại chỉ vẽ một hình chữ nhật thật dài với chú thích “Bàn đ c tri la chn đi biu”, hoàn toàn không có biểu hiện gì của yêu cầu kín hay hở.

Vị trí treo danh sách và tiểu sử tóm tắt của những người ứng cử đã từng được quy định rõ trong Mẫu số 01 kèm theo Hướng dẫn số 1327/HD-BNV của Bộ Nội vụ (ban hành năm 2011). Nội dung chính xác của Khẩu hiệu 01 và Khẩu hiệu 02 đã từng được quy định hai lần trong Hướng dẫn số 1327/HD-BNV và Mẫu số 02 kèm theo. Song 5 năm sau, những quy định ấy đã biến khỏi Mẫu số 01 và Mẫu số 02 kèm theo Thông tư số 02/2016/TT-BNV của Bộ Nội vụ (ban hành năm 2016). Vậy lấy gì để đảm bảo, rằng quy định “cn có các vách ngăn…” trong Thông tư số 02/2016/TT-BNV sẽ được tái hiện trong các văn bản hướng dẫn sau này của Bộ nội vụ?

Thực tế kể trên càng chứng tỏ: Quc hi phi quy đnh đy đ nhng điu cn thiết trong Lut BCĐBQH đ đm bo bn nguyên tc bu c đã được hiến đnh. Không thể ỷ lại, phó mặc cho các cơ quan hành pháp ban hành văn bản dưới luật, để rồi chẳng thiếu thứ này thì lại thiếu thứ khác. Cũng không thể đòi hỏi các cấp thực thi phải tìm kiếm, xem có những văn bản hướng dẫn dưới luật nào mới được ban hành, rồi bói xem chúng đã quy định đầy đủ mọi điều cần thiết hay chưa, và nếu còn thiếu thì phải vá víu từ đâu.

Ph lc 3: V vic t chc b phiếu bu c cho c tri vãng lai

Nguyện vọng hàng đầu và cũng là quyền lợi tối thiểu của cử tri, là bầu ra các đại biểu Quốc hội đại diện cho địa phương mà họ sinh sống lâu dài. Vì vậy, khi chấp nhận cho cử tri vãng lai bỏ phiếu một cách thực chất, thì cũng phải chấp nhận cho họ lựa chọn từ danh sách ứng cử của đơn vị bầu cử “gc”, tức là đơn vị bầu cử tại nơi mà họ sinh sống, chứ không phải tại nơi mà họ chỉ đến chữa bệnh, an dưỡng hay bị tạm giam trong một thời gian ngắn. Nghĩa là cử tri vãng lai phải được nhận phiếu bầu in sẵn từ đơn vị bầu cử “gc” và phiếu bầu của họ phải được chuyển trở về đơn vị bầu cử “gc” để kiểm phiếu.

Song khu vực bỏ phiếu được thiết lập ở bệnh viện, nhà an dưỡng, trại tạm giam… (theo quy định củaĐiều 12 Luật BCĐBQH 1997 và Điều 11 Luật BCĐBQH 2015) khó lòng đáp ứng được nhu cầu bầu cử quá phân tán của nhiều cử tri vãng lai. Nơi đó chỉ có phiếu bầu in sẵn họ tên của những người ứng cử của đơn vị bầu cử sở tại, chứ không có phiếu bầu ghi cả họ tên của những người ứng cử thuộc bao đơn vị bầu cử khác rải khắp muôn phương.

Vậy nên, nếu những người đi chữa bệnh, an dưỡng và những người bị tạm giam được và chỉ được tham gia những cuộc bầu cử được tổ chức tại bệnh viện, nhà an dưỡng và trại tạm giam, thì đó cũng chỉ là tham gia bầu cử một cách giả tạo. Họ chỉ được bầu những người ứng cử mà bản thân hoàn toàn không quan tâm và cũng chẳng hề hiểu biết. Hơn nữa, những đại biểu Quốc hội được bầu ở đó đại diện cho đơn vị bầu cử sở tại, hơn là đại diện cho các cử tri vãng lai. Như vậy, về thực chất thì những cử tri đang xét cũng không được hưởng quyền bầu cử đích thực. Tức đây cũng là một dạng vi phạm nguyên tắc bầu cử “ph thông”.

Ngoài ra, việc để cho cử tri vãng lai tham gia bầu cử nhằm xác định đại biểu đại diện cho đơn vị bầu cử sở tại còn vi phạm nguyên tắc “bình đng” giữa các vùng miền, tạo ra kết quả sai lệch so với nguyện vọng đích thực của đa số cử tri địa phương. Chẳng hạn, giả sử ở đơn vị bầu cử A chỉ có vị Y là người ứng cử sinh sống và làm việc trên chính địa bàn của đơn vị bầu cử ấy, còn những người ứng cử khác đều đến từ các vùng khác, do được Hội đồng bầu cử quốc gia phân về. Thông thường thì đa số cử tri của đơn vị bầu cử A muốn bầu cho vị Y để đại diện cho địa phương mình. Nhưng các cử tri vãng lai đang bị tạm giam tại nơi đó lại gạch tên vị Y, đơn giản vì vị ấy là công an. Hoặc các cử tri vãng lai đang điều trị tại những bệnh viện nằm trên khu vực đó gạch tên vị Y, để bầu cho những người khác, vì muốn ủng hộ người ứng cử là đồng hương của họ. Hậu quả là vị Y bị trượt và không có đại biểu Quốc hội nào thực sự đại diện cho địa phương ấy, chỉ vì ở đó có trại giam đủ to, hay mấy bệnh viện đủ lớn.

Sáng kiến cho phép thành lập các khu vực bỏ phiếu cho cử tri vãng lai có lẽ xuất phát một phần từ căn bệnh hình thức. Phía lập pháp chỉ cố quy định bằng được, rằng việc bỏ phiếu của một loại cử tri nào đó phải diễn ra, nhằm chứng tỏ mình tôn trọng quyền bầu cử của đối tượng ấy, chứ chẳng quan tâm và cũng chẳng đủ sức quan tâm, xem việc bỏ phiếu ấy có thực sự chính đáng và có thể diễn ra một cách hợp lý, tử tế hay không.

Ph lc 4: Bu c ngh sĩ Quc hi CHLB Đc

Theo Luật về các đảng chính trị của CHLB Đức, các đảng phải là những hiệp hội của công dân muốn tác động vào quá trình hình thành ý muốn chính trị của nhân dân và muốn tham gia đại diện cho nhân dân trong Quốc hội Liên bang và Quốc hội của các bang; và một hiệp hội sẽ đánh mất cương vị đảng hợp pháp nếu trong vòng 6 năm không tham gia bầu cử Quốc hội Liên bang hay Quốc hội của các bang với danh sách đề cử riêng (Điều 2). Tức là việc đề cử nghị sĩ Quốc hội không chỉ là quyền, mà còn là nghĩa vụ pháp định của các đảng. Trong bối cảnh văn minh ấy, không một thế lực nào, kể cả đảng đương cầm quyền, dám mơ tưởng đến việc dùng những thủ đoạn xấu xa để cản trở các đảng khác đề cử nghị sĩ Quốc hội.

Trong cuộc bầu cử Quốc hội CHLB Đức khóa 18 vào năm 2013, 30 đảng đã đăng ký 233 danh sách đề cử tại các bang, với 3.446 ứng cử viên. Đồng thời, có 2.705 cá nhân ứng cử trực tiếp tại 299 đơn vị bầu cử, trong đó 2.624 cá nhân thuộc về các đảng và 81 ứng cử viên độc lập. Tổng cộng có 4.451 ứng cử viên, trong đó có 1.700 người vừa có mặt trong một danh sách đề cử của đảng mình, vừa xuất hiện với tư cách cá nhân ứng cử tại một đơn vị bầu cử nào đó.

Theo quy định, mỗi cử tri Đức được bỏ một lá phiếu với hai ý kiến bầu cử. Ý kiến thứ nhất bầu cho một cá nhân ứng cử tại đơn vị bầu cử của cử tri. Ý kiến thứ hai bầu cho một đảng tham gia bầu cử tại đó với một danh sách đề cử. Ý kiến thứ nhất được dùng để xác định cho mỗi đơn vị bầu cử một nghị sĩ Quốc hội, tổng cộng là 299 nghị sĩ đại diện cho 299 đơn vị bầu cử. Ý kiến thứ hai được dùng làm cơ sở để phân chia tỷ lệ ghế nghị sĩ Quốc hội cho các đảng, trong đó các nghị sĩ còn lại (ngoài số 299 nghị sĩ đã được xác định đích danh bởi ý kiến thứ nhất) được lấy từ danh sách đề cử của các đảng.

Tại cuộc bầu cử năm 2013, bình quân có 2.705/299 = 9,0 cá nhân ứng cử cho với mỗi ghế nghị sĩ đại diện cho đơn vị bầu cử (được xác định bởi ý kiến thứ nhất). Kết quả là, trong số 299 nghị sĩ Quốc hội thuộc diện này, chỉ có 99 nghị sĩ (63 của đảng CDU, 34 của đảng CDU, 2 của đảng SPD) đạt được đa số tuyệt đối, tức là trúng cử với trên 50% phiếu bầu. 30 nghị sĩ của CDU và 14 nghị sĩ của SPD trúng cử với tỷ lệ phiếu bầu dưới 40%. Có hai nghị sĩ (một của đảng SPD và một của đảng DIE LINKE) trúng cử với số phiếu bầu 28,3%.

Sáu đảng đạt tỷ lệ phiếu bầu từ 5% trở lên theo ý kiến bầu cử thứ hai, để được tham gia Quốc hội và chia nhau 631 – 299 = 332 ghế nghị sĩ còn lại, là CDU, SPD, DIE LINKE, GRÜNE và CSU, với tỷ lệ phiếu bầu tương ứng là 34,1%, 25,7%, 8,6%, 8,4% và 7,4%. Tức là không có đảng nào đạt được trên 50% phiếu bầu.

Ví dụ này cho thấy, trong một chế độ thực sự dân chủ và tôn trọng quyền ứng cử của công dân, như CHLB Đức, nếu đòi hỏi người trúng cử phải đạt trên 50% phiếu bầu, thì sẽ chỉ bầu được một phần nhỏ của số nghị sĩ Quốc hội cần bầu.

Ph lc 5: Quy đnh v trúng c ti CHLB Đc và Pháp

Điều 5 Luật Bầu cử CHLB Đức quy định:

“Mi đơn v bu c được bu mt ngh sĩ. Trúng c là người ng c nhn được nhiu phiếu nht.Trong trường hp s phiếu bng nhau thì ph trách đơn v bu c quyết đnh bng cách rút thăm.”

Với quy tắc này, bao giờ mỗi đơn vị bầu cử cũng bầu ra được đúng một nghị sĩ cần thiết. Một điều nữa đáng lưu ý là quy định: “Trong trường hp s phiếu bng nhau thì ph trách đơn v bu c quyết đnh bng cách rút thăm”. Nó khác hẳn quy định ở Việt Nam, tại Điều 78 Luật BCĐBQH 2015:

“Trường hp cui danh sách trúng c có nhiu người được s phiếu bu bng nhau và nhiu hơn s lượng đi biu được bu đã n đnh cho đơn v bu c thì người nhiu tui hơn là người trúng c.”

Theo đó, nếu có hai người ứng cử được số phiếu bầu bằng nhau, thì Quốc hội CHXHCN Việt Nam ưu tiên tiếp nhận cụ già 90 tuổi, chứ không phải bạn trẻ mới 45 tuổi. Ngạc nhiên chưa? Cứ tạm coi các cụ già vẫn còn tỉnh táo và dồi dào sức khỏe giống hệt thanh niên, thì rõ ràng quy định này vi phạm nguyên tắc bầu cử “bình đng” (giữa các lứa tuổi).

Pháp áp dụng một quy tắc bầu cử khác. Mỗi đơn vị bầu cử được bầu đúng một trong tổng số 577 nghị sĩ Quốc hội, với không quá hai vòng bầu cử. Trong lần bầu cử ban đầu, trúng cử là người có được sự ủng hộ của đa s tuyt đi (tức là hơn 50%) trong tổng số phiếu bầu và đồng thời đạt được phiếu thuận của hơn 25% số cử tri đăng ký tại đơn vị bầu cử ấy (kể cả những cử tri không đến bỏ phiếu). Đơn vị bầu cử nào không có ai trúng cử tại lần bầu thứ nhất thì tiến hành bầu lần thứ hai. Trong lần bầu thứ hai, chỉ một phần ứng cử viên được tham gia tiếp, đó là những người đã được ít nhất 12,5% số phiếu thuận của toàn bộ cử tri (đã đăng ký tại đơn vị bầu cử) tại vòng một, và thắng cử là người đạt được sự ủng hộ của đa s tương đi (tức là giành được nhiu phiếu nht). Như vậy, chỉ những đơn vị bầu cử mà mọi người ứng cử đều đạt được phiếu thuận của ít hơn 12,5% cử tri đăng ký thì mới không tiến hành bầu cử vòng hai. Còn khi đã được tiến hành vòng hai thì nhất định có người trúng cử. Về lý thuyết, vẫn có thể tồn tại những đơn vị bầu cử không bầu ra được nghị sĩ Quốc hội (vì không đủ tiêu chuẩn để tổ chức bầu cử vòng hai), nhưng khả năng đó thấp hơn nhiều so với quy tắc đòi hỏi người trúng cử bắt buộc phải “được quá na s phiếu hp l, như trong Luật BCĐBQH của CHXHCN Việt Nam.

Ph lc 6: V quy tc “mi đơn v bu c ch được bu mt đi biu Quc hi”

Quy tắc này được áp dụng ở nhiều nước và có nhiều ưu điểm. Chẳng hạn, cử tri sẽ cân nhắc kỹ hơn là mình nên bầu cho ai, và cũng dễ nhớ hơn là mình đã bầu cho ai, để theo dõi xem người đó thể hiện thế nào trong vai trò đại biểu Quốc hội (nếu trúng cử). Và rồi mỗi đại biểu Quốc hội sẽ là người duy nhất phải đứng ra chịu trách nhiệm trước cử tri thuộc đơn vị bầu cử của mình, không thể thoái thác và dồn lên vai đại biểu khác. Hơn nữa, trong trường hợp số người ứng cử bị hạn chế như ở Việt Nam, để đảm bảo số người ứng cử nhiều hơn số người trúng cử, muốn bầu ra 500 đại biểu Quốc hội thì phải chấp nhận ít nhất 1000 người ứng cử. Như vậy sẽ có thêm ít nhất 1000 – 832 = 168 người có cơ hội lọt vào danh sách ứng cử chính thức, tăng 20,19% so với kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII vào năm 2011. Đó rõ ràng là một cải thiện dân chủ.

Quy tắc “mi đơn v bu c ch được bu mt đi biu Quc hi” có lợi hơn hẳn như vậy, tại sao nó không được áp dụng ở Việt Nam? Có lẽ do thế lực cầm quyền chẳng lo cải thiện dân chủ, mà chỉ muốn hạn chế danh sách ứng cử, nhằm gia tăng khả năng trúng cử của bản thân và đồng đội. Nếu mỗi đơn vị bầu cử chỉ được bầu một đại biểu, thì kể cả trong trường hợp chỉ có hai người ứng cử, vẫn có thể trượt cả hai khi họ đều đạt 50% số phiếu bầu, nghĩa là không ai “được quá na s phiếu hp l. Còn nếu mỗi đơn vị bầu cử được bầu hai đại biểu từ ba người ứng cử, hoặc bầu ba đại biểu từ bốn hay năm người ứng cử, thì khi những người ứng cử có uy tín gần giống nhau, tất cả họ đều có thể “được quá na s phiếu hp l. Một lần nữa ta thấy được tính chất phản động của “sát th hóa trang thánh thin”, là cản trở việc áp dụng quy tắc bầu cử hợp lý. Một lý do khác khiến nhà cầm quyền khó chấp nhận quy tắc “mi đơn v bu c ch được bu mt đi biu Quc hi”, là họ khó cài người từ trung ương về ứng cử ở địa phương. Bởi khi đó, nếu người ứng cử của địa phương trúng cử thì người của trung ương trượt; còn nếu người của trung ương trúng cử thì chẳng có ai đại diện cho địa phương.

Hà Ni, ngày 21/3/2016

Cùng tác gi:

Oan c trĩu Hn Cây

Sai phm v t tng trong v án “Nguyn Hu Vinh cùng đng bn…”

Não lòng vi Hiến pháp

Bt mch Hiến… nháp

Hiến pháp vi hiến

Hiến pháp 2013 – Sa nhm hay đi thit?

Đng và Nhân dân – V thế b tráo

Un khúc trong Điu 4 Hiến pháp

Ri cho Phương Uyên – May cho Dimitrov

Quc hiu nào hi t lòng Dân?

Ch đng ca Nhân dân trong Hiến pháp

Teo dn quyn con người trong Hiến pháp

Hai t huyt ca chế đ

Bài hc tn vong t thm ha

Lc cn Nhà nước pháp quyn

Mt s khía cnh hình s ca v án Tiên Lãng – Hi Phòng

Nhân v Tiên Lãng bàn v công v

Quyn biu tình ca công dân

Phiêu lưu đin ht nhân

V huyn thoi đin ht nhân giá r

Mn bàn v an toàn đin ht nhân

Nguồn: http://hpsc.iwr.uni-heidelberg.de/hxphu/index.php?page=readwriting&w=BauCuKieuGiKhiTeNgayTuLuat-20160321

Được đăng bởi bauxitevn vào lúc 07:35

Nhãn: Pháp Luật

Ghi chú: Các bức ảnh trên được sưu tầm từ internet.


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Danh mục

%d bloggers like this: