Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Năm 5, 2016

20160505. MẤT LÒNG TIN LÀ MẤT TẤT CẢ !

ĐIỂM BÁO MẠNG

MẤT LÒNG TIN LÀ MẤT TẤT CẢ

TÔ VĂN TRƯỜNG/ BVN 5/5/2016

Người ta thường nói mất tiền là mất ít, mất danh dự là mất nhiều và mất lòng tin là mất tất cả. Đất nước ta đang trong thời buổi chao đảo và khủng hoảng lòng tin của nhân dân đối với lãnh đạo, đối với giới khoa học và lòng tin giữa các thành phần trong xã hội. Riêng lòng tin của nhân dân đối với lãnh đạo và đối với hệ thống thông tin đại chúng chính thức, vốn đã lung lay thì trong thảm họa cá chết ở miền Trung đã có lúc suy giảm đến mức như không còn gì.

Lòng tin, xét cho cùng phụ thuộc vào người được tin chứ không phải người tin. Cây có ngay thì bóng mới tròn. Nhân dân khi nào và ở đâu cũng vậy, rất công bằng.

Ở các nước phát triển, mỗi khi xảy ra thảm họa do tự nhiên hay con người, dân chúng đều bình tĩnh và vững tin vào các biện pháp xử lý của chính quyền. Nhà cầm quyền hiểu rõ nguyên lý được lòng tin của dân chúng tức là sẽ giải quyết được sự cố nên họ phản ứng rất nhanh và có trách nhiệm với các giải pháp trước mắt và lâu dài. Và khi nào cũng vậy, họ minh bạch thông tin với dân chúng.

Ở Việt Nam thì khác. Thảm họa cá chết ở duyên hải miền Trung vừa qua là ví dụ điển hình. Trong bài viết này, tôi chỉ nhấn mạnh vài vấn đề được nhiều người quan tâm.

Giá trị các bài viết của giới khoa học

Trước phản ứng lúng túng, quá chậm, trống đánh xuôi kèn thổi ngược về thảm họa ở duyên hải miền Trung của các cơ quan chức năng trong nước, một số thông tin phân tích của các nhà khoa học có tác động rất lớn đến người dân trong nước, tiêu biểu như : “Vì sao cá chết hàng loạt dọc duyên hải miền Trung” của tác giả Nguyễn Minh Quang (Hoa Kỳ); “Thảm họa môi trường miền Trung và câu hỏi về một số quy chuẩn Việt Nam” tác giả Phạm Hồng Phong; Thông tin từ Email

thuytrangnguyen@gmail.com đã tìm ra các hóa chất nằm trong mẫu nước biển tại Vũng Áng được lấy ngày 24/4/2016 và đưa về Âu Châu thử nghiệm ngày 26/4/2016 bao gồm 5 hóa chất độc hại chính và Cyanide của Bác sĩ Tiến sĩ sinh vật/hóa học Nguyễn Thùy Trang v.v…

Tôi quen biết Nguyễn Minh Quang. Sau khi nhận được bình luận riêng của tôi về bài viết, anh Quang đã phản hồi nguyên văn như sau:

“Cảm ơn ý kiến của Trường về bài viết vừa qua. Đúng như Trường nói (và tôi cũng có nói), những dữ kiện mà tôi có được rất hạn chế, cho nên cái kết luận của tôi phải dựa vào “engineering judgment”, hoàn toàn dựa trên khả năng và kinh nghiệm chuyên môn của người phán đoán; do đó, kết luận của tôi có thể không còn thích hợp nếu có dữ kiện đầy đủ hơn.

Tôi nghĩ đây chỉ là những đóng góp rất nhỏ nhoi của một con dân Việt Nam ly hương để “trả một phần món nợ” của đồng bào và đất nước đã cưu mang tôi để có ngày hôm nay. Tôi rất mong những “ý kiến xây dựng của tôi” sẽ được cứu xét và áp dụng. Và đó chính là một danh dự và cũng là một phần thưởng cho một chuyên viên kỹ thuật, như tôi và Trường. Cảm ơn Trường vẫn còn nghĩ đến tôi”.

Để rộng đường công luận, tôi muốn giải thích rõ hơn. Hai bài báo của của anh Quang và anh Phong rất công phu, nhiều phân tích, đánh giá rất đáng suy ngẫm.

Dĩ nhiên cả hai bài báo nói trên phải dựa trên phán đoán vì làm gì có số liệu thực tế mà phân tích. Tuy nhiên, một số vấn đề cần được trao đổi lại/ hoặc kiểm tra lại.

Formosa chưa đi vào hoạt động, nên chưa có nước thải phải tuân thủ theo QCVN 52/2013, tức là chưa có Cr VI, xyanua, và có thể cũng chưa có nhiều amoni. Hiện nay, nước thải của Formosa mới chỉ là nước súc rửa, thử thủy lực đường ống. Sẽ có nhiều chất ô nhiễm liên quan phụ thuộc vào danh mục hóa chất sử dụng, phải tuân thủ theo QCVN 40:2011/BTNMT về nước thải công nghiệp.

Giấy phép xả thải của Formosa hiện nay không thích hợp để kiểm soát những chất ô nhiễm độc hại của một nhà máy luyện thép. Theo những giấy phép xả thải, ngoài những đòi hỏi cơ bản dựa trên tiêu chuẩn chung về nước thải, chẳng hạn như QCVN 40, giấy phép xả thải còn có những đòi hỏi đặc biệt tùy thuộc vào đặc tính của nước thải của từng nhà máy và phương pháp sản xuất. Thí dụ, giấy phép xả thải của một nhà máy luyện thép bao gồm việc luyện than coke thì phải bao gồm những chất ô nhiễm như anh Quang đã phân tích.

Anh Phong đặt vấn đề xem xét lại Quy chuẩn môi trường của VN. Theo tôi hiểu, so sánh QCVN 52 và QCVN 40 thì các chỉ số Cr VI, xyanua, tổng nito trong QCVN 52 “dễ dàng” hơn khi thải vào nguồn loại B là nguồn không dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt, cụ thể là Cr VI trong QCVN 52 quy định giá trị tối đa cho phép là 0,5 mg/l trong khi QCVN 40 quy định 0,1 mg/l; Tương tự với xyanua là 0,5 mg/l và 0,1 mg/l; tổng N là 60 mg/l và 40 mg/l. Việc ban hành tiêu chuẩn môi trường cho một số ngành trong đó một số thông số đặc thù “dễ dàng” hơn tiêu chuẩn môi trường chung là thông lệ quốc tế.

Tuy nhiên, các tiêu chuẩn môi trường đối với ngành đặc thù được ban hành nhằm để phục vụ mục tiêu quy hoạch các ngành đặc thù này vào một số vị trí mà môi trường xung quanh (môi trường tiếp nhận khí thải, nước thải) được coi là có khả năng tự làm sạch cao; hoặc là quy hoạch vào khu công nghiệp riêng để sau đó được xử lý tiếp trong hệ thống xử lý nước thải tập trung phù hợp với tính chất nước thải (với mục đích giảm chi phí cho doanh nghiệp nếu để từng doanh nghiệp phải xử lý nước thải đến tiêu chuẩn quy định).

Ở VN, việc thực hiện quy hoạch môi trường hầu như chưa được quan tâm, đấy chính là lý do vẫn còn có rất nhiều ý kiến băn khoăn về việc ban hành TCVN/QCVN cho từng ngành trong điều kiện việc lựa chọn vị trí đặt nhà máy và/hoặc vị trí xả thải chưa được cân nhắc đúng mức.

Xin lưu ý, tiêu chuẩn dành cho nguồn nước sinh hoạt của một vài chất ô nhiễm không thể áp dụng cho môi trường. Một thí dụ điển hình là chất clor (chlorine). Theo quy định của Cục Bảo vệ môi trường Mỹ (USEPA), nước thải sau khi qua nhà máy lọc (xử lý) nước thải phải được khử trùng bằng chlorine để giết vi trùng và vi sinh vật còn sót lại. Việc ấn định tiêu chuẩn môi trường cho Việt Nam “dễ dàng” hơn tiêu chuẩn môi trường trên thế giới có vẻ hợp lý ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam (vì lý do kinh tế). Tuy nhiên, đây là một thông lệ nên tránh, vì nếu tiêu chuẩn môi trường của Việt Nam thấp hơn tiêu chuẩn quốc tế thì thiệt hại có thể nhiều hơn. Chẳng hạn, như thủy hải sản của Việt Nam thường bị các quốc gia nhập cảng “từ chối” vì tiêu chuẩn môi trường của Việt Nam dễ hơn tiêu chuẩn quốc tế.

Thực tế, không thể yêu cầu xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn quy định đối với môi trường tiếp nhận, vì (yêu cầu đạt quy định càng nghiêm ngặt thì chi phí xử lý tăng lên gấp nhiều lần). Kinh nghiệm thế giới cũng lợi dụng khả năng tự làm sạch tự nhiên của nguồn tiếp nhận để giảm chi phí xử lý, cho nên bao giờ quy định giá trị tối đa cho phép trong nguồn thải cũng cao hơn giá trị giới hạn của chất lượng môi trường tiếp nhận. Đến đây lại quay về “bài ca muôn thuở” là quy hoạch môi trường.

Việc ngư dân “bất ngờ” hay “tình cờ” phát hiện đường ống xả thải chứng tỏ rằng quy định tham vấn cộng đồng và công khai tóm tắt báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) cùng Quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM đã không được làm đúng quy định trong Luật Bảo vệ môi trường. Dĩ nhiên, thời điểm năm 2008 khi phê duyệt ĐTM cho Formosa thì vẫn tuân thủ theo Luật BVMT 2005, trong đó các quy định tham vấn cộng đồng về ĐTM không cụ thể và chặt chẽ như quy định trong Luật BVMT 2014. Đây là một thiếu sót rất lớn trong quy trình xây dựng, thẩm định và phê duyệt ĐTM ở nước ta trước đây và nếu không có giám sát nghiêm túc thì thậm chí dù Luật BVMT 2014 đã sửa đổi vẫn khó hy vọng công tác tham vấn cộng đồng được tuân thủ đạt hiệu quả.

Điều quan trọng là cơ quan có trách nhiệm trong việc kiểm tra dự án có khả năng và kinh nghiệm chuyên môn hơn công ty xây dựng dự án hay không? Vì nếu không đủ khả năng và kinh nghiệm chuyên môn thì không thể biết điều gì sai và điều gì đúng; và người làm dự án sẽ “tự do” làm theo ý của mình.

Riêng thông tin từ Email thuytrangnguyen@gmail.com đã tìm ra các hóa chất nằm trong mẫu nước biển tại Vũng Áng được lấy ngày 24/4/2016 và đưa về Âu Châu thử nghiệm ngày 26/4/2016 bao gồm 5 hóa chất độc hại chính và Cyanide của Bác sĩ Nguyễn Thùy Trang, Tiến sĩ Sinh Vật/Hóa học gây sốc trong công luận.

Tôi nghi ngờ về thông tin này bởi vì tác giả không cho biết phương pháp phân tích, và nồng độ các chất độc, v.v. Các chất độc theo thời gian dễ bị phân tán và hòa loãng trong nước biển. Tuy nhiên, các kim loại nặng và các chất hữu cơ khó phân hủy (PCB, PAHs) đều tồn tại lâu và lắng đọng trong trầm tích. Cần có phân tích mẫu trầm tích để minh chứng. Mặt khác, tác giả còn đề cập đến có 90 người chết bị ngộ độc mà không đưa ra được nguồn tin kiểm chứng?

Cảnh giác với thông tin ngụy tạo

Trên mạng xã hội đưa ra hình ảnh “Tô giới Vũng Áng” với Quốc huy, hàng chữ Trung Hoa nhân dân cộng hòa quốc – Tô giới Vũng Áng- Nghiêm cấm người Việt lai vãng. Thoạt nhìn hình ảnh này, ai cũng căm phẫn sự ngạo mạn, trắng trợn của Tàu và oán trách nhà cầm quyền. Tuy nhiên, nếu bình tĩnh xem xét sẽ thấy những điều vô lý.

Thông thường, những bảng chỉ báo luôn được đặt ở bên lề đường thì cái bảng này lại bị đặt chình ình lấn vào lộ giới. Những chữ đề trên bảng bao giờ cũng được khắc cân đối thì ở đây (3 hàng cuối cùng) do cẩu thả nên để ở “align left” – lộ tẩy (!) (Xem hình ở dưới đây).

Nhưng, dù điều này không có thật thì “tô giới” này cũng đã và đang hiện hữu trong lòng rất nhiều người dân Việt Nam! Minh chứng là ông Phạm Khánh Ly, Vụ phó Vụ Nuôi trồng thủy sản Bộ NN & PTNT đã phát biểu công khai ngày 21/4/2016 “Đoàn công tác không vào kiểm tra tại khu công nghiệp Vũng Áng vì đây là khu công nghiệp có yếu tố nước ngoài, đoàn không có thẩm quyền”!?

Nhìn kỹ đây là hình ảnh ghép sản phẩm của photoshop.

Nhận thức là cả quá trình

Dòng chảy tại khu vực Vũng Áng (và Biển Đông) chủ yếu được hình thành từ 3 nguyên nhân: Thuỷ triều, gió mùa và dòng hải lưu Kuroshio. Thủy triều truyền vào từ eo Đài Loan và eo Luzon và có tính thuận nghịch. Khi triều lên, dòng chảy từ cửa vịnh Bắc Bộ hướng vào trong, chảy ngang qua Vũng Áng và khi triều xuống thì ngược lại. Vận tốc dòng triều có thể lên tới vài chục cm/s.

Dòng do gió mùa thì phức tạp hơn do vịnh Bắc Bộ là vùng biển bán hở. Tác dụng của dòng Kuroshio sâu vào vịnh Bắc Bộ không đáng kể nên có thể bỏ qua. Như vậy, dòng chảy ở Vũng Áng có xu thế chủ đạo là hướng về phía Nam. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của thủy triều, lúc thủy triều lên dòng chảy vẫn hướng ngược lên phía Bắc nhưng yếu hơn so với lúc chảy về Nam.

Trong thời gian đầu cá chết phía Bắc, sát ngay Vũng Áng là do dòng triều mang chất độc lên rồi sau đó vùng cá chết từ từ dịch chuyển về phía Nam là do xu hướng dòng chảy chủ đạo, hoàn toàn phù hợp với nghi ngờ của nhiều người là có khả năng Formosa thải chất độc ra biển. Trong bài viết trước đây, tôi đã nói rõ cách thức kiểm nghiệm Formosa có phải là thủ phạm hay không liên quan đến việc sử dụng 296 tấn hóa chất độc.

Chất độc khi thải ra biển, lợi dụng khả năng tự làm sạch theo thiên nhiên là đúng với các chất hữu cơ dễ được vi sinh vật trong thiên nhiên phân hủy. Chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POP – persistent organic pollutants) như PCBs, PAHs thực chất coi như không phân hủy trong môi trường tự nhiên (cũng như các kim loại nặng) và do đó nếu xả nước thải có chứa các chất này ra môi trường thì phải đảm bảo đạt tiêu chuẩn quy định sao cho khi thải không làm nồng độ các chất này trong môi trường tiếp nhận bị vượt quá ngưỡng an toàn quy định, tức là ngưỡng giá trị giới hạn cho phép trong tiêu chuẩn tương ứng.

Còn đối với các chất vô cơ, nhất là kim loại nặng thì lượng xả ra bao nhiêu sẽ còn bấy nhiêu, chỉ phát tán trong dây chuyền thực phẩm chứ không được “làm sạch”. Kim loại nặng được tích tụ trong cơ thể sinh vật và nồng độ ngày càng tăng. Và đây là nguồn thực phẩm gây nhiễm độc mãn tính ở người khi sử dụng những thực phẩm có ô nhiễm này.

Bộ trưởng Trần Hồng Hà mới đây phát biểu lại: “Đến nay, Bộ TNMT đã đặt các công cụ quan trắc tại Vũng Áng và hoàn toàn có thể kiểm soát mức độ ô nhiễm của vùng biển này” . Người đọc, có thể hiểu Bộ trưởng không còn yêu cầu Formosa lôi cả 1,5 km đường ống xả đáy lên mặt biển.

Thông tin chính thức về chất lượng nước biển

Thông báo mới nhất của Bộ TNMT về kết quả phân tích cho thấy tất cả các mẫu nước biển ven bờ đều hầu như đạt quy định về chất lượng nước biển ven bờ, chỉ trừ mẫu nước ở Quảng Trị có 2 thông số Cd và Fe vượt giá trị giới hạn cho phép.

Khó hiểu là mẫu nước biển ven bờ ở Huế, không hiểu vì lý do gì, chỉ phân tích 9 thông số, trong khi Hà Tĩnh và Quảng Bình 16 thông số, Quảng Trị 15 thông số (không phân tích coliform), và lại thiếu đúng chỉ tiêu đang gây “bão” là Cr tổng. Trước đó, trên truyền thông đưa thông tin mẫu nước biển ven bờ ở Lăng Cô có chỉ tiêu Cr vượt quy định cho phép đến 6 lần, không rõ là chỉ tiêu Cr ở Lăng Cô là Cr VI hay Cr tổng.

Đồng nghiệp ở Tổng cục Biển cho tôi hay do không lấy mẫu kịp thời và đúng qui cách nên cá đã bị phân rã, kết quả phân tích không thuyết phục. Mặt khác, qui trình lẫy mẫu không đáp ứng yêu cầu chặt chẽ của khoa học, nên kết quả phân tích mẫu cá ở Lăng cô đã không được thừa nhận. Có vài mẫu cá đã được gửi đi phòng thí nghiệm của Nhật Bản để xét nghiệm và đang chờ kết quả.

Báo động về môi trường khi Formosa đi vào sản xuất

Tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn nghiên cứu rất kỹ báo cáo đầu tư của Công ty TNHH Gang Thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh đã trình từ 2008 trao đổi lại với tôi: Nội dung được lập hoàn toàn đối phó, không theo các quy định hiện hành của Luật đầu tư. Trong đó, đặc biệt là phần liên quan đến bảo vệ môi trường rất sơ sài nhưng trong một thời gian ngắn kỷ lục, chủ đầu tư đã được cấp đất và triển khai dự án.

Formosa là một dự án thuộc lĩnh vực luyện kim (có gắn với cảng biển và sản xuất nhiệt điện tự dùng). Công nghệ của nhà máy thuộc loại lạc hậu (phải sử dụng coke để luyện gang). Quy trình sản xuất gang thuộc loại liên hoàn và liên tục. Khối lượng chất thải các loại (rắn, lỏng, khí) rất lớn, có chứa nhiều chất độc hại, và được thải ra liên tục. Chỉ riêng chất thải lỏng được phê duyệt thải ra môi trường tới hàng chục nghìn m3/ngày.

Thế nhưng, việc quan trắc, giám sát từ phía các cơ quan của nhà nước lại chỉ thực hiện theo chu kỳ. Đặc biệt, việc xử lý các chất cực độc phát sinh từ công nghệ luyện coke-gang-thép đã không được kiểm soát khách quan và liên tục. Đây là một kẽ hở lớn mà chủ đầu tư có thể lợi dụng để chỉ cần trong vòng vài phút có thể thải hết ra biển hàng tấn chất cực độc như Chlorine, Phosphorous, Arsenic.

Dự án Formosa có nhà máy luyện gang thép với công nghệ lạc hậu, nên phải dùng than mỡ để luyện coke cho lò cao. Nhu cầu than mỡ hàng năm phải nhập khẩu là 3,623 triệu tấn để luyện ra 2,52 triệu tấn coke. Ngoài ra, hàng năm Formosa phải sử dụng khoảng 0,642 triệu tấn dolomit; 1,442 triệu tấn đá vôi, và 1,296 triệu tấn than cám.

Quy trình luyện coke thải ra rất nhiều độc tố vì than mỡ dùng để luyện coke thường có chứa các chất rất độc hại và nguy hiểm, như: sulphure (≈ 0,3%) chlorine (≈0,03%), phosphorous (≈0,001%); và arsenic (≈0,004%).

Như vậy, chỉ riêng 3 loại chất cực độc (là chlorine, phosphorous, và arsenic) chứa trong than mỡ đã khoảng 0,035%. Với lượng tiêu dùng 3,623 triệu tấn/năm, chỉ riêng khâu luyện coke sẽ thải ra môi trường dưới mọi hình thức ít nhất 1.268 tấn/năm chất cực độc nói trên.

Đáng lưu ý, những loại than dùng để luyện coke được Formosa nhập về VN đều là những loại than rẻ tiền. Thay vì nhập khẩu than mỡ, Formosa đã nhập khẩu than bitum vào VN để luyện coke. Cụ thể, năm 2014, Formosa đã nhập khẩu 960.466 tấn than bitum từ Indonesia với giá bình quân gần 84 U$/tấn và năm 2015, Formosa đã nhập khẩu 87.923 tấn than bitum từ Canada để luyện coke với giá bình quân 82 U$/tấn. Các thành phần độc tố nói trên trong các loại than bitum rẻ tiền này chắc chắn còn cao hơn nhiều so với trong than mỡ đắt tiền (khoảng 200 U$/tấn).

Nhà máy luyện coke của Formosa theo thiết kế có công suất 2,86 triệu tấn/năm. Như vậy, cũng theo thiết kế, lượng khí lò coke (COG) hàng năm lên tới 1,4 tỷ Nm3 (trong điều kiện bình thường) và thải ra khoảng 1,1 triệu tấn xỉ/năm. Ngoài than luyện coke, nhà máy này còn phải sử dụng 1.906 tấn dầu rửa/năm.

Điều đáng lo ngại là trong Báo cáo đầu tư, Formosa đã cố tình không đưa ra các đặc tính kỹ thuật cũng như các thành phần hóa học của các loại nguyên liệu đầu vào được đưa vào sử dụng trong dự án (trong đó có các thành phần độc tố trong than luyện coke và dầu rửa).

Lòng tin đâu có cần cho ai?

Đất nước ta đang trong thời buổi chao đảo và khủng hoảng lòng tin của nhân dân đối với lãnh đạo, đối với giới khoa học và lòng tin giữa các thành phần trong xã hội. Riêng lòng tin của nhân dân đối với lãnh đạo và đối với hệ thống thông tin đại chúng chính thức, vốn đã lung lay thì trong thảm họa cá chết ở miền Trung đã có lúc suy giảm đến mức như không còn gì. Nguyên nhân là do cách hành xử không chuyên nghiệp và yếu kém của những người có trách nhiệm, kể từ lãnh đạo cấp cao nhất (đi kiểm tra tiến độ của Formosa nhưng không thăm hỏi người dân đang điêu đứng về cá chết ở Hà Tĩnh).

Tuy nhiên, về sau, dù đã muộn, họ cũng đã nhận biết được một số điều và sửa chữa. Người dân nên chia sẻ và ủng hộ.

Tôi hoan nghênh những ý kiến nặng lòng với đất nước trong vụ việc này. Nhưng chỉ có thiện chí thôi thì vẫn không có ý nghĩa gì. Vấn đề là chứng cứ khoa học. Thậm chí trong những tranh chấp, dù mình tin chắc mười mươi, nhưng chứng cứ đưa ra bị bác thì vẫn thất bại như thường. Bởi vậy, ngay từ đầu bài viết này, tôi đã phân tích về sự tin cậy về một số công bố của ba nhà khoa học. Nhìn rộng hơn, tôi cũng ngạc nhiên, cái “thí nghiệm” về hai con cá chết trong 5 phút mà cũng có thể được khá nhiều người thừa nhận thì thật là đáng báo động về sự nông cạn và thiếu chuyên nghiệp trong tìm hiểu và xử lý vấn đề.

Nhưng trong một xã hội tâm lý bầy đàn còn khá nặng nề, kiến thức khoa học và năng lực nghiên cứu khoa học còn hạn chế, trong khi tâm lý không ưa Tàu đang dồn nén, thì mọi thứ có thể bị bung ra và người ta có thể “ném đá” tất cả những ai đòi hỏi một sự tỉnh táo.

Chỉ với những cái đầu lạnh, tỉnh táo mới vạch mặt được sự dối trá, bọn “đục nước béo cò”, mới mong thắng được những đối thủ cỡ như Formosa nếu nó sai. Và chúng ta đang thiếu những cái đầu như thế.

Mất bò, có thể không tìm được. Nhưng làm chuồng để ngăn mất bò tiếp, đó là việc hoàn toàn có thể làm được. Nếu không làm được thì đừng nói đến lòng tin nào. Lòng tin đó đâu có cần cho ai?

Thay cho lời kết

Người ta thường nói mất tiền là mất ít, mất danh dự là mất nhiều và mất lòng tin là mất tất cả. Lòng tin, xét cho cùng phụ thuộc vào người được tin chứ không phải người tin. Cây có ngay thì bóng mới tròn. Nhân dân khi nào và ở đâu cũng vậy, rất công bằng.

Việc tìm cho ra thủ phạm gây chết cá vừa qua vẫn còn là câu hỏi bỏ ngỏ, nhưng không thể để chìm xuồng. Sau cả tháng trời bị nước biển pha loãng nên kết quả phân tích chất lượng nước không thể phản ánh thực chất của vấn đề. Đối với Formosa, phải kiểm chứng việc sử dụng 296 tấn hóa chất độc hại. Phân tích nước và bùn thải ở bể lắng. Phân tích trầm tích các chất hàm lượng axit vô cơ và hữu cơ, lượng sắt hòa tan trong nước thải, ammoniac, nitrit, chất ức chế ăn mòn, v.v. mới đủ cơ sở đánh giá. Việc lấy mẫu, số loại mẫu và phương pháp phân tích phải thực sự bài bản, khoa học và công bố công khai, minh bạch mới có tính thuyết phục.

Mà sao người ta không lắng nghe lời khuyên của những người tâm huyết và có những hành động cần thiết, có lý, có tình?

T.V.T.

Tác giả gửi BVN

FORMOSA -CÁI UNG BIẾU KHÔNG THỂ GIẢI QUYẾT NỔI

THÀNH  NAM/ BVN 5-4-2016

Nếu tống tất cả chất thải của Formosa ra biển, chưa bàn đến ô nhiễm biển, cũng chưa tính toán kỹ các dòng hải lưu sẽ mang đi, thì chỉ trong vài tháng, biển Hà Tĩnh chúng ta sẽ lội tới đầu gối. Cá chết ở miền Trung chỉ là chuyện nhỏ mà toàn bộ Biển Đông cá sẽ tuyệt chủng –Thành Nam

Xin nêu lên một giả định sau đây: Nếu có một sự tự nguyện – điều e không bao giờ có – liệu moi hết những bọc đô la mà quan chức Hà Tĩnh và trung ương nhận từ Formosa trong mười năm nay, gộp lại, có mổ xẻ được “cục ung bướu” Formosa quẳng đi cho đất nước sạch hơn không thưa ông Thành Nam?

Bauxite Việt Nam

Với kinh nghiệm một doanh nghiệp đã từng làm về khoáng sản và luyện kim chúng tôi có một số nhận xét về FOMOSA như sau :

Với sản lượng thép của FOMOSA là 7.1 triệu tấn/năm.

Vậy FOMOSA sẽ phải thải ra môi trường xung quanh một lượng chất thải rắn thấp nhất là 7,1 triệu tấn/năm, tức 600.000 tấn/tháng: Thành phần của chất thải bao gồm: (Đất  đá + Các kim loại nặng ngoài sắt + Phốt pho, lưu huỳnh + hóa chất để lọc quặng).

(Xin bạn hãy lưu ý: Trong quặng sắt bao giờ cũng chỉ có trên 50% là sắt còn lại là các tạp chất khác).

Nếu nhà nước bố trí một mặt bằng rất lớn ở trên cạn và thành lập những núi thải lớn, thì FOMOSA cũng phải bố tri một đoàn xe hùng hậu để chở thải đi đổ chi cho vận tải chất thải là 30 tỷ VND/tháng.

Nếu tống tất cả ra biển, chưa bàn đến ô nhiễm biển, cũng chưa tính toán kỹ các dòng hải lưu sẽ mang đi thì chỉ trong vài tháng, biển Hà Tĩnh chúng ta sẽ lội tới đầu gối. Cá chết ở miền Trung chỉ là chuyện nhỏ mà toàn bộ Biển Đông cá sẽ tuyệt chủng.

Nếu Nhà nước buộc FOMOSA Phải tách các kim loại nặng & phốt-pho lưu huỳnh ra khỏi chất thải thì FOMOSA sẽ lỗ vốn chổng vó và phải đóng cửa ngay ngày hôm sau khi có lệnh ban bố của Nhà nước.

Còn một vấn đề khác hết sức nghiêm trọng mà tôi thấy hình như người Việt Nam chưa ai quan tâm, đó là: Nếu để làm ra 7.1 triệu tấn thép trong một năm, vậy mỗi năm FOMOSA cần phải đốt hết, thấp nhất là 4 triệu tấn than cốc. Cả một lượng khí CO2 khổng lồ thải ra trên bầu trời Việt Nam, không biết Nhà nước tính toán tới vấn đề này chưa, và FOMOSA  đã có hạn ngạch thải khí CO2 với quốc tế chưa?

Nếu buộc FOMOSA đóng cửa ngay lúc này, Nhà nước phải bồi thường 28 tỷ USD, đối với Việt Nam chúng ta là một việc quá sức vì hiện nay chúng ta đang phải đi vay mới để đảo nợ cũ.

Có 03 điểm tôi xin lưu ý bạn đọc là:

1- Bản chất của ngành luyện kim từ quặng là: Trong quặng kim loại, có rất nhiều các thành phần kim loại nặng khác nhau, người ta chỉ luyện, lọc ra loại kim loại có hàm lượng cao nhất, còn các kim loại khác có hàm lượng thấp sẽ là phế thải đổ đi.

2- Các kim loại nặng nếu được cô đọng thành thỏi sẽ không gây hại cho người. Nếu ở dạng các nguyên tử và trộn lẫn các tạp chất khác thì lại là thứ hết sức độc hại.

3- Ngành luyện kim không thể thu hồi tất cả các kim loại từ một chất quặng, nếu doanh nghiệp nào làm được việc đó thì cũng đồng nghĩa với sập tiệm.

· Điều khôn ngoan nhất đối với Nhà nước hiện nay là: Hủy bỏ xả thải của FOMOSA ra biển, tập kết nó về một bãi. Đó là thứ vật liệu làm gạch không nung và làm đường rất tốt.

· Nhà nước cần phải công bố công khai toàn văn: Bản thỏa thuận môi trường giữa FOMOSA và phía Nhà nước

T.N.(Doanh nhân khoáng sản và luyện kim)

FORMOSA HÀ TĨNH ‘ĐẺ NON’ VÀ PHỚT LỜ BẢO ĐẢM MÔI TRƯỜNG

TS. NGUYỄN THÀNH SƠN/ BVB 5/5/2016

Chúng tôi đã từng chủ trì và/hoặc tham gia soạn thảo và/hoặc thực hiện các thủ tục trình các cơ quan nhà nước phê duyệt các Báo cáo đầu tư, PFS, FS, ĐTM, các Hồ sơ mời thầu v.v. của các dự án nhiệt điện chạy than của TKV có tổng mức đầu tư mỗi dự án khoảng 120÷600 triệu U$.

Qua nghiên cứu Báo cáo đầu tư của dự án Formosa (2008) có tổng mức đầu tư giai đoạn đầu lên tới 7,897 tỷ U$, chúng tôi thấy tiến độ chuẩn bị đầu tư (từ khảo sát tình hình đến cấp giấy phép) của dự án này nhanh đến khó tin.

Đi sâu tìm hiểu, chúng tôi thấy cần nêu ra dưới đây những bất cập có liên quan đến trình tự/thủ tục đầu tư cũng như chất lượng của dự án Formosa để các cơ quan chức năng và/hoặc có thẩm quyền của VN tham khảo, góp phần nhanh chóng điều tra kết luận về nguyên nhân của vụ cá chết ở ven bờ biển miền Trung theo yêu cầu của Thủ tướng:

Tóm tắt dự án

Chủ đầu tư dự án liên hợp thép-cảng Sơn Dương Hà Tĩnh (gọi tắt là Formosa) gồm 6 công ty: Công ty cổ phần hữu hạn nhựa công nghiệp Đài Loan, Công ty cổ phần hữu hạn nhựa công nghiệp Nam Á, Công ty cổ phần hữu hạn sợi hóa học Đài Loan, Công ty cổ phần hữu hạn dầu khí Formosa, Công ty cổ phần hữu hạn công nghiệp nặng Formosa, và Công ty trách nhiện hữu hạn Sunsco Holding Ltd.

Dự án Formosa Hà Tĩnh được chia thành 3 giai đoạn:

– Giai đoạn 1 (gồm 2 bước): Bước 1-1, đầu tư liên hợp luyện gang thép và cảng công suất 7,5 triệu tấn/năm; Bước 1-2, sẽ nâng công suất lên đạt và 15 tr.t/năm; Tổng mức đầu tư bước 1-1 (gồm tổ hợp gang-thép và cảng biển Sơn Dương) khoảng 7,897 tỷ đô la.

– Giai đoạn 2: xây dựng tổ hợp nhà máy lọc dầu công suất 15 tr.tấn dầu thô/năm và 1,2 tr.tấn ethylene/năm;

– Giai đoạn 3: Xây dựng cảng Sơn Dương thành cảng tổng hợp phục vụ trung chuyển hàng hóa trong khu vực (gồm cả bắc Thái Lan và nam Lào).

Địa điểm triển khai: Khu kinh tế Vũng Áng, Hà Tĩnh. Tổng diện tích chiếm đất chỉ riêng giai đoạn 1 là 44.476.751 m2 (4.448 ha), bao gồm toàn bộ cảng biển sâu nhất khu vực miền Trung là Sơn Dương.

Như vậy, có thể thấy, Formosa là một “siêu dự án” được triển khai trên một địa bàn chiến lược về kinh tế và quốc phòng của VN.

Thủ tục đầu tư đã được tiến hành theo kiểu đối phó

Nếu tính cả 3 giai đoạn, Formosa là một dự án rất lớn, có tổng mức đầu tư hàng chục tỷ đô la. Nhưng thời gian nghiên cứu, khảo sát, làm thủ tục, xin giấy phép rất ngắn. Điều này cho phép nghi ngờ chất lượng của dự án “chục tỷ đô” này. Cụ thể như sau:

Theo báo cáo của Formosa, năm 2007, “sau nửa năm nghiên cứu khỏa sát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam”, Formosa đã “Mời lãnh đạo tỉnh Hà Tính, đại diện văn phòng chính phủ Việt Nam, đại diện bộ công thương và bộ kế hoạch đầu tư Việt nam đến Đài Loan thăm và khảo sát, tìm hiểu các vấn đề…” “Báo cáo với thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng về kế hoạch đầu tư của tập đoàn và xin ý kiến của thủ tướng; Báo cáo với thủ tướng Hoàng Trung Hải về kế hoạch đầu tư của tập đoàn và xin ý kiến của thủ tướng; Báo cáo với chánh văn phòng quốc hộ Trần Đình Đàm về kế hoạch đầu tư của tập đoàn và xin ý kiến của ngài chánh văn phòng” (hết trích dẫn nguyên văn, kể cả sai ngữ pháp).

Sau đó, ngày 09/11/2007, Chủ tịch Công ty Sunsco Holding Ltd. (có trụ sở tại quần đảo Cayman, vùng Caribe- nằm giữa Cu Ba và Jamaica, là thiên đường của các công ty để rửa tiền và chốn thuế) và chủ tịch tổng công ty Formosa công nghiệp nặng có trụ sở ở Đài Bắc đã gửi “Thư quan tâm đầu tư” (thực ra chỉ là một mảnh giấy tiếng Anh, không có tên người ký, không có địa chỉ phát hành, không dấu, không logo v.v.) gửi UBND Hà Tĩnh bầy tỏ kế hoạch đầu tư vào Khu kinh tế Vũng Áng tổ hợp nhà máy luyện thép với tổng công suất 15 triệu tấn/năm; đồng thời bầy tỏ “hy vọng được trao đổi với các sở/ban ngành có liên quan của Hà Tĩnh về kế hoạch đầu tư, và được tổ chức gặp để báo cáo thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng để kế hoạch nhận được giấy phép của chính phủ trung ương sớm nhất có thể”.

Sau khoảng 1 tháng, phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh Võ Kim Cự ký văn bản số 3182/UBND-CN2 ngày 12/12/2007 v/v đầu tư vào Hà Tĩnh của Tập đoàn Formosa. Văn bản này đã “đề nghị Tập đòan tiến hành khảo sát, lập hồ sơ các dự án báo cáo Chính phủ VN, các Bộ ngành Trung ương có liên quan và UBND tỉnh Hà Tĩnh để kịp thời hoàn chỉnh thủ tục đầu tư theo qui định hiện hành”. Đây thực chất là một văn bản vô trách nhiệm (bỏ qua các thủ tục tìm hiểu/đánh giá về năng lực của chủ đầu tư) và trái thẩm quyền (góp phần làm phá vỡ các qui hoạch lớn về kinh tế của Chỉnh phủ, gồm các qui hoạch về thép, điện, cảng biển v.v).

Sau đó 12 ngày, Tập đoàn Formosa đã thực hiện xong ý kiến chỉ đạo tại văn bản nói trên của Phó chủ tịch Hà Tĩnh Võ Kim Cự, xây dựng xong báo cáo đầu tư về hai dự án khu liên hợp luyện thép (15 tr.t/năm) và cảng tổng hợp Sơn Dương (200.000 DTW) để trực tiếp báo cáo phó thủ tướng Hoàng Trung Hải vào ngày 24/12/2007.

Sau đó 3 ngày, ngày 27/12/2007, Tổng giám đốc Tổng công ty Formosa công nghiệp nặng Ngô Quốc Hùng đã có thư gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, trong đó khẳng định: “Chúng tôi đã xây dựng Báo cáo đầu tư về hai dự án trên để trình Chính phủ Việt Nam. Theo đó thời gian hoàn thành lò cao thứ 1 của giai đoạn 1 được rút ngắn từ 48 tháng xuống còn 36 tháng. Nay chúng tôi xin gửi tới ngài báo cáo đó, rất mong được Ngài và các cơ quan hữu quan của Chính Phủ Việt Nam sớm chấp thuận.” và hứa: “Ngay sau khi nhận được sự chấp thuận của chính phủ Việt nam, chúng tôi sẽ triển khai việc lập báo cáo tiền khả thi và tháng 3/2008 sẽ trình lên các cơ quan hữu trách của Việt Nam.” (hết trích dẫn).

Qua sự việc trên cho thấy, Báo cáo đầu tư của dự án qui mô hàng chục tỷ đô la chỉ được thực hiện vỏn vẹn trong vòng 12 ngày, đã được trình lên tới Chính Phủ VN.

Ngày 15/01/2008, Tổng giám đốc Tổng công ty Formosa công nghiệp nặng Ngô Quốc Hùng, từ Đài Bắc đã gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng “Thư bảo đảm xin đầu tư xây dựng dự án cảng Sơn Dương và khu liên hợp gang thép tại Hà Tính”.

Mặc dù thư này được gửi cho Thủ tướng, nhưng ngay ngày hôm sau, từ Hà Tĩnh, phó chủ tịch UBND tỉnh Võ Kim Cự đã ký công văn số 102/UBND/CN2 ngày 16/01/2008 về việc đầu tư vào Hà Tĩnh của Tập đoàn Formosa (Đài Loan). Công văn này đã khẳng định: “Sau khi xem xét văn thư ngày 15/01/2008 của Tập đoàn Formosa (Đài Loan) về việc cam kết đầu tư Dự án cảng Sơn Dương và Dự án nhà máy luyện thép công suất 15 triệu tấn/năm… UBND tỉnh Hà Tĩnh xin báo cáo và đề nghị như sau: … Formosa là Tập đoàn có các nguồn lực và kinh nghiệm đầu tư các dự án lớn, đặc biệt là dự án cảng biển và luyện thép… Kính đề nghị Thủ tướng Chính Phủ và các Bộ, ngành liên quan cho phép Tập đoàn lập dự án trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định cho thực hiện dự án nói trên”.

Như vậy, bằng công văn 102/UBND/CN2 ngày 16/01/2008 nói trên phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh đã cố tình hợp thực hóa công văn số 3182/UBND-CN2 ngày 12/12/2007. Văn bản trên còn cho thấy rõ hành động vô trách nhiệm của UBND tỉnh Hà Tĩnh. Trong khi Formosa là đối tác được thế giới bêu danh hàng đầu trong lĩnh vực gây ô nhiễm môi trường, thì, chỉ trong vòng 24h, sau khi Formosa “cam kết đầu tư” với Thủ tướng, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã khẳng với Thủ tướng: “Formosa là Tập đoàn có các nguồn lực và kinh nghiệm đầu tư các dự án lớn, đặc biệt là dự án cảng biển và luyện thép”!!!.

Những ưu đãi không có cơ sở

Mặc dù Formosa chưa trình dự án, ngày 28/02/2008, Ban quản lý Khu kinh tế Vũng Áng- Hà Tĩnh đã lập “Biên bản ghi nhớ về điều kiện ưu đãi đầu tư cho dự án nhà máy thép và cảng Sơn Dương”. Biên bản này đã nêu cụ thể 14 mục ưu đãi đối với Formosa. Trong đó, có những mục như “Thời gian thuê đất 70 năm, kể từ khi hợp đồng thuê đất có hiệu lực”. Đây là hành động “cầm đèn chạy trước ô tô” của UBND tỉnh Hà Tĩnh. Vì, sau đó 4 ngày, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải mới ký văn bản số 323/TTg-QHQT ngày 04/3/2008 “về việc đầu tư xây dựng Nhà máy luyện thép và cảng nước sâu tại Hà Tĩnh”, trong đó có nội dung: “UBND tỉnh Hà Tĩnh chủ trì, phối hợp với các Bộ ngành có liên quan chỉ đạo Ban quản lý Khu kinh tế Vũng Áng hướng dẫn nhà đầu tư lập dự án đầu tư và hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận đầu tư, tổ chức thẩm định Dự án và hồ sơ theo quy định hiện hành của Luật đầu tư, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định”.

Sau khi có ý kiến chỉ đạo trên, thay vì phải “hướng dẫn nhà đầu tư lập dự án đầu tư” theo ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng, ngày 25/3/2008, cũng chính Ban quản lý Khu kinh tế Vũng Áng, đã ký “Biên bản ghi nhớ bổ sung, sửa đổi về điều kiện ưu đãi đầu tư cho dự án nhà máy thép và cảng Sơn Dương”. Trong đó, mục “Thời gian thuê đất 70 năm, kể từ khi hợp đồng thuê đất có hiệu lực” đã được sửa đổi thành: “Thời gian thuê đất 70 năm, kể từ khi hợp đồng thuê đất có hiệu lực. Trước khi hết hạn thuê đất 2 năm nếu có nhu cầu, nhà đầu tư (FORMOSA) phải trình UBND tỉnh Hà Tĩnh đơn xin thuê đất cho thời gian tiếp theo và trong vòng 03 tháng (kế từ ngày nhận được đơn xin thuê đất), UBND tỉnh Hà Tĩnh có trách nhiệm trả lời nhà đầu tư. Khi đó, FORMOSA là nhà đầu tư được ưu tiên để tiếp tục thuê đất nhưng chính sách thuê đất được áp dụng theo quy định của luật Việt Nam tại thời điểm hiện hành”.

Qua sự việc trên cho thấy, trong khi chủ đầu tư chưa trình Dự án, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ký biên bản thỏa mãn tất cả các yêu cầu của chủ đầu tư. Đặc biệt, việc giao đất 70 năm được bổ xung các điều kiện được chấp nhận kéo gần như vô thời hạn.

Mặc dù Báo cáo đầu tư của Formosa chưa được lập và chưa được các cơ quan hữu quan phê duyệt, ngày 09/4/2008, phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh Võ Kim Cự đã ký văn bản số 858/UBND-CN2 về việc xác nhận ưu đãi đầu tư cho Tập đoàn Formosa. Văn bản này đã đưa ra 5 ưu đãi về thuế, 3 ưu đãi về đất, 2 ưu đãi về bồi thường, giải phóng mặt bằng, 4 hỗ trợ về hạ tầng kỹ thuật, 2 hỗ trợ về đào tạo nguồn nhân lực, và 1 hỗ trợ về chi phí quảng cáo. Riêng về ưu đãi thuê đất, văn bản đã khẳng định “Thời gian cho thuê đất là 70 năm. Khi hết hạn thuê đất, nếu có nhu cầu, Formosa sẽ được ưu tiên tiếp tục thuê đất; chính sách thuê đất được áp dụng theo quy định của pháp luật Việt Nam tại thời điểm đó”.

Nhờ có những ưu đãi “từ trên trời rơi xuống”, ngày 11/4/2008, hai ngân hàng Hongkong and Shanghai Banking Corporation Ltd. (HSBC) và Mega International Commercial Bank Co., Ltd đã có “Thư quan tâm” gửi cho Formosa. Trong đó, HSBC đã lưu ý nếu chính sách của chính phủ thay đổi thì Thư quan tâm này sẽ cần được HSBC khẳng định lại!

Những rủi ro về môi trường chưa được xem xét

Dự án Formosa có nhà máy luyện gang thép với công nghệ lạc hậu, nên phải dùng than mỡ để luyện coke cho lò cao. Nhu cầu than mỡ hàng năm phải nhập khẩu là 3,623 triệu tấn để luyện ra 2,52 triệu tấn coke (xem tr.24, Thuyết minh tổng hợp). Ngoài ra, hàng năm Formosa phải sử dụng khoảng 0,642 triệu tấn dolomit; 1,442 triệu tấn đá vôi, và 1,296 triệu tấn than cám.

Quy trình luyện coke thải ra rất nhiều độc tố vì than mỡ dùng để luyện coke thường có chứa các chất rất độc hại và nguy hiểm, như: sulphure (≈ 0,3%) chlorine (≈0,03%), phosphorous (≈0,001%); và arsenic (≈0,004%).

Như vậy, Chỉ riêng 3 loại chất cực độc (là chlorine, phosphorous, và arsenic) chứa trong than mỡ đã khoảng 0,035%. Với lượng tiêu dùng 3,623 triệu tấn/năm, chỉ riêng khâu luyện coke sẽ thải ra môi trường dưới mọi hình thức ít nhất 1.268 tấn/năm chất cực độc nói trên.

Đáng lưu ý, những loại than dùng để luyện coke được Formosa đã nhập về VN đều là những loại than rẻ tiền. Thay vì nhập khẩu than mỡ, Formosa đã nhập khẩu than bitum vào VN để luyện coke. Cụ thể, năm 2014, Formosa đã nhập khẩu 960.466 tấn than bitum từ Indonesia với giá bình quân gần 84 U$/tấn và năm 2015, Formosa đã nhập khẩu 87.923 tấn than bitum từ Canada để luyện coke với giá bình quân 82 U$/tấn. Các thành phần độc tố nói trên trong các loại than bitum rẻ tiền này chắc chắn còn cao hơn nhiều so với trong than mỡ đắt tiền (khoảng 200 U$/tấn).

Nhà máy luyện coke của Formosa theo thiết kế có công suất 2,86 triệu tấn/năm. Như vậy, cũng theo thiết kế, lượng khí lò coke (COG) hàng năm lên tới 1,4 tỷ Nm3 (trong điều kiện bình thường) và thải ra khoảng 1,1 triệu tấn xỉ/năm. Ngoài than luyện coke, nhà máy này còn phải sử dụng 1.906 tấn dầu rửa/năm.

Điều đáng lo ngại là trong Báo cáo đầu tư, Formosa đã cố tình không đưa ra các đặc tính kỹ thuật cũng như các thành phần hóa học của các loại nguyên liệu đầu vào được đưa vào sử dụng trong dự án (trong đó có các thành phần độc tố trong than luyện coke và dầu rửa).

Vấn đề bảo vệ môi trường không được đề cập trong Báo cáo đầu tư

Như trên đã nêu, ngày 25/3/2008, phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải mới ký văn bản “Đồng ý chủ trương Tập đoàn công nghiệp nặng Formosa- Đài Loan lập Dự án đầu tư Nhà máy liên hợp thép tại Khu kinh tế Vũng Áng và Cảng nước sâu Sơn Dương tỉnh Hà Tĩnh như đề nghị của UBND tỉnh Hà Tĩnh tại văn bản nêu trên” (số 102/UBND-CN2 ngày 16/01/2008).

Nhưng ngay trong năm 2008 (không rõ tháng), Công ty TNHH Gang Thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh đã trình “Báo cáo dự án đầu tư khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương Formosa Hà Tĩnh”. Báo cáo đầu tư gồm 2 phần: phần I- Thuyết minh tổng hợp (tổng luận, 116 trang khổ A4) và phần phụ lục; phần II- Giải trình kinh tế-kỹ thuật (gồm 5 chương, 281 trang khổ A4).

Đối với một dự án nhậy cảm với môi trường, có mức đầu tư tới 7,897 tỷ U$, nội dung Báo cáo đầu tư này đã được lập hoàn toàn đối phó, không theo các quy định hiện hành của Luật đầu tư. Trong đó, đặc biệt là phần liên quan đến bảo vệ môi trường.

Trong Thuyết minh tổng hợp, Mục 9.9 “Bảo vệ môi trường” (tr.87÷94) được thực hiện rất sơ sài và rất mơ hồ. Trong đó, mục 9.9.2 “Ứng dụng các giải pháp không chế ô nhiềm” gồm: khống chế ô nhiễm không khí (2 trang); khống chế ô nhiễm nước (1 trang); tận dụng chất thải rắn (>2 trang); khống chế tiếng ồn (<1 trang).

Trong “Giải trình kinh tế-kỹ thuật”, mục 3.2 “Hệ thống cung cấp nước và xử lý nước thải” cũng vỏn vẹn có 4 trang khổ A4 (tr. 3-37÷3-41, kể cả 2 trang hình vẽ). Trong đó, mục 3.2.2.3 “Hệ thống xử lý nước thải” có tổng số chưa đầy 12 dòng (5 dòng về “dự kiến”, 4 dòng về “nước thải sinh hóa” và 2 dòng về “nước thải công nghiệp”).

Với nội dung rất sơ sài của một Báo cáo đầu tư như trên, nhưng, trong một thời gian ngắn kỷ lục, chủ đầu tư đã được cấp đất và triển khai dự án. Điều này đặt ra câu hỏi về chất lượng của các hồ sơ dự án do chủ đầu tư lập, trong đó có Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và chất lượng tổ chức thẩm định dự án của phía VN trước khi cấp phép.

Việc quản lý môi trường bị buông lỏng

Như chúng ta đã biết, Formosa là một dự án thuộc lĩnh vực luyện kim (có gắn với cảng biển và sản xuất nhiệt điện tự dùng). Công nghệ của nhà máy thuộc loại lạc hậu (phải sử dụng coke để luyện gang). Quy trình sản xuất gang thuộc loại liên hoàn và liên tục. Khối lượng chất thải các loại (rắn, lỏng, khí) rất lớn, có chứa nhiều chất độc hại, và được thải ra liên tục. Chỉ riêng chất thải lỏng được phê duyệt thải ra môi trường tới hàng chục nghìn m3/ngày.

Thế nhưng, việc quan trắc, giám sát từ phía các cơ quan của nhà nước lại chỉ thực hiện theo chu kỳ. Đặc biệt, việc xử lý các chất cực độc phát sinh từ công nghệ luyện coke-gang-thép đã không được kiểm soát khách quan và liên tục. Đây là một kẽ hở lớn mà chủ đầu tư có thể lợi dụng để chỉ cần trong vòng vài phút có thể thải hết ra biển hàng tấn chất cực độc như Chlorine, Phosphorous, Arsenic.

Để làm sáng tỏ vấn đề này, cơ quan chức năng cần công bố toàn văn ĐTM và những tài liệu liên quan đến việc phê duyệt ĐTM của dự án.

Câu hỏi, liệu hàng tấn chất cực độc nêu trên có dẫn đến cá chết hàng loạt hay không? chúng tôi xin nhường lời cho các nhà khoa học hóa sinh./.

Hà Nội, ngày 01/5/2016

NTS /Chuyên gia tư vấn độc lập/(Tác giả gửi BVB)

TÀI NGUYÊN THỜI THỔ TẢ

TRẦN KIÊN/ BVB 5-5-2016

Nước xả thải đục vàng đậm của nhà máy formosa Hà Tĩnh (ảnh Vệ tinh) 

Khủng hoảng về môi trường tại nhà máy thép Formosa ở Vũng Áng, Hà Tĩnh đã lên tới đỉnh điểm. Đó là do cái cách hành xử đầy khuất tất của ông Võ Tuấn Nhân thứ trưởng Bộ Tài Nguyên Môi Trường (TNMT) của nước CHXHCNVN muôn năm trong cuộc họp với báo giới cách đây mấy hôm. Người dân lân cận khu vực nhà máy Formosa đã bị ảnh hưởng trực tiếp tới sinh kế, tới sức khỏe. Người dân ở xa hơn thì lúc hoang mang lo lắng, lúc phẫn nộ bởi những gì đã diễn ra.

Trong một biển thông tin tràn ngập dạo này, cái gì đáng tin cái gì không? Lẽ dĩ nhiên, để cái nhà máy thép Formosa to vật vã như vậy thành hình thì trách nhiệm thuộc về rất nhiều cơ quan chính quyền. Nhưng vì vấn đề nổi cộm ở đây là ô nhiễm môi trường, nên tôi sẽ tập trung vào nhận xét khả năng làm việc của Bộ Tài Nguyên Môi Trường, cơ quan phải chịu trách nhiệm chính, qua sự kiện này. 

Ông bà mình hay nói “nắm kẻ có tóc, không ai nắm kẻ trọc đầu”. Hành xử không minh bạch của ông thứ trưởng Nhân khiến tôi phải coi ông có bao nhiêu tóc trên đầu! Và sau khi đếm tóc ông Nhân, tôi không thể tin ông ta. Tôi quyết định tìm một cái gì cụ thể, rõ ràng để phân tích. Một cái gì đó mà họ, bộ TNMT, không thể nào chối cãi.
Tiếp theo, tôi so sánh nó với tài liệu Title 40 of the Code of Federal Regulations (40 C.F.R), chapter 1, subchapter N on Effluent Guidelines and Standards, point source category of Iron and Steelmaking. Tài liệu này do US Environmental Protection Agency (EPA, Cục Bảo Vệ Môi Trường Hoa Kỳ) ban hành, quy định tiêu chuẩn nước thải trong ngành sản xuất thép tại Mỹ. Xin xem mẫu của tài liệu này ở các hình số 02,03,04,05,06.Cái rõ ràng nhất tôi có thể tìm được là tài liệu “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp sản xuất thép”, số QCVN 52:2013/BTNMT do Bộ Tài Nguyên Môi Trường nước CHXHCNVN muôn năm ban hành ngày 25/10/2013. Xin xem mẫu của tài liệu này ở hình số 01.

Sau đây là vài nhận xét của tôi sau khi đọc và so sánh hai tài liệu nêu trên. Tôi sẽ gọi tắt tài liệu của Việt Nam là VN, và tài liệu của Mỹ là US.

SO SÁNH VN VÀ US

Một. VN có tổng cộng 7 trang. US có tổng cộng 67 trang. Vậy US hơn VN khoảng 9.5 lần.

Hai. VN có đúng 01 bảng tiêu chuẩn. US chỉ riêng phần subpart A đã có 08 bảng tiêu chuẩn (US có 13 subpart ký hiệu từ A tới M). Vậy số bảng tiêu chuẩn của US nhiều hơn VN một số lượng mà tôi không có thời gian đếm nổi.

Ba. VN chỉ có đúng 01 quy định về nước thải, nằm ở giai đoạn nước thải thoát ra môi trường. US có 13 nhóm quy định cho 13 giai đoạn sản xuất thép, ví dụ như coke making (sản xuất cốc), iron making (sản xuất gang), steel making (sản xuất thép), acid pickling (tẩy rỉ sét bằng axit) v.v. 

Bốn. VN không hề có quy định về tiêu chuẩn nước thải cho từng loại nhà máy thép, ví dụ nhà máy mới và nhà máy cũ. VN cũng không hề có quy định về tiêu chuẩn cho từng loại kỹ thuật và quy trình sản xuất thép khác nhau. US quy định đầy đủ những yếu tố này trong một số nhóm như BPT (best practicable control technology currently available), BAT (best available technology economically achievable), BCT (best conventional technology), NSPS (new source performance standards)… Qua đó cũng cho thấy tiêu chuẩn VN là quá thấp cho một nhà máy thép mới xây dựng như Formosa, đồng thời cũng không hề có lộ trình để bắt buộc Formosa phải nâng cao tiêu chuẩn nước thải trong tương lai.

Năm. Số liệu trong bảng duy nhất của VN quá tròn trĩnh, nhưng có thể tạm chấp nhận do khả năng hạn chế về phương pháp và thiết bị đo. Số liệu của US rất đa dạng và chi tiết, khác nhau cho từng nhóm tiêu chuẩn. Cái quan trọng là US xây dựng bộ tiêu chuẩn này dựa trên số liệu thu thập và phân tích tại các nhà máy thép Mỹ trong hàng chục năm. Còn tiêu chuẩn VN dựa vào đâu? Tôi hoàn toàn không có thông tin gì, cho đến khi tình cờ tìm được tài liệu Pollution Prevention and Abatement Handbook của WorldBank Group phát hành năm 1998 và ngừng lưu hành từ 30/04/2007. Trang 330 của tài liệu này có Table 4 cực kỳ giống với bảng tiêu chuẩn do bộ TNMT đưa ra năm 2013 đã nói ở trên. Xin xem mẫu tài liệu của WorldBank Group ở hình số 08. Xin xem bảng so sánh ở hình số 09.

              NHẬN XÉT VỀ NĂNG LỰC CỦA BỘ TNMT

Dựa trên những tài liệu tôi hiện có và những so sánh ở trên, tôi nhận xét về năng lực của bộ TNMT như sau.

Một. Bộ TNMT có thể đã không có dữ liệu đánh giá nước thải tại các nhà máy thép ở Việt Nam trong quá khứ, nên không có cơ sở để xây dựng tiêu chuẩn mới nhất, và họ cũng không biết phải xây dựng tiêu chuẩn ra sao.

Hai. Vì lý do nêu trên, bộ TNMT có thể đã sao chép tiêu chuẩn tham khảo của WorldBank Group 1998 – 2007 và sửa đổi một vài tiêu chí, rồi dán mác của mình lên. Dĩ nhiên là bộ TNMT đã không dẫn nguồn tham khảo.

Ba. Sự sơ sài quá thể của tiêu chuẩn QCVN 52: 2013/BTNMT cho thấy cơ quan này có năng lực cực kỳ kém cỏi. Không một ai có thể tin nổi cái văn bản sơ sài đến nực cười này lại được dùng để quản lý nước thải của một nhà máy thép khổng lồ như Formosa Hà Tĩnh.

Bốn. Vì bộ TNMT không đủ năng lực, không đủ trình độ để đưa ra các quy định, các tiêu chuẩn tương xứng với quy mô của cơ quan này, cho nên tôi nghi ngờ năng lực thực hiện của nó. Vì thật dễ hiểu, nếu họ không hiểu về tiêu chuẩn, đương nhiên họ không biết phải giám sát cái gì và kiểm tra cái gì.

Năm. Đây là một nhận xét có tính chất đậm đà tình cảm của tôi. Mấy bữa trước ông Võ Tuấn Nhân hành xử rất ngu (ngơ) trước báo giới. Bây giờ tôi có thể khẳng định bộ TNMT rất ngu (ngơ) khi đưa ra cái tiêu chuẩn QCVN 52:2013/BTNMT này. Bộ TNMT trong sự kiệnFormosa này có thể nói là “Ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo mửa”. Đúng là tài nguyên thời thổ tả!

             45,000 MÉT KHỐI CÓ PHẢI LÀ CON SỐ THẬT HAY KHÔNG?

Báo Lao Động đăng bài “Bộ TNMT cho phép Formosa xả thải công suất khủng” ngày 27/04/2016 có cấp tin, rằng bộ TNMT cấp giấy chứng nhận cho phép Formosa xả nước thải với công suất là 45,000 m3/ngày đêm.

Câu hỏi tôi muốn hỏi bộ TNMT là quý vị lấy cơ sở nào, tiêu chuẩn nào để cấp choFormosa định mức xả nước thải 45,000 m3/ngày đêm này? Ngày thứ nhất nó xả 80,000 m3 rồi ngày thứ hai nó xả 10,000 m3 thì có gọi là đúng quy định không?

Trong thời gian tôi chưa có thêm thông tin, tôi có quyền nghi ngờ Formosa có thể xả thải nhiều hơn con số 45,000 m3 mỗi ngày nếu nó muốn, vào bất cứ lúc nào. Vì sao tôi nghi ngờ?

Lấy công suất hiện tại của Formosa là khoảng 7 triệu tấn thép / năm. Lượng nước thải theo tiêu chuẩn được cấp là 45,000 m3/ngày tương đương với 16.5 triệu m3 / năm. Nghĩa là lượng nước thải cho sản xuất thép chỉ là 2.4 m3/tấn thép. Đây là con số cực kỳ phi lý.

Theo sách The Making, Shaping and Treating of Steel: Ironmaking Volume (do David H. Wakelin biên tập, 11th edition, năm 1999, AISE Steel Foundation, trang 386-393) thì lượng nước thải trung bình để sản xuất thép từ khâu đầu tới cuối đã bao gồm lượng nước tái sử dụng, dao động từ 13,000 gallons tới 23,000 gallons/tấn, tương đương từ 49 m3 tới 87m3/tấn.

Bộ TNMT cấp cho Formosa xả nước thải trung bình chỉ 2.4 m3/tấn, trong khi tài liệu Mỹ nói lượng nước thải từ 49 tới 87 m3/tấn. Khoảng cách chênh lệch quá lớn, từ 20 tới 40 lần làm tôi nghi ngờ trong thực tế Formosa có thể sẽ xả thải gấp nhiều lần tiêu chuẩn được cấp.

Cuối cùng, tôi làm một bảng so sánh tổng lượng chất thải ra biển của Formosa hàng năm dựa theo QCVN 52:2013/BTNMT với công suất 7 triệu tấn thép/năm theo ba kịch bản thải: 2.4m3, 49m3 và 87m3/tấn thép vừa phân tích ở trên. Xin xem ở hình số 10.

Dựa theo bảng so sánh này thì cho dù kịch bản nào xảy ra trong thực tế thì môi trường biển tại Vũng Áng và các khu vực lân cận chắc chắn sẽ chết. Còn sức khỏe và sinh kế của người dân? Tôi không dám nghĩ tới. Còn bộ TNMT, đại diện cho chính quyền trong sự kiện này, thì tôi không hy vọng gì.

KẾT

Tôi không nhớ rõ mình đã từng đọc được câu nói, đại ý là “nếu anh im lặng khi người khác gặp bất công, rồi sau cùng bất công cũng sẽ tìm tới anh”. Nên tôi cũng xin đóng góp tiếng nói nhỏ nhoi của mình, và mong người dân Hà Tĩnh của chúng ta, cũng như mọi loài sinh vật trong vùng sẽ sớm thoát khỏi thảm họa môi trường từ nhà máy thép Formosa này.

 29/04/2016.

T.K (FB đất nước mến yêu)

———–

** NGUỒN THAM KHẢO

01) QCVN 52:2013/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp sản xuất thép. 25/10/2013. bộ TNMT Việt Nam.

02) “Bộ Tài nguyên – Môi trường cho phép Formosa xả thải công suất khủng”. báo Lao Động. 27/04/2016.

03) Part 420 – Iron and Steel Manufacturing Point Source Category. CFR 2014 Title 40 Vol 29 Part 420. 2014. United States Environmental Protection Agency.

04) Pollution Prevention and Abatement Handbook. Iron and Steel Manufacturing. page 327 – 331. July 1998. WorldBank Group.

05) The Making, Shaping and Treating of Steel: Ironmaking Volume. 11th ed..1999. David H. Wakelin editor. Pittsburgh, Penn.: The Association of Iron and Steel Engineers (AISE) Steel Foundation.

Updated 1. 12:45pm 03/05/2016.

  1. Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, chia sẻ, khích lệ của rất nhiều quý vị với bài viết này. Nó ngoài dự kiến của tôi, và tôi thật sự vui vì điều này.

Để đáp lại sự quan tâm của quý vị, tôi đang viết tiếp một bài phân tích về chất thải của nhà máy thép formosa hà tĩnh. Tôi sẽ cố gắng hoàn thành sớm để gửi đến quý vị.

  1. Tôi đã sửa một sai sót trong bài này từ góp ý của anh Luong Duc Anh. Xin chân thành cảm ơn anh.
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Danh mục

%d bloggers like this: