Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Sáu 4, 2016

20160604. BÌNH LUẬN VỀ BOB KERREY -CHỦ TỊCH ĐẠI HỌC FUNBRIGHT

ĐIỂM BÁO MẠNG

XÓA HẬN THÙ CHỨ KHÔNG ĐƯỢC QUYỀN XÓA LỊCH SỬ

NGUYỄN QUANG THIỀU/ TVN 3-6-2016

Bob Kerrey,

Cựu thượng nghị sĩ Bob Kerrey được bầu chọn làm Chủ tịch Hội đồng tín thác Đại học Fulbright Việt Nam.

“Hãy cùng nhìn lại lịch sử của chính dân tộc mình, xem ông cha chúng ta đã xử lý những tình huống này như thế nào; Với quá khứ đau thương, mọi người Việt Nam đều được quyền phán định. Hãy nói hết ra đi để rồi mỗi chúng ta sẽ đưa ra quyết định cuối cùng thật thanh thản”, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều lên tiếng.

LTS: Cựu thượng nghị sĩ Bob Kerrey, được bầu chọn làm Chủ tịch hội đồng tín thác Đại học Fulbright Việt Nam đang là tâm điểm dư luận. Với trách nhiệm thông tin đa chiều, Tuần Việt Nam đã ghi lại phát biểu của một số cựu binh, nhà văn, nhà báo, và cả lãnh đạo đương nhiệm. Xin giới thiệu phát biểu đầu tiên của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều. Mời độc giả cùng tham khảo và suy ngẫm.

Đại học Fulbright lý giải việc mời Bob Kerrey làm Chủ tịch
Báo QĐND bàn chuyện ông Bob Kerrey

Xung quanh câu chuyện đang rất nóng liên quan đến Bob Kerrey và FUV (Fulbright Việt Nam), tôi nghĩ, chúng ta cần lùi lại rất xa trong quá khứ để nhìn lại thì mới có thể tìm được câu trả lời thấu đáo về tổng thể cuộc chiến tranh đã từng xảy ra. Thậm chí, phải nhìn dài rộng hơn về lịch sử vệ quốc của người Việt từ thời chống xâm lược phong kiến Trung Hoa đến giờ. Nhìn để xem ông cha ta đã  xử lý vấn đề này, vấn đề mà người Việt đương đại chúng ta đang đối diện trên tinh thần nào, dựa trên nền tảng nào.

Có một điều người nước ngoài cũng biết, và cũng là điều chúng ta luôn tự hào, đó là: Việt Nam- một dân tộc đầy lòng tự trọng và rất vị tha. Lịch sử đã chứng minh rằng, bất cứ kẻ ngoại xâm nào đến xâm chiếm bờ cõi chúng ta khi bị đánh bại đều được chúng ta ban cho lòng nhân ái và vị tha. Và dân tộc ta đã lớn lên bởi điều ấy. Đó là nhân cách Việt. Đó cũng là cách tư duy về tương lai đã nằm lòng trong mỗi người Việt từ thời xa xưa chống phong kiến phương Bắc, kháng chiến chống Pháp, chống Nhật và chống Mỹ….

Hầu hết chúng ta đều hiểu lịch sử dân tộc, nên lúc này chúng ta nhìn lại lịch sử của chính dân tộc mình xem ông cha chúng ta đã xử lý những tình huống này như thế nào.

Bob Kerrey thực sự là một thách thức quá nhỏ so với những thách thức trong lịch sử của dân tộc mà ông cha ta đã từng đối diện, từng xử lý. Chính vì điều đó mà dân tộc này đã vượt qua, để không một kẻ nào đồng hóa được nền văn hóa này và khuất phục được tinh thần tự trọng của người Việt. Địa lý quốc gia có thể bị xâm chiếm một trăm năm hay một ngàn năm, nhưng văn hóa và tinh thần của dân tộc ta thì không ai có thể xâm chiếm được.
Hãy nhìn lại từng bước đi từ nhỏ cho tới lớn của hai quốc gia thời hậu chiến. Tôi cho rằng, người Mỹ đã xây một đại lộ nối Mỹ tới Việt Nam. Đại lộ đó là nền tảng văn hóa, là sự tôn trọng lẫn nhau.Câu chuyện ông Bob ít nhiều lúc này cũng là một thách thức trong quan hệ Việt-Mỹ mà hai quốc gia đã rất vất vả, rất nỗ lực rất lâu, rất gian nan mới có được. Thách thức này buộc chúng ta cả người Mỹ và người Việt phải đối diện và xử lý. 

Hãy nhìn cách người dân Việt Nam đón nhận Tổng thống Mỹ Barack Obama tại Việt Nam mới đây. Hãy cùng nhìn lại bài phát biểu của Tổng thống Mỹ vừa rồi tại Mỹ Đình. Ở đó chứa đựng rất nhiều điều cho thấy sự thấu hiểu một nền văn hóa. Cao hơn sự thấu hiểu một nền văn hóa là sự tôn trọng một nền văn hóa khác biệt.

Văn hóa là cầu nối cho hai dân tộc. Tất cả các diễn văn của Tổng thống Barack Obama đã chia sẻ trong chuyến thăm vừa rồi luôn tựa vào văn hóa Việt Nam. Khi nhắc tới “Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế Cư” là thể hiện sự tôn trọng và khẳng định chủ quyền của người Việt, cũng là để gián tiếp gửi thông điệp cho các nước lớn rằng, không được phép xâm phạm chủ quyền đã xác lập của người Việt Nam. Và cũng là để nói một cách tế nhị về sai lầm trong cuộc chiến tranh mà người Mỹ tiến hành ở Việt Nam.

Ông ấy cũng nói về tình cảm sẻ chia, thương yêu giữa con người với con người bằng “Nối Vòng Tay Lớn” của Trịnh Công Sơn, bằng “Từ Đây Người Biết Thương Người” của Văn Cao. Cuối cùng ông đặt cược cho mối quan hệ của hai quốc gia bằng một thứ duy nhất, đó là lòng tin qua việc trích hai câu thơ của Đại thi hào Nguyễn Du. Cá nhân tôi cho rằng, nếu không có lòng tin thì vĩnh viễn chẳng làm được cái gì. Vĩnh viễn chẳng có cái gì được hoàn thành.

Khi xem xét một hành động hãy xem xét nó trong hoàn cảnh cụ thể. Bob Kerrey cũng chỉ một người lính trong đội quân lớn của nước Mỹ đã từng tham chiến ở Việt Nam. Người chịu trách nhiệm cao nhất về cuộc chiến này không phải cá nhân ông Bob. Nhưng ông ấy là một trong những người đã tham gia cuộc chiến phi nghĩa này. Nếu không có sự chia sẻ, nếu không có sự hiểu biết của cả hai phía, nếu không có tầm nhìn vào tương lai thì tôi dám chắc Tổng thống Barack Obama sẽ không tới Việt Nam theo cách ông đã đến. Rõ ràng nếu không thừa nhận và không tôn trọng một thể chế khác biệt của chúng ta thì ông ấy đã không mời người lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam tới thăm đất nước ông và cũng không tới đây chìa bàn tay và nở nụ cười thân thiện với người dân Việt Nam. Thế giới ngày nay không phải là thế giới của ngày hôm qua. Ngày nay, trong cuộc chơi chung, đòi hỏi những qui luật mới. Và qui luật mới ấy dựa trên lòng tin, sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau.

 

Chúng ta đều biết Bob hay những người có liên quan, khi tham gia vào dự án này đều ý thức được, lường trước được tất cả. Nhưng ông ấy đã dám đối diện với sự thật cho dù cay đắng và đáng nguyền rủa, với tội lỗi của mình một cách công khai. Việc ông ấy đã dám bước đến trước một gia đình, một đất nước để thừa nhận rằng mình đã từng có tội với gia đình ấy và đất nước ấy mà không sợ bị trả thù và bị nguyền rủa thì sự sám hối ấy đã tới tận cùng của nó, sự sám hối trung thực.

Tôi đã từng gặp rất nhiều cựu binh Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam. Họ đều muốn thể hiện sự sám hối với tội lỗi của mình bằng những hành động cụ thể. Cách đây 1 giờ, tôi post lên facebook  bức ảnh một người đàn ông đang ngồi cạnh Tổng thống Obama xem một trận bóng chày. Đó John Baca, một người lính, một cựu binh Mỹ từng tham gia chiến ở Việt Nam và bị thương rất nặng. Sau chiến tranh, John không có việc làm cụ thể. Ông sống bằng tiền trợ cấp. John Baca sống độc thân với một con chó trong một ngôi nhà hơn chục mét vuông trên một quả đồi ở Maryland.

Năm 1990, John cùng các cựu binh khác, người là nông dân, người làm thuê, thợ sửa xe, thậm chí có người là trông trẻ… đều rất nghèo, đã sang Hà Nội để lao động trực tiếp trộn vôi, tự tay xây dựng trạm xá Yên Viên bằng tiền cá nhân, bằng tiền quyên góp từ khoản trợ cấp ít ỏi từ các cựu binh khác. Với John, đó là một hành động thiết thực để xin lỗi người dân Việt Nam về những gì họ gây ra trong chiến tranh. Với họ, mỗi một viên gạch họ đặt xuống khi xây trạm xá Yên Viên là một lời thú tội, một lời sám hối, một lời xin lỗi người dân Việt Nam. John Baca có một ước mơ lớn là gom đủ tiền để sang Việt Nam xây một ngôi nhà nhỏ bên bờ biển để những bà mẹ Việt Nam và Mỹ mất con trong chiến tranh gặp gỡ nhau, chia sẻ và an ủi nhau. Các hiền nhân của loài người đã dạy rằng: khi một người nhận ra lỗi lầm của mình và sám hối thì tội lỗi đó được xóa.

Với Bob cũng vậy, trong 20 năm qua ông ấy đã sám hối, đã ăn năn và đã có những hành động cụ thể. Ông ấy đâu cần sang Việt Nam để kiếm sống, ông ấy có thể cứ ở Mỹ sống yên bình và để tránh bị đối diện với tội lỗi một cách như hiện nay. Ông ấy rất biết việc sang Việt Nam điều gì có thể sẽ diễn ra, sẽ bị rủa xả thế nào, nhưng ông ấy đã quyết định phải bước đến chính nơi mà ông đã gây tội. Theo tôi đó là sự trung thực, sự đàng hoàng, có văn hóa của người sám hối thực sự với tội lỗi của mình. Tôi tin ông ấy đã thành thật. Điều này khiến chúng ta phải suy nghĩ.

Hãy nhìn xem, đại sứ đầu tiên của Mỹ tại Việt Nam là ai? Tại sao Mỹ không cử một nhà ngoại giao giỏi, tại sao Mỹ không cử một người am hiểu về Việt Nam hay Đông Dương mà lại cử một người từng là tù binh của Việt Nam? Người mà nhân dân Việt Nam biết rất rõ đã từng lái máy bay ném bom xuống đất nước chúng ta. Họ cử chính người có lỗi với dân tộc này, đến đây để trực tiếp xin lỗi dân tộc này. Chỉ chính những người đó khi đến đây, mảnh đất họ đã gây tội mới mang tới được bản thông điệp đầy đủ nhất: Chúng tôi đến đây với lòng hối lỗi thật sự và muốn trở thành một người bạn. Như vậy, theo tôi, chúng ta còn đòi hỏi gì thêm nữa. Bởi vậy, chúng ta hãy lùi lại một chút để bình tĩnh hơn và có cái nhìn thấu đáo hơn.

Quê tôi ở có những gia đình mâu thuẫn rất nặng, thậm chí dẫn đến chết người. Đến ngày giỗ của nạn nhân, chính người đã gây nên cái chết ấy, sau khi đi tù về đã trực tiếp mang lễ đến nhà nạn nhân, bước vào ngôi nhà đó thắp hương và nói lời xin lỗi cho dù có thể bị người nhà nạn nhân trả thù. Nhưng họ cần làm điều đó bởi họ muốn xin lỗi một cách chân thành nhất. Hành động này tác dụng hơn rất nhiều, thành thật hơn rất nhiều nếu anh ta nhờ người khác, nhờ gia đình thay mặt anh ta.

Trong những lời sám hối của Bob, có một câu của ông mà tôi suy nghĩ nhiều rằng: Nếu  sự có mặt của ông làm ảnh hưởng tới việc chung thì ông sẵn sàng rút lui. Nước Mỹ không thiếu người để cử, nước Mỹ không thiếu người để thay Bob. Chuyện đó thật đơn giản. Và những người chọn Bob cũng như chính Bob đều hiểu rõ rằng: Họ có thể làm cho người Việt Nam nổi giận và đốt thêm ngọn lửa hận thù của người Việt Nam tưởng đã nguôi dịu đi đối với họ. Nhưng vì sao họ vẫn làm như vậy. Tôi lại muốn nói, xin hãy lùi lại một chút và cùng suy nghĩ. Việc suy nghĩ kỹ lưỡng này cần thiết cho chúng ta chứ không phải cho Bob. Ở đây, tôi nghĩ rằng, bằng việc cử Bob, nếu sự hận thù được hóa giải thì đó sẽ là sự hóa giải thật sự. Nếu chúng ta chấp nhận ông ấy, đó là ta đã đi được tới sự tận cùng của tha thứ lớn lao. Còn không, chúng ta lại đi trên một con đường khác.

Không ai quên lịch sử, không ai được phép quên lịch sử. Chúng ta xóa đi thù hận chứ không được quyền xóa đi lịch sử. Nhưng chúng ta không được đánh tráo khái niệm giữa tha thứ và sự lãng quên.

Hãy cùng xem lại. Chẳng phải chúng ta đã từng đón tiếp các Tổng thống một quốc gia từng là cựu thù một cách chân thành, nồng ấm như vậy cơ mà. Chẳng phải chúng ta đón nhận người Nhật, người Pháp và cả người Hàn đến với chúng ta đấy sao. Việc người Nhật đã làm cho 2 triệu người Việt Nam chết đói thì sao? Tội ác mà người Hàn đã làm ở Mỹ Lai thì sao? Những cái chết này với những cái chết ở Thạch Phong đều như nhau. Vậy thì tại sao chúng ta không thể tha thứ cho Bob trong khi chúng ta đã tha thứ cho những người điều khiển cỗ máy chiến tranh mà Bob tham gia và có khi lại là chính nạn nhân của cuộc chiến tranh ấy. Với những đau thương trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, nếu tổ tiên, ông bà ta không có lòng vị tha thì lúc này chúng ta đang sống trong một đại dương vô tận của sự thù hận mà tổ tiên, ông bà để lại.

Nhìn về quá khứ đau thương, mọi người Việt Nam đều được quyền phán định. Sự lên tiếng với hai luồng dư luận khác nhau đã cho tôi nhận ra một điều: Chúng ta không bao giờ quên quá khứ. Nếu trong việc này mà chúng ta im lặng thì đó mới là điều kinh sợ.

Trường hợp của Bob đã vô tình trở thành chất thử thái độ của chúng ta với lịch sử. Chúng ta đã lên tiếng. Chúng ta được quyền như thế và phải như thế. Hãy nói hết ra để rồi mỗi chúng ta sẽ đưa ra quyết định cuối cùng thật thanh thản. Bob chỉ là một ví dụ cho sự thử thách đối với lòng vị tha truyền thống và để kiểm chứng tư duy của chúng ta trước một vận hội cho tương lai của con cháu mình chứ không phải là một vấn đề nan giải. Sự lựa chọn cuối cùng của chúng ta, hoặc làm cho chúng ta lớn lên hoặc làm cho chúng ta nhỏ bé!

Thu Hà (Ghi theo lời phát biểu của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều)

Đại học Fulbright lý giải việc mời Bob Kerrey làm Chủ tịch
Báo QĐND bàn chuyện ông Bob Kerrey

KHÓ TÌM ĐƯỢC AI  HƠN ÔNG BOB KERREY 

HỒNG THỦY th / gdvn 3-8-2016

(GDVN) – Có thể ông Bob Kerrey sẽ vẫn tiếp tục im lặng chịu trận từ những cú đòn của dư luận như bao lâu nay ông vẫn làm, tiếp tục cắn răng âm thầm đóng góp.

Tranh cãi xung quanh việc cựu Thượng nghị sĩ Bob Kerrey đảm nhiệm vị trí Chủ tịch Hội đồng Tín thác Đại học Fulbright tiếp tục là chủ đề nóng được dư luận quan tâm, với những tiếng nói trái chiều nhau cả trên mặt báo cũng như mạng xã hội.

Phần lớn các ý kiến phản đối ông Bob Kerrey đảm nhận vị trí này vì “lý lịch có vấn đề”, liên quan đến vai trò của cựu Thượng nghị sĩ này trong một cuộc thảm sát năm 1969 ở Bến Tre. Còn lại một số ít quan điểm đưa ra thêm nghi vấn về năng lực của ông Bob Kerrey.

Trong khuôn khổ bài viết này, người viết xin chia sẻ một số suy nghĩ của cá nhân mình xoay quanh bản chất vấn đề cựu Thượng nghị sĩ Bob Kerrey có xứng đáng với vị trí Chủ tịch Hội đồng Tín thác Đại học Fulbright Việt Nam hay không, bởi dường như vẫn có ai đó muốn ép ông Bob Kerrey rời vị trí này bằng được nhưng lại không đưa ra lý do thuyết phục.

Ông Bob Kerrey là người nuôi dưỡng ý tưởng từ trứng nước, trực tiếp gây dựng Đại học Fulbright

Phần Giới thiệu trên website Đại học Fulbright Việt Nam cho biết: “Thành lập từ năm 1994, Trường Fulbright là kết quả hợp tác giữa Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh và Trường Harvard Kennedy. 

Chủ tịch Hội đồng Tín thác Đại học Fulbright Việt Nam Bob Kerrey đón nhận quyết định thành lập trường từ Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thành Phong. Ảnh: Trung Dũng / nguoidothi.vn


Trường hoạt động theo những nguyên tắc quản trị làm tiền đề cho sự ưu việt, đó là tính tự chủ, chân giá trị, trách nhiệm giải trình và chuẩn mực cao.”
Ngân sách hoạt động chính của chương trình do Vụ Văn hóa và Giáo dục, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tài trợ. Đây là một tổ chức giáo dục của Việt Nam với sự tham gia của các đối tác quốc tế.

Còn theo chia sẻ của cựu Thượng nghị sĩ Bob Kerrey với Báo Vietnamnet ngày 1/6, để đi đến quyết định thành lập Đại học Fulbright Việt Nam là cả một quá trình dài, bản thân ông tham gia từ khi mới hình thành ý tưởng.

Năm 1991, ông Bob Kerrey tham gia dự án phân bổ ngân sách Quỹ Fulbright để thành lập một trường đào tạo cao học ở thành phố Hồ Chính Minh. Tên gọi dự án này là Chương trình Việt Nam Đại học Havard, do ông Thomas Vallely làm Giám đốc.

Cũng chính Bob Kerrey và các cộng sự đã nâng cấp chương trình cao học này trong Đạo luật Bình thường hóa quan hệ với Việt Nam năm 1995, tiếp tục nâng cấp nó vào năm 2000 bằng một dự luật ông là đồng bảo trợ.

Đại học Havrad và New School lúc đó Bob Kerrey làm Chủ tịch đã thực hiện hai nghiên cứu cho Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam về vấn đề, Việt Nam cần làm gì để có một đại học độc lập ưu việt. Tầm nhìn Đại học Fulbright Việt Nam hình thành từ những nghiên cứu này.

Lộ trình thành lập Đại học Fulbright Việt Nam được thảo luận, thống nhất trong một cuộc họp năm 2013 có sự tham dự của nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, nguyên Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Phạm Vũ Luận.

Như vậy việc thành lập Đại học Fulbright Việt Nam cùng cơ chế hoạt động, bộ máy tổ chức, phương châm đào tạo…đã được các cơ quan chức năng hai nước bàn bạc rất chặt chẽ, cẩn thận và có sự tham dự của các nhà lãnh đạo cấp cao.

Bob Kerrey – người vác tù và hàng tổng: Xin tiền, gây quỹ nuôi Đại học Fulbright

Cũng trên Báo Vietnamnet ngày 1/6, ông Thomas Vallely – Chủ tịch Quỹ Tín thác Sáng kiến Đại học Việt Nam (TUIV) chịu trách nhiệm huy động ngân sách cho Đại học Fulbright Việt Nam hoạt động đã chia sẻ, TUIV mời ông Bob Kerrey làm Chủ tịch Hội đồng Tín thác vì 4 lý do.

Thứ nhất, yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất chính là đóng góp lâu dài và lòng nhiệt thành của cựu Thượng nghị sĩ Bob Kerry cho quan hệ Mỹ – Việt, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục đào tạo.

Chính Bob Kerrey là nhà bảo trợ chính cho đạo luật thành lập Quỹ Giáo dục Việt Nam, giúp hàng trăm người Việt sang Mỹ học cao học và tiến sĩ các ngành khoa học tự nhiên.

Cựu Thượng nghị sĩ Bob Kerrey, ảnh: USA Today.

Thứ ba, Bob Kerrey có kinh nghiệm và mạng lưới quan hệ để huy động tài chính cho hoạt động của Đại học Fulbright mà TUIV đánh giá là “tài sản vô giá” đối với cơ sở đào tạo này.Thứ hai, Bob Kerrey có kinh nghiệm quản lý và lãnh đạo giáo dục với 10 năm làm Chủ tịch Đại học New School, mặc dù có nhiều quyết định táo bạo và gây tranh cãi. “Táo bạo” là tố chất TUIV đang tìm kiếm cho vị trí Chủ tịch Hội đồng Tín thác Đại học Fulbright.

Thứ tư, Bob Kerrey là người có truyền thống, tư duy đổi mới giáo dục, phù hợp với tầm nhìn của Đại học Fulbright Việt Nam.

Trong số 4 lý do TUIV lựa chọn Bob Kerry, người viết cho rằng nhân tố thứ 3 đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Khó có thể kiếm được người thay thế ông trong vai trò Chủ tịch Hội đồng Tín thác Đại học Fulbright Việt Nam, bởi nói gì thì nói, có thực mới vực được đạo.

Bản thân ngài Thomas Vallely cũng thừa nhận: “Ở một trường đại học tư không vì lợi nhuận, điều có ý nghĩa sống còn là hội đồng tín thác phải có kinh nghiệm gây quỹ.

Bob là một nhân vật nổi tiếng trong chính giới và công chúng Mỹ suốt 40 năm qua. Ông ấy có thể sử dụng các mối liên kết và quan hệ của mình để huy động các nguồn lực cho FUV.

Hơn nữa, chúng tôi hẳn đã không thể vận động thành công khoản tài trợ 20 triệu USD từ Chính phủ Mỹ nếu không nhờ những mối quan hệ của Bob với những lãnh đạo Đảng Dân chủ và Cộng hoà trong Thượng viện.”

Còn bản thân Bob Kerrey nói gì về vai trò của mình? Không thể phủ nhận vai trò của Bob Kerrey trong việc hình thành và phát triển của Chương trình Giáo dục Kinh tế Fulbright và nay là Đại học Fulbright Việt Nam, nhưng ông ấy không nhận công lao đó thuộc về mình.

Bob Kerry được Vietnamnet dẫn lời cho hay: “Trường Đại học Fulbright Việt Nam là một dự án do chính người Việt Nam xây dựng và phát triển. Hiệu trưởng của trường và hội đồng trường chủ yếu là người Việt Nam sẽ cùng nhau vun đắp và phát triển những truyền thống của trường mang bản sắc của Việt Nam.

Trong vai trò Chủ tịch Hội đồng Tín thác, tất cả những gì tôi có thể làm được là ủng hộ hết mình ban lãnh đạo người Việt Nam để cùng xây dựng một cơ sở đào tạo xuất sắc, trước hết là hỗ trợ vận động gây quỹ.

Nói cách khác thì Bob Kerry đang chủ yếu làm công việc xin tiền, gây quỹ để nuôi Đại học Fulbright, một việc người viết cho là vô cùng khó khăn và phức tạp.Chúng tôi sẽ cần xây trường, cung cấp học bổng hỗ trợ cho sinh viên và giúp cho FUV bền vững về mặt tài chính.”

Một phần vì tính chất phi lợi nhuận của dự án, một phần vì tầm nhìn đòi hỏi yêu cầu rất cao đối với chương trình đào tạo, làm sao chi phí thấp mà chất lượng cao, và một phần nữa vì chính những rào cản tâm lý và dư luận xã hội từ cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ.

Ông ấy đang làm công việc “vác tù và hàng tổng”, chứ chẳng có “màu mỡ” gì ở đây. Nếu không vì tình yêu và mong muốn chuộc lỗi với Việt Nam, có lẽ ông đã nghỉ ngơi vui thú điền viên cho thoải mái, việc gì phải đi ngửa tay xin tiền cho Đại học Fulbright Việt Nam.

Bob Kerrey là người xứng đáng nhất

Bà Tôn Nữ Thị Ninh, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội được báo điện tử Zing và Thanh Niên dẫn lời nhận định:

“Ông Bob Kerrey là người đã trực tiếp tham gia vào cuộc thảm sát thường dân vô tội, phụ nữ, trẻ em, người già tại thôn Thạnh Phong (Bến Tre) vào tháng 2.1969, điều này không thể chối cãi và chính ông Kerrey cũng thừa nhận”. 

Do đó theo bà, nói theo cách nhẹ nhất, ông Bob Kerrey hoàn toàn không nên giữ vị trí Chủ tịch Hội đồng Tín thác Đại học Fulbright Việt Nam.

“Tôi tin chắc là phía Mỹ có thể tìm được người phù hợp về mặt chuyên môn và kinh nghiệm và tên tuổi không bị tai tiếng. Những người bạn Mỹ mà tôi có trao đổi hai hôm nay cùng chia sẻ quan điểm như thế… 

Tôi tin rằng, việc thay đổi người vào chức danh này không những không ảnh hưởng đến quan hệ hai nước đang tiến triển tốt đẹp, ngược lại việc này sẽ đặt hợp tác Việt – Mỹ trong khuôn khổ FUV trên một nền tảng, khởi điểm bình đẳng, lành mạnh và vững bền”, bà Ninh cho biết.

Người viết tôn trọng quan điểm của bà Tôn Nữ Thị Ninh về lý lịch của ông Bob Kerrey trong chiến tranh.

Nhưng cho rằng “nói theo cách nhẹ nhất, ông Bob Kerry hoàn toàn không nên giữ vị trí Chủ tịch Hội đồng Tín thác FUV”, hay “phía Mỹ có thể tìm được người phù hợp về mặt chuyên môn và kinh nghiệm và tên tuổi không bị tai tiếng” thì e rằng không phù hợp.

Nói về lý, hai sự việc này không liên quan gì đến nhau. Bởi lẽ vị trí Chủ tịch Hội đồng Tín thác Đại học Fulbright là nhằm kiếm tiền cho trường duy trì hoạt động, phát triển đúng định hướng, tầm nhìn đặt ra mà cả Hoa Kỳ và Việt Nam đã bàn bạc, thỏa thuận.

Nó căn cứ trên nhu cầu của Đại học Fulbright Việt Nam cũng như khả năng đáp ứng của cựu Thượng nghị sĩ Bob Kerrey chứ không phải lý lịch của ông ấy.

Hai là việc điều hành hoạt động và nội dung giảng dạy của Đại học Fulbright Việt Nam không phải do ông Bob Kerrey, mà do chính Việt Nam xây dựng, như ông khẳng định:

“Đại học Fulbright Việt Nam là một dự án do chính người Việt Nam xây dựng và phát triển. Hiệu trưởng của trường và hội đồng trường chủ yếu là người Việt Nam sẽ cùng nhau vun đắp và phát triển những truyền thống của trường mang bản sắc của Việt Nam.”

Gắn lý lịch của ông vào chức vụ này quả thật khiên cưỡng và không thuyết phục.
Vì thế các chi tiết liên quan đến mọi hoạt động và bộ máy nhân sự của trường là thành quả nỗ lực từ hai phía. Nói về pháp lý thì người viết tin rằng chẳng có lý do gì để yêu cầu ông Bob Kerrey khỏi vị trí này, còn về tâm lý tình cảm, ai ủng hộ hay phản đối ông là câu chuyện khác.Ba là dự án xây dựng Đại học Fulbright là thành quả nỗ lực của cả hai phía Việt Nam và Hoa Kỳ, trong đó có sự tham gia của cả một trong những nhà lãnh đạo cao nhất, nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang.

Bốn là, nếu ai đó cho rằng xin tiền tài trợ cho một trường đại học phi lợi nhuận tiêu chuẩn cao như Fubright Việt Nam đặt ra là một việc dễ dàng và nhiều người có thể thay thế ông Bob Kerry, vậy xin quý vị hãy đưa ra một vài nhân sự có thể lo liệu việc này và sẵn sàng gánh vác công việc ấy!

Còn nếu như chỉ tìm cách đẩy ông Bob Kerry rời khỏi vị trí này, sau đó ai sẽ thay thế ông để làm cái việc vác tù và hàng tổng ấy thì “đã có Mỹ lo” thì người viết e rằng hơi khiên cưỡng và có phần thiếu trách nhiệm.

Hoặc phải chăng ở đây vẫn có sự nhầm lẫn nào đó về vai trò, vị trí, chức năng ông Bob Kerrey đảm nhiệm tại Đại học Fulbright Việt Nam.

Nuôi thù hận sẽ chẳng ích gì

Nói về tình, những tiếng nói phản đối ông Bob Kerry đều lấy lý do những hành động của ông trong quá khứ, cụ thể là cuộc thảm sát tại Thạnh Phong, Bến Tre tháng 2 năm 1969, thì chính những gì ông Bob Kerrey đã, đang và sẽ tiếp tục làm là một cách sám hối, chuộc lỗi của cá nhân ông ấy với các nạn nhân.

Người có quyền tha thứ cho Bob Kerrey phần lớn đã ở cõi vĩnh hằng. Thiết nghĩ, chỉ có một số nạn nhân may mắn sống sót trong trận càn năm ấy và thân nhân của những người đã khuất vì những trận càn do Bob Kerrey chỉ huy, ra lệnh hay trực tiếp tham gia mới có quyền tha thứ hay không tha thứ cho ông, đành rằng lên án chiến tranh, những hành vi tội ác và những kẻ gây tội ác là quyền không của riêng ai.

Người Việt Nam ngày nay có thể có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng chúng ta chỉ có thể ủng hộ hay phản đối, không thể nhân danh những nạn nhân ấy, không thể nhân danh dân tộc này để đưa ra phán xét, hơn nữa lại còn lấy đó làm công cụ để gạt Bob Kerrey khỏi cương vị có thể đóng góp tốt nhất cho quan hệ Việt – Mỹ, và cũng là cách tốt nhất để ông sám hối về những gì đã qua.

Dù các nạn nhân và gia đình nạn nhân có tha thứ cho Bob Kerrey hoàn toàn trên tinh thần gác lại quá khứ, hướng tới tương lai đi nữa, thì người viết tin rằng chính bản thân ông, tòa án lương tâm trong ông vẫn không buông tha cho Bob Kerrey.

Nếu lương tâm Bob Kerrey tự “xóa án” cho mình, có lẽ ông đã vui vẻ sống nốt phần đời còn lại của mình trong an nhàn ở Hoa Kỳ, hà tất phải vất vả bao năm nay, giờ qua Việt Nam giơ đầu chịu báng trước dư luận?

Chọn cách né tránh thì quá dễ. Chọn cách đối diện với sự thật và vượt qua mặc cảm mới khó.

Người viết cho rằng Bob Kerrey là tấm gương dũng cảm, tiến bộ và nhân văn cho tất cả những ai đã từng cất quân xâm lược Việt Nam hay gây ra những cuộc chiến tranh đẫm máu cho nhân loại.

Trong khi thế giới vẫn không ngày nào im tiếng súng, chủ nghĩa bành trướng vẫn từng ngày tác oai tác quái trên Biển Đông, thiết nghĩ những người như Bob Kerrey quý lắm.

Một tấm lòng chí thành như thế mà nỡ dội lên những gáo nước lạnh, đặc biệt lại không phải từ chính các nạn nhân trong cuộc sẽ khiến thế giới nghĩ gì về chúng ta, những người Việt Nam vẫn xem mình là vị tha, độ lượng, là không ác cảm với Mỹ, không ghét Mỹ vì chiến tranh?

Nhưng bạn bè chúng ta sẽ nghĩ khác về chúng ta, và những kẻ lâu nay vẫn lăm le dòm ngó lãnh thổ, độc lập chủ quyền của dân tộc này chắc hẳn mừng rỡ lắm.Có thể ông Bob Kerrey sẽ vẫn tiếp tục im lặng chịu trận từ những cú đòn của dư luận như bao lâu nay ông vẫn làm, tiếp tục cắn răng âm thầm đóng góp cho quan hệ Việt – Mỹ trên bất cứ lĩnh vực nào trong khả năng có thể, bởi nó đã trở thành tình cảm và lựa chọn của ông.

Nhiều người đứng ngồi không yên khi hai dân tộc Việt – Mỹ hòa giải, hợp tác phát triển cùng phồn vinh, cùng bảo vệ hòa bình và ổn định cho khu vực, luật pháp và trật tự quốc tế. Họ đang tìm cách chống lại điều này còn chẳng được.

Bởi vậy, người viết mới có mấy lời này, dù ít dù nhiều cũng để tỏ tấm lòng trân trọng, tri ân những ai đã vì tương lai tốt đẹp cho dân tộc Việt Nam và quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam với các dân tộc khác.

Chính họ đã cố gắng, đã nỗ lực không ngừng nghỉ, bất chấp mọi rào cản và định kiến, bất chấp những búa rìu dư luận để góp những viên gạch thiết thực chung tay xây dựng tương lai cho Việt Nam và vun bồi tình hữu nghị, hiểu biết, hòa giải và yêu thương.

Đúng hay sai xin mỗi người hãy bình tâm đứng trên quan điểm lợi ích quốc gia dân tộc để xem xét, bởi thỏa mãn cảm xúc cá nhân thì dễ, vượt lên mặc cảm chiến tranh và thù hận để gây dựng tương lai mới khó.

Đặc biệt là trong bối cảnh đất nước này, dân tộc này đang đứng trước nhiều thách thức không nhỏ, cũng như thời cơ vận hội bứt phá vươn lên, muốn vươn lên không thể thiếu những cánh tay thân thiện của bạn bè. Xin đừng ngoảnh mặt với những tấm lòng như Bob Kerrey.

Chừng nào chủ nghĩa lý lịch vẫn còn là rào cản trong tư duy chúng ta, chừng đó nói đến hòa giải, lòng tin chiến lược để phát triển cường thịnh còn xa xôi lắm!

Hồng Thủy
‘KHÁT KHAO CỐNG HIẾN CỦA KERREY CHO GIÁO DỤC VIỆT NAM LÀ CHÂN THỰC’
TS VŨ THÀNH TỰ ANH/ NĐT 3-6-2016
Mấy ngày nay, nhiều người hỏi tôi ủng hộ hay phản đối việc Bob Kerrey – cựu binh Mỹ trong chiến tranh Việt Nam – giữ vai trò Chủ tịch Hội đồng Quản trị của Đại học Fulbright Việt Nam (FUV). Để trả lời câu hỏi này, tôi sẽ kể lại hành trình nhận thức của mình về Bob Kerrey.

» Giáo dục khai phóng sẽ dẫn dắt đại học Fulbright Việt Nam

» Đại Học Fulbright Việt Nam tuyển sinh khoá đầu tiên

Hơn nửa năm trước, khi biết Bob Kerrey được mời làm Chủ tịch HĐQT của FUV, phản ứng đầu tiên của tôi là phản đối. Lý do rất đơn giản và hiển nhiên: Tội ác kinh khủng ông gây ra trong cuộc tàn sát ở Thạnh Phong năm 1969 tương phản và làm vấy bẩn sứ mệnh cao đẹp của Trường Đại học Fulbright Việt Nam.
Trong suốt hơn một phần tư thế kỷ trở lại đây, “bộ ba thượng nghị sỹ” John Kerry, John McCain và Bob Kerrey cũng như nhiều cựu chiến binh khác đã nỗ lực không mệt mỏi và trở thành những nhân vật chủ chốt vận động cho việc bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, cho việc phát triển giáo dục ở Việt Nam mà Chương trình Học bổng Fulbright và Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright là hai thành quả cụ thể. Trong thời gian là Thượng nghị sỹ, Bob Kerrey cũng là người bảo trợ cho đạo luật hình thành nên Quỹ Giáo dục Việt Nam (VEF), tạo cơ hội cho khoảng 500 nghiên cứu sinh Việt Nam sang Mỹ du học trong các ngành khoa học, toán học, y học, công nghệ và kỹ thuật.Nhưng khi hiểu thêm về Bob Kerrey, những điều ông nói và những việc ông làm, đồng thời được nghe kể nhiều câu chuyện đầy éo le và bi kịch từ cựu chiến binh ở cả hai phía, tôi đã nhận ra ở Kerrey một con người khác, thoát xác từ chính đại úy biệt kích SEAL trước đây.

Trong “bộ ba” này, người Việt Nam chủ yếu chỉ biết đến “hai ông John”. Chẳng mấy ai, kể cả nhiều người được nhận học bổng do Bob Kerrey góp phần tạo ra, biết đến ông cho đến khi ông được Quỹ Tín thác Sáng kiến Đại học Việt Nam (TUIV) mời làm Chủ tịch HĐQT FUV. Người đàn ông này lặng lẽ cống hiến cho sự hàn gắn vết thương chiến tranh trong quá khứ và xây dựng nền tảng cho tương lai ở đất nước ông từng gây đau thương chết chóc.

Động lực nào khiến ông nhận lời mời làm Chủ tịch FUV, nhất là ở cái tuổi ngoài 70 này? Vì danh ư? Chắc chắn là không vì danh vọng ông không thiếu. Vì lợi ư? Lại càng không vì ông không nhận một đồng lương bổng nào từ FUV. Dần dần, tôi hiểu ra rằng với ông, đây là dự án lớn cuối cùng mà ông có thể cống hiến cho Việt Nam, là nỗ lực sám hối tha thiết cuối cùng cho những vết thương ông đã để lại ở Việt Nam.

Ông Bob Kerrey và bà Đàm Bích Thuỷ tại buổi họp báo sự kiện đón nhận quyết định thành lập Đại học Fulbright Việt Nam hôm 25.5. Ảnh: Trung Dũng

Với tâm thế ấy, cũng như trước đây, ông luôn nhẫn nhịn chịu đựng, không một lời thanh minh, không một lời bào chữa, mà chỉ kiên trì theo đuổi tâm nguyện của mình. Bởi vì ông hiểu rằng mặc dù không ai có thể sửa được quá khứ, nhưng với sự lựa chọn của mình, chúng ta có thể thay đổi tương lai.Đối với Kerrey, việc trở về Việt Nam trong dự án FUV hẳn là một quyết định khó khăn. Lần cuối cùng Kerrey trở lại Việt Nam là cuối thập niên 1990, khi sứ mệnh bình thường hóa quan hệ đã hoàn thành. Khi quyết định trở lại một lần nữa, chắc chắn ông biết rằng mình sẽ lại phải đối diện với quá khứ đầy đau đớn. Một lần nữa, ông phải gánh chịu những lời kết án cho những tội ác của mình gây ra gần nửa thế kỷ trước. Nhưng với ông, việc chịu đựng những lời kết án hay thậm chí là cái chết có khi còn nhẹ nhàng hơn việc phải đối diện với những ký ức đầy ám ảnh, dày vò tâm khảm ông vĩnh viễn kể từ cái đêm ở Thạnh Phong năm 1969.

Có thể có người cho rằng sự trở lại của Kerrey trong Dự án FUV đã khơi lại vết thương quá khứ của nhiều người Việt Nam. Nhưng cũng nên thấy rằng, với quyết định của mình, Kerrey là người đầu tiên phải chịu đựng những đớn đau, dằn vặt tinh thần. Ông đã không chọn con đường trốn tránh quá khứ, vốn dễ dàng hơn cho ông rất nhiều. Trái lại, ông dũng cảm chấp nhận đối diện với nỗi đau của mình, và vượt qua nó bằng sự nhẫn nhịn, bền bỉ, và hơn hết, bằng những hành động thiết thực hướng tới tương lai.

Sự sám hối của Kerrey là chân thành, khát khao cống hiến của Kerrey cho giáo dục Việt Nam là chân thực. Quá khứ không thể thay đổi được, nhưng với tấm lòng thành thực và sự cảm thông, chúng ta có thể cùng nhau xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn.

Vũ Thành Tự Anh

VỀ TRƯỜNG HỢP BOB KERREY 

NGUYÊN NGỌC/ VĂN VIỆT 3-6-2016

Những ngày qua, trên các báo và các trang mạng, nhiều người đã lên tiếng tranh cãi về việc cựu chiến binh Mỹ Bob Kerrey được bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng Tín thác của trường Đại học Fulbright Việt Nam (FUV) mà chúng ta đều mong đợi với rất nhiều hy vọng, mới được thành lập tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tranh cãi đến nay chưa xong. Quả thật Bob Kerrey là một nhân vật không hề đơn giản. Và cũng có thể, trong một chừng mực nhất định, trường hợp của ông là rất tiêu biểu cho việc, dù muốn hay không, thì ta vẫn còn phải nghĩ rất nhiều và cố mà thấu hiểu hơn nữa về cuộc chiến tranh đã qua. Về những con người, từng con người, đã đi qua cái lò lửa địa ngục ấy, bị nó đốt cháy và trui rèn. Số phận của họ, nỗi đau và trằn trọc không dễ nguôi của họ. Nhất là những người còn sống sót và đang đối mặt với cuộc sống hôm nay. Tôi, tôi cũng từng đi qua đó, và nay còn sống sót. Nên tôi cũng muốn hiểu. Tôi quan tâm đến Bob Kerrey, trường hợp kinh hoàng của ông ngày ấy, và cuộc đối mặt của ông hôm nay với thách thức ông đang đảm nhận. Và cũng muốn tự nghĩ cả về chính mình.

 

Nhiều người đã nói các chi tiết rồi, tôi chỉ xin nhắc lại vắn tắt: Đầu năm 1969, Bob Kerrey là đại úy, chỉ huy một trung đội SEALs, kiểu đơn vị biệt kích tinh nhuệ nhất hải quân Mỹ. Phân đội của ông được báo có lãnh đạo cao cấp của Việt cộng sẽ họp cùng bí thư chi bộ địa phương ở Thạnh Phong, một ấp nhỏ ven biển thuộc tỉnh Bến Tre. Ông cho đơn vị của mình tập kích vào Thạnh Phong. Ông nói rằng ông không tự tay giết người, điều ấy có thể tin, một người chỉ huy không nhất thiết phải tự mình bắn. Nhưng ông thừa nhận ông chịu trách nhiệm toàn bộ: họ đã giết chết 24 người, trong đó có 14 phụ nữ và trẻ em cùng một ông già. Bob nói: “Cuối cùng vẫn là những người phụ nữ đã chết, những đứa trẻ đã chết… vẫn là cái chết.” Và là tội ác. “Tội lỗi đối với tôi là cảm giác đầy hủy diệt…”. Suốt 32 năm nay. Suốt đời…

Sau chiến tranh, Bob Kerrey từng là thượng nghị sĩ, là thống đốc bang, là ứng viên tổng thống Hoa Kỳ, và trên tất cả các cương vị đó, ông đã có đóng góp quan trọng và lâu dài cho quan hệ Việt – Mỹ và trao đổi giáo dục giữa hai nước, ông cũng là một trong những nhân vật hàng đầu thiết kế chương trình kiên trì suốt nhiều năm cho sự ra đời của FUV hôm nay. Có thể nói không quá, ông đã làm tất cả cho Việt Nam, cho giáo dục Việt Nam… Nhưng chưa bao giờ ông coi là có thể bù đắp tội lỗi đã gây ra.

Tôi chưa từng gặp Bob Kerrey, nhưng tôi may mắn có một người bạn thân, Thomas Vallely, Giám đốc Chương trình Việt Nam của Đại học Harvard, Chủ tịch Quỹ Sáng kiến Đại học Việt Nam (the Trust for University Innovation in Vietnam – TUIV), đơn vị chịu trách nhiệm huy động vốn để đầu tư cho FUV, cũng là người đã trực tiếp chọn Bob Kerry cho vị trí Chủ tịch Hội đồng Tín thác FUV. Thomas Vallely kể với tôi rằng, khi những người bạn cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam của Bob Kerrey là thượng nghị sĩ McCain và ngoại trưởng John Kerry đến gặp Bob để giúp ông trước nỗi ám ánh tội lỗi đeo đẳng, thì Bob đưa ra cho các bạn một yêu cầu buộc họ phải cam đoan: tuyệt đối không được bào chữa cho ông! Tôi nói với Thomas Vallely: “Vậy thì ông đã chọn rất đúng người lãnh đạo FUV!”.

Tôi cũng nói với Vallely rằng, nhưng phần tôi, là một người cũng từng có mặt trong suốt cuộc chiến tranh ấy, tôi thấy tôi cũng có bổn phận nói điều này khi tôi đọc được câu Bob Kerrey trả lời phóng viên Vietnamnet. Ông nói: “Hành động của tôi ở Việt Nam là kinh khủng và tôi tin đã được điều tra kĩ càng. Đó không phải là Mỹ Lai. Tuy nhiên, như bộ phim tài liệu sẽ sớm được phát của Ken Burns cho thấy: Chiến thuật của chúng tôi đã khiến ít nhất một triệu người vô tội thiệt mạng.” Bob Kerrey không để cho ai bào chữa cũng quyết không tự bào chữa cho mình, ông biết ông là một tội phạm không cầu mong được tha thứ, nhưng đồng thời bằng trải nghiệm đau đớn nhất của mình, ông cũng chỉ ra mâu thuẫn chết người trong cái mà ông gọi là “chiến thuật của chúng tôi”, tức của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam: để tiêu diệt Việt Cộng phải đánh bật họ ra khỏi dân thường, ra khỏi “phụ nữ và trẻ con” (còn được gọi là chiến thuật “tát nước để bắt cá”). Mà điều ấy là vô phương, bởi vì, đặc biệt ở nông thôn, thời ấy, hai thực thể đó về căn bản là một. Không thể đánh trúng cái này mà không đánh trúng cái kia! Không thể diệt Việt Cộng mà không giết dân, đàn bà và trẻ con! Cho nên, cho phép tôi nói điều này: Bob Kerrey là tội phạm, điều ấy ông đã đau đớn nhận, nhưng ông cũng là nạn nhân. Nạn nhân bi thảm của cái “chiến thuật” nghe rất hay ho kia. Bob Kerrey nhận ra mâu thuẫn chết người ở chiến thuật ấy, nhưng không dùng nó để bào chữa cho mình. Điều đó là vĩ đại. FUV có được một người đứng đầu như vậy là tuyệt đẹp. Và tôi cho lựa chọn của FUV là thật nhân văn.

Còn riêng đối với chúng tôi thì sao, chúng tôi, những người từng là lính Việt Cộng thời thảm khốc ấy, khi chúng tôi vẫn từng “nấp” trong nhân dân vô tội, để họ có thể cùng chết với chúng tôi? Kể cả, ngày ấy, như chính tôi từng được trải nghiệm, có bao bà mẹ, và cả các em bé nữa, sẵn sàng chết để che cho chúng tôi?

Hóa ra tự chúng tôi cũng còn một câu hỏi…

2-6-2016

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Danh mục

%d bloggers like this: