Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Sáu 24, 2016

20160624. BÀN VỀ THÓI GIẢ DỐI

ĐIỂM BÁO MẠNG

BÀN VỀ THÓI GIẢ DỐI

NGUYỄN ĐÌNH CỐNG/ BVN 23-6-2016

 

1- Giới thiệu

Ngày 20/6 trang Bauxite Việt Nam và trang Ba Sàm có bài “Sự khốn cùng của truyền thông quốc doanh” của Nguyễn Đình Ấm (NĐÂ). Trong bài đó có một đoạn làm tôi đặc biệt chú ý, đó là: “Tổng thống Mỹ Obama thăm, được dân Việt Nam tiếp đón vô cùng nồng nhiệt… Thế nhưng khi khách vừa về, VTV1 Chuyển động 24h lại tổ chức chương trình nói về “thói giả dối của Obama” trong đó MC Việt Hoàng ba hoa nói xấu khách để dân hiểu mọi hình ảnh giản dị, thực tâm, những phát ngôn trí tuệ, tôn trọng nhân dân, nền văn hóa, lịch sử Việt Nam như chỉ là một sự giả dối, dàn dựng… (Việc làm đó là) một sự bất nhã vô liêm!”.

Điều đó tôi không hề ngờ tới, và đến nay, sau gần 1 tháng mới vô tình biết được. Tôi vội vào Google, truy cập mục “Giả dối của Obama” thì nhận được nhiều bài cùng tên: “ VTV vạch trần thói giả dối của Obama” với lời thuyết trình rất hùng hồn của một diiễn giả trẻ, tôi đoán là MC Việt Hoàng (VH). Ngoài ra, cũng trong mục đó tôi còn tìm thấy bài: “Suy ngẫm về thói giả dối của người Việt” của Trần Đại Quang, Chủ tịch nước. Tôi xin bàn về 2 bài vừa nêu.

2- Bài VTV vạch trần thói giả dối của Obama

Nhận xét chung bài thuyết trình rất hay, hấp dẫn, luận cứ phong phú, luận chứng vững vàng. Bài thuyết trình như vậy có khả năng lôi cuốn những người nghe dễ tính, tin vào VTV, tin vào sự tuyên truyền của đảng. Nhưng họ tin, bị lôi cuốn vì sự hiểu biết có hạn và đặc biệt là họ sợ, không dám nghĩ khác. Với tôi và rất nhiều người chịu khó suy nghĩ một chút thì thấy rõ bài thuyết trình của VH là một sự ngụy biện nguy hiểm, giống như nhận xét của NĐÂ là “Một sự bất nhã vô liêm”.

Mấu chốt ngụy biện trong bài của VH là đánh tráo khái niệm “giả dối” rồi dùng nó để gán ghép, để chụp mũ cho Obama. Đây là sự vô minh, chỉ chưa biết là cố ý để lừa bịp hay vì trình độ còn yếu, cũng có thể phải làm theo chỉ đạo của ai đó để nhận một sự tưởng thưởng mong muốn.

Trước hết phải hiểu khái niệm giả dối. Vì đây không phải là bài trao đổi về lôgic học nên tôi không đi sâu vào nội hàm và ngoại diên của khái niệm, chỉ xin nêu giải thich và vài thí dụ. Giả dối là cách thể hiện của con người bằng lời nói hoặc hành động ngược lại với suy nghĩ, nhận thức hoặc bản chất của mình, là kiểu “xanh vỏ đỏ lòng”. Thí dụ ông C rất ghét B nhưng trước mặt người khác lại nói hoặc tỏ ra rất kính trọng. Bà L rất yêu mến D nhưng ở nơi công cộng lại tỏ ra không ưa gì. Anh X, ở chỗ riêng tư và bí mật là người rất tham tiền và thích quan hệ tình ái với nhiều phụ nữ, nhưng công khai lên lớp đạo đức cho thanh niên chống lại các việc trên.

Nhưng nếu ông C thực tâm thích B, bà L thực tâm không ưa D thì việc làm của họ là chân thật, không hề giả dối. Nếu X thực sự không tham tiền, không thích tình ái lăng nhăng, là người có đạo đức thật sự, mà anh ta thể hiện và khuyên mọi người giữ đạo đức thì không thể cho là cố tinh giả dối. Giả dối là ngược lại với chân thật, trung thực

Viết về chân thật thì bài thơ “Lời mẹ dặn” của Phùng Quán là một bài hay. Xin trích vài câu : “… Con ơi một người chân thật / Thấy vui muốn cười cứ cười / Thấy buồn muốn khóc là khóc / Yêu ai cứ bảo là yêu / Ghét ai cứ bảo là ghét / Dù ai ngon ngọt nuông chiều / Cũng không nói yêu thành ghét / Dù ai cầm dao doạ giết / Cũng không nói ghét thành yêu…

Trong lòng đang vui, bạn cười. Có thể điệu cười hợp với ai đó làm người ta thích bạn hơn, hoặc không hợp với người khác làm họ khó chịu. Như vậy chỉ có thể nói điệu cười đó hợp hay không hợp với người nghe chứ không được vì không hợp mà cho là giả dối. Sẽ là giả dối khi miệng cười, tỏ ra thân thiện mà trong lòng đầy thù hận (Miệng nam mô bụng bồ dao găm).

Chỉ phân tích 2 việc: 1- Obama đi ăn bún chả. Nếu bản chất ông không thích gì bún chả, không thích gì việc tiếp xúc trực tiếp với người dân, thế mà ông đã làm thế thì đó là giả dối. Nhưng khi ông thực tâm thích ăn bún chả, thực lòng muốn chào hỏi người dân thì không thể nào cho việc ông làm là giả dối. 2- Việc ông nhờ những thư ký giỏi chuẩn bị bài phát biểu trong đó dẫn Lý Thường Kiệt, Nguyễn Du, Văn Cao, Trịnh Công Sơn và ông nắm vững để trình bày chứng tỏ sự chuẩn bị vô cùng chu đáo và tài hùng biện sắc sảo. Những việc đó sẽ là giả dối nếu ông nói như sáo vẹt để lấy lòng người nghe, ông cúi mặt nhìn vào giấy để đọc mà không hiểu. Thực tế thì ông đã diễn đạt những điều đó với cả tấm lòng nồng nàn, với trí tuệ sắc sảo, với sự tôn trọng chân thành và đúng mức thính giả Việt Nam. Thế thì giả dối chỗ nào. Phải chăng nói hay, hấp dẫn, lôi cuốn là giả dối?!

MC VH đã đánh tráo khái niệm, tuy không nói ra nhưng ngầm cho rằng những việc làm theo mẫu có sẵn, những bài phát biểu chủ yếu nhìn vào giấy để đọc, những cử chỉ vụng về thòi đuôi là… chân thật, thế thì suy ra việc gây được cảm tình, nâng cao được uy tín của Obama là giả dối. Nguy hiểm thay cho kiểu suy luận như vậy. Đó là kiểu vu cáo, xuyên tạc. Tuyên huấn và VTV tưởng rằng với bài “Vạch trần thói giả dối của Obama” sẽ làm cho nhiều người dân tin vào tuyên truyền của đảng hơn. Họ đã quá nhầm. NĐÂ đã dùng câu “Một sự bất nhã vô liêm” thật đúng. Sẽ còn nguy hiểm hơn cho đảng khi nhân dân dùng ngay lập luận của VTV để chiếu rọi vào các hoạt động mị dân của các lãnh tụ cộng sản.

3- Bài của Chủ tịch Trần Đại Quang (TĐQ)

Bài có tên: “Suy ngẫm về thói giả dối của người Việt”, công bố ngày 17/4/2016. Bài có 3 đoạn chính: 1- Ngụy thiện; 2- Giả dối – Ý thức bị cái ác chế ngự hoàn toàn; 3- Tính giả dối và căn bệnh sợ sự thật (trong bài không đánh số, chỉ ghi đề mục).

Xin tóm lược vài ý chính. 1- Ngụy thiện là cách lấy đạo đức giả làm nền cho ứng xử, là che giấu cho giả dối, làm chứng gian, dùng quyền lực bao che tội lỗi. 2- Dẫn quan điểm của Đạo Phật, mọi hành động được dẫn dắt bởi ý thức sẽ quyết định nghiệp mà họ phải trả. Ý thức thù nghịch tạo ra môi trường ít khoan dung, khuyến khích bạo lực, tạo ra sợ hãi. 3- Sợ nhận sai lầm, sợ sự thật, vì còn có người giữ vai trò cầm cân nảy mực ưa nói dối, làm dối, nên người khác cũng dùng chính cách ấy để chống lại họ.

Bài của Trần Đại Quang nêu lên được phần lớn thực trạng giả dối trong xã hội VN hiện nay. Với cương vị Chủ tịch nước, viết được như thế chứng tỏ đã biết được phần nào thực trạng đau buồn của dân tộc. Đó là điều đáng hoan nghênh. Tuy nhiên nhiều người còn trông chờ vào 2 điều quan trọng mà chưa thấy Chủ tịch đề cập, đó là truy tìm nguyên nhân và biện pháp khắc phục. (Nếu không sẽ mắc vào lỗi: vạch ra rồi để đấy). Tôi xin bàn góp 2 điều ấy.

Nguyên nhân gốc và sâu xa nào tạo nên thói giả dối hiện nay. Phải chăng nó đã có trong dòng máu của dân Việt từ thời Vua Hùng. Nó được giữ nguyên cho đến bây giờ, hay là có lúc mạnh lúc yếu. Nó mạnh lên hay yếu đi là tại đâu. Truy cho cùng sẽ tìm thấy “Tại Trời” (Ngẫm hay muôn sự tại Trời). Nhưng với Trời chỉ có thể cúng vái, cầu xin còn quy kết trách nhiệm chẳng đi đến đâu. Thời phong kiến thì quy cho Con Trời. Có được vua anh minh thì thói giả dối xẹp xuống, gặp phải vua ngu và tham thì thói giả dối phát triển. Thế còn bây giờ thì quy cho ai. Không ai khác ngoài thế lực lãnh đạo, quản lý xã hội. TĐQ cũng đã viết: “người giữ vai trò cầm cân nảy mực ưa nói dối, làm dối, nên người khác cũng dùng chính cách ấy để chống lại họ”. Hỏi tiếp. Tại sao người cầm cân nẩy mực lại ưa nói dối, làm dối, họ dựa vào đâu để nói dối, ai bao che, bảo vệ cho sự nói dối đó. Tại sao họ nói dối từ lâu mà pháp luật không phát hiện và trừng phạt, v.v… Không biết Chủ tịch đã suy nghĩ và có câu trả lời chưa chứ nhiều người trong nhân dân đã nói tới từ lâu. Cũng không biết những lời nói ấy đã đến tai Chủ tịch chưa. Đó là: Sự giả dối là thuộc bản chất của Chủ nghĩa Mác Lê nin (CNML), của phong trào cộng sản.

Thực ra sự giả dối có sẵn trong dòng máu của dân tộc Việt, là phần yếu kém trong nền văn hóa Việt. Dưới các thời thịnh trị, có vua sáng tôi hiền, luật pháp nghiêm minh, xã hội ổn định, thói giả dối bị bài trừ, bị xẹp xuống. Nhưng sự toàn trị của cộng sản, của chuyên chính vô sản theo CNML trong vòng 6, 7 thập niên lại đây lại là môi trường rất tốt cho thói giả dối lên ngôi, phát triển mạnh mẽ như sóng trào. Ngài Chủ tịch viết: Dùng quyền lực bao che tội lỗi. Thử hỏi ai có quyền lực và dùng quyền lực ngoài đảng CS. Ở VN bây giờ, ngoài tai họa mắc vào mưu đồ hủy diệt của Tàu thì thói giả dối có sức phá hoại xã hội mạnh nhất, mạnh hơn tệ tham nhũng và mua quan bán chức, nó làm hủy hoại đạo đức đến tận gốc rễ. Chính quyền, lãnh đạo dùng giả dối để thống trị, dân chúng dùng giả dối để tồn tại. Có một nhận định rất đúng là : Phong trào cộng sản, theo CNML dựa trên hai cột trụ để tồn tại và phát triển (trước khi dẫn đến diệt vong) là bạo lực sắt máu và dối trá ngụy biện.

Thưa Chủ tịch. Xin đừng vội đổ hết tội lỗi lên đầu dân chúng và một số quan lại thoái hóa biến chất, đành rằng họ cũng góp phần. Đảng khuyến khích nhìn thẳng vào sự thật. Nếu Chủ tịch chưa tin vào sự thật tôi vừa nêu thì xin cho tổ chức các buổi đối thoại về “Thói giả dối của người Việt”. Đối thoại công khai, có tường thuật trực tiếp trên VTV, VOV cho toàn dân xem, nghe, chứng kiến. Vấn đề là phải chân thật trong việc tổ chức chứ không dàn dựng một cách gian dối. Nếu Chủ tịch thấy chưa tiện đối thoại và không đồng ý hoặc chưa rõ về nhận định trên đây mà cho gọi thì tôi xin sẵn sàng đến trình bày trực tiếp để trao đổi với ngài và những cán bộ tuyên huấn cao cấp của đảng CS (về nguyên nhân gốc mọi tệ nạn của XHVN hiện nay, trong đó có thói giả dối).

Về biện pháp khắc phục. Với cương vị Chủ tịch nước và đã viết được một bài trình bày về thực trạng của thói giả dối, tôi nghĩ rằng ngài nên cho thành lập BAN BÀI TRỪ NẠN GIẢ DỐI (bài trừ mạnh hơn phòng chống), nếu được thế tôi xin ứng cử làm một ủy viên. Vừa rồi trong một lớp cao học, khi nghe tôi thuyết trình về đức tính trung thực trong NCKH, một học viên hỏi: “Nghe thầy thuyết trình rất hay, nhưng liệu trong cuộc đời thầy có thực hiện đúng được như thầy nói”. Tôi trả lời: “Trong cuộc đời, tôi không dám cam đoan là trong sạch trăm phần trăm, nhưng trong công việc, trong NCKH tôi chưa bao giờ làm gì gian dối, về cơ bản tôi tự đánh giá là người trung thực”. Còn ngài Chủ tich, ngài sẽ trả lời như thế nào nếu có ai liều mạng hỏi, ngài đã viết được bài về thói giả dối, đã nhận xét có người cầm cân nẩy mực ưa nói dối, thế còn ngài trung thực đến mức nào.

Ở trên tôi đề nghi lập ban bài trừ giả dối là viết cho vui thôi chứ trong hoàn cảnh hiện nay có lập ra nhiều ban như thế cũng chẳng làm được gì ngoài việc tiêu tốn thêm tiền thuế của dân. Thì hàng trăm ban phòng chống tham nhũng hoạt động ráo riết, tiêu tốn nhiều tiền mà nạn tham nhũng vẫn phát triển đó thôi. Để phòng chống giả dối một cách triệt để cần phải loại bỏ nguyên nhân gốc rễ là CNML, phải xây dựng được thể chế thật sự dân chủ với tam quyền phân lập, với một chính quyền minh bạch. Như vậy thì cả dân và quan mới không thể, không dám và không muốn giả dối.

Tôi muốn dùng 2 câu sau trong bài của ngài để nhắc nhở Chủ tịch luôn tâm niệm và cũng để kết thúc bài viết của mình: 1-Sợ sự thật, sợ phải tiếp cận, đối mặt với sự thật sẽ là con đường ngắn nhất dẫn đến tự huỷ hoại. 2- Làm sao có thể xây dựng được một quốc gia hùng mạnh, trong sạch khi người ta luôn sợ hãi trước sự thật, tìm mọi cách để ngăn che sự thật.

Xin ngài hãy tự hỏi, và nếu có dịp nêu ra và thảo luận ở Bộ chính trị, ở Văn phòng Chủ tịch nước phải chăng chính bản thân ngài và đảng CS của ngài đang sợ những điều trên.

N.Đ.C.

Tác giả gửi BVN

SỰ KHỐN CÙNG CỦA TRUYỀN THÔNG QUỐC DOANH

NGUYỄN ĐÌNH ẤM/ BVN 20-6-2016

Sứ mạng của truyền thông chính trị công cộng là phản ánh khách quan mọi sự kiện một cách trung thực đến độc, thính, khán giả. Một nền truyền thông chỉ có sức sống khi đặt sự thật lên trên hết, lấy nhân dân là đối tượng truyền thông.

Thế nhưng, ở Việt Nam hiện nay giới truyền thông do Đảng Cộng sản nuôi bằng tiền thuế của dân và giao cho nhiệm vụ trước tiên là bảo vệ sự độc tôn của đảng nên họ không thể phản ánh các sự kiện xảy ra trong xã hội một cách trung thực khách quan nếu những thông tin, sự thật đó không có lợi cho chế độ độc tài. Từ giảng đường đến các tòa soạn nhà báo nào cũng phải thấm nhuần lời răn dạy “kinh điển”: “Tính chân thật của báo chí cách mạng là sự thật phù hợp đường lối, chính sách của đảng”. Tức là sự thật có lợi cho đảng thì mới được phổ biến và ngược lại. Có quá nhiều ví dụ truyền thông quốc doanh bỏ qua, lẩn tránh hoặc phản ánh không trung thực những thông tin hệ trọng nhưng không hợp “đường lối” như vụ cá chết ở miền Trung, những cuộc biểu tình rầm rộ của hàng nghìn người chống Trung Quốc xâm lược, bảo vệ cây xanh, hàng nghìn dân oan mất đất nhếch nhác, mỏi mòn lang thang hết cửa quan, phố phường này đến cửa quan phố phường khác đòi công lý hết năm này qua năm khác, những cuộc công an bắt bớ đánh đập, ngăn cản tự do đi lại, giam cầm người biểu tình bảo vệ tổ quốc, cây xanh, môi trường…

Vụ cá chết ở miền Trung là thảm họa quốc gia cực kỳ nghiêm trọng chưa từng có nhưng truyền thông quốc doanh chỉ được đưa rất ít thông tin chiếu lệ, sơ sài. Sau hơn hai tháng không đưa ra nguyên nhân cá chết, để lừa dư luận, truyền thông quốc doanh chỉ đưa thông tin những đoàn người đi gom rác ở bờ biển để thay cho vấn đề môi trường nước biển bị đầu độc, còn nguy hiểm hơn rác rưởi ở bờ biển gấp vạn, triệu lần. Rất nhiều vụ tàu thuyền Trung Quốc đâm chìm, cướp bóc, giết hại ngư dân ta chỉ được thông tin rất hạn chế với tên “tàu nước lạ”… Chưa bao giờ truyền thông ở đâu nhục nhã đến thế!

Tổng thống Mỹ Obama thăm Việt Nam được dân Việt Nam tiếp đón vô cùng nồng nhiệt bởi họ yêu quý sứ giả của một đất nước dân chủ, tự do, có lợi ích Biển Đông trùng hợp với lợi ích của Việt Nam, đã và sẽ góp phần giúp Việt Nam bảo vệ Biển Đông, đem đến những sự ủng hộ thịnh vượng kinh tế Việt Nam… Thế nhưng khi khách vừa về, VTV1 Chuyển động 24h lại tổ chức chương trình nói về “thói giả dối của Obama” trong đó MC Việt Hoàng ba hoa nói xấu khách để dân hiểu mọi hình ảnh giản dị, thực tâm, những phát ngôn trí tuệ, tôn trọng nhân dân, nền văn hóa, lịch sử Việt Nam như chỉ là một sự giả dối, dàn dựng… Phải chăng họ quá cay cú vì dân không theo ý Đảng? Phải chăng họ đã xúc phạm, hỗn xược với nhân dân vì coi dân ngu dốt “mắc lừa’ sự giả dối của Tổng thống Mỹ Obama để đón đưa nồng hậu như thế?

Một sự bất nhã vô liêm!

Trước sự quan tâm chính đáng của dư luận về vụ cá chết VTV đã tổ chức “60 phút mở” như để “đấu tố”, truy vấn MC Phan Anh dám “chia sẻ” sự kiện như thể nhắc nhở dư luận không được quan tâm đến thông tin nhà cầm quyền muốn ỉm đi này.

Một cơ quan truyền thông mà nhiệm vụ hàng đầu là bảo vệ lợi ích cho một “ông vua” bất chấp sự thật, đạo lý tất nhiên không thể trung thực, làm sao chinh phục được khán giả nên nó phải tìm đến những trò giật gân, dàn dựng, dối trá… để tạo sự hấp dẫn. Vụ bịa đặt chuyện cô Lượm ở Huế, vụ quét rau ở Thanh Hóa… là sản phẩm cửa sự bế tắc, tha hóa đến thảm hại của truyền thông quốc doanh. Theo dư luận ở VTV thì những dàn dựng, bịa đặt này còn do một nguyên nhân nữa là các phóng viên “có máu mặt” ở VTV “cạ” với lãnh đạo thành lập các công ty truyền thông riêng cho người thân làm giám đốc để “thầu” các chương trình gọi là “xã hội hóa” của VTV thực hiện dự án. Những doanh nghiệp này làm hoặc thuê người làm với chi phí “bèo” nhưng quyết toán với nhà nước giá cao hưởng chênh lệch lớn (?).

Do phải hoàn thành nhiệm vụ chính trị với “vua tập thể” chống “thế lực thù địch”, phản động, “diễn biến hòa bình” để bảo vệ đảng bằng mọi giá nên truyền thông quốc doanh đã phơi bày bản chất dối trá vô liêm, vô sỉ trước dư luận. Vụ hai nhà báo tự do Trương Minh Tam, Chu Mạnh Sơn vào Hà Tĩnh mới chỉ đang sưu tầm thông tin về vụ cá chết bị công an bắt giam giữ trái pháp luật nhưng VTV vu khống họ là “kích động” nhân dân chống chính quyền với những hình ảnh minh họa như bản ký nhận tiền, dao kiếm, vũ khí… để khán giả hiểu rằng họ ăn tiền phản động nước ngoài vi phạm pháp luật nghiêm trọng… Khi nhà cầm quyền không có bằng chứng nào kết tội hai phóng viên phải trả tự do cho họ, độc giả chất vấn VTV thì họ trả lời “do công an chuyển đến chỉ phát”.

Một sự vu khống hèn hạ và trơ tráo, vô lương tâm, vô trách nhiệm. Đã quá nhiều lần truyền thông quốc doanh bịa đặt, dàn dựng vu khống vô liêm sỉ với người bất đồng chính kiến kiểu như vậy.

Dư luận lâu nay sôi sục khi báo Quân đội Nhân dân, VTV liên tục gây ra những “sai sót” xúc phạm khán, độc giả như phát hình các cháu thiếu nhi đón Tập Cận Bình cầm cờ Trung Quốc có 6 sao, tấu nhạc Tàu khi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang lên phát biểu trong chương trình “Khát vọng đoàn tụ” dịp 27/7/2015, lấy tranh cổ động thời cách mạng văn hóa, người Trung Quốc đọc trước tác Mao làm hình nền trong buổi tuyên dương những người con bình dị tại nhà hát lớn Hà Nội tối 11/6/2014…

Những cơ quan truyền thông chủ chốt của quốc gia có thể có những “sai sót” sơ đẳng, nghiêm trọng và hệ thống đến thế? Ai đã từng làm báo dù ở cơ quan báo nhỏ sẽ hiểu để đăng, phát một mẩu tin nó phải qua bao nhiêu công đoạn kiểm duyệt: Người viết (ghi hình), biên tập viên biên tập, lãnh đạo duyệt đăng (phát), thư ký tòa soạn sắp xếp, nếu là báo in thì còn có công đoạn sửa morat nữa. Tất cả cùng có trách nhiệm phát hiện sai sót.

Phải chăng truyền thông quốc doanh đã đồng lõa mưu toan bán nước, phản động?

Hôm trước nhà báo “cách mạng” Như Phong đã viết bài “Nghề phóng viên phải như con chó ấy” thú nhận (đại khái) nhà báo cách mạng (báo quốc doanh) là phải trung thành với chủ (Đảng Cộng sản) như con chó. Quả không sai!

Người cầm bút mà phải làm ngơ trước sự thật, quốc kế, dân sinh, sự mất còn của đất nước, dân tộc, nhắm mắt làm theo chủ trương phản dân, hại nước, bịa đặt, vu khống người lương thiện “như chó cắn theo ý chủ”… thì quả truyền thông quốc doanh đã đến sự khốn cùng.

N. Đ. A.

Tác giả gửi BVN.

SUY NGẪM VỀ THÓI GIẢ DỐI CỦA NGƯỜI VIÊT

TRẦN ĐẠI QUANG.ORG/ 14-6-2016

Sợ sự thật, sợ phải tiếp cận, đối mặt với sự thật sẽ là con đường ngắn nhất dẫn đến tự huỷ hoại.

Suy ngẫm về thói giả dối của người Việt

Gần đây, trong nhiều mặt sinh hoạt đời thường, người ta cảm nhận rõ hơn sự giả dối, gian dối đang ngày càng trở nên phổ biến. Nhưng phải làm gì trước sự giả dối thì gần như người Việt mình vẫn chưa có thói quen hành xử đúng mực với nó.

“Ngụy thiện”?

Có khi biết rõ cái đang diễn trước mặt mình quá ư giả dối, nhưng lại sợ “vạch áo cho người xem lưng”, sợ “xấu chàng hổ ai”, nên sự giả dối, bất lương càng có đất để sống dai và biến tướng.

Giả dối luôn song hành với sự hèn yếu, thiếu tự tin nơi nhân cách, chuyên môn của chính mình. Một khi thước đo nhân cách bị đánh mất thì họ sẽ tìm cách bưng bít và ngăn che sự thật. Biểu hiện rõ nhất của sự giả dối, dối trá là bên ngoài người ta có thể đóng vai làm “nhà từ thiện” nhưng bên trong thì ra sức tiêu thụ hàng quá đát, hàng độc hại để thu lợi bất chính.

Không ít người sẵn sàng làm chứng gian cho nhau, hoặc ngậm miệng cho qua mọi chuyện để cầu toàn, hưởng lợi… Vì thế giả dối luôn song hành với tâm lý xấu che, tốt khoe và sợ sự thật. Trong các quan hệ ứng xử, một khi người ta thiếu lòng tự trọng và sợ sự thật, thì đó là lúc sự giả dối phát tác và bắt đầu gây hại.

Cũng cần phân biệt thêm giữa nói dối, giả dối và gian dối. Nói dối phần nhiều liên quan đến cái miệng, nhưng giả dối và gian dối thì vượt xa sự bất lương của cái miệng. Vì nó còn là thủ đoạn được thúc đẩy ngay trong hành động và ý nghĩ gây hại.

Nói thì dễ, làm thì khó. Nói dối không chỉ là nói sai sự thật, quá sự thật mà còn là nói hoa mỹ, khoa trương, thêu dệt, nói vô bằng. Đằng trước nói phải sau lưng nói trái, nói ác độc gây thù hận, đổ vỡ… Nói dối và làm dối có tác hại ở những mức độ khác nhau, nhưng nếu cả nói dối và làm dối cùng bị ý thức điều khiển thì cụôc sống sẽ phát sinh nhiều bất ổn.

Việc thích nghe khen, nghe nịnh, nghe tâng bốc cũng ít nhiều tiếp tay cho sự giả dối. Giả dối tạo ra sự mất mát niềm tin trong xã hội, một khi ai đó cứ mở miệng ra là rao giảng đạo đức, nhưng cách hành xử thực tế thì luôn đi về phía ngược lại. Hệ thống quản trị xã hội đến lúc nào đó sẽ đối mặt với khủng hoảng một khi các giá trị đạo đức bị bất tín. Nói như dân gian: “Trăm năm tích đức tu hành, một nhời thất đức công trình đổ đi”…

Thông thường, đứng trước sự giả dối nhất thời, người ta sẽ quy ngược và tẩy chay cả quá trình “tích đức” lâu dài trước đó. Vì thế thành tích quá khứ cũng khó “đỡ” nổi cho cái hiện tại trần trụi, nhiều khuyết tật này. Nhưng nếu ai dũng cảm nhận trách nhiệm, không đổ lỗi, thì họ sẽ có cơ hội phục dựng lại hình ảnh nhân cách của mình, xây dựng niềm tin vào sự tốt đẹp cho cộng đồng.

Nếu dùng quyền lực, tiền bạc để bao che tội lỗi, thì sẽ tạo ra cho đời sống ứng xử một thứ lo ngại hữu hình, rằng sự thật không những không được phơi bày mà còn để cho sự giả dối ngang nhiên công phá vào thành trì niềm tin con người.

Khi các mối quan hệ xã hội xảy ra sự mất niềm tin ở diện rộng đối với nhau thì người ta dễ dàng phân tuyến và củng cố cho cái nhìn đối lập “yêu nên tốt ghét nên xấu” của mình. Do đó, những cơ hội để người ta điều chỉnh và tương thông với nhau sẽ bị sự thành kiến ngăn chặn.

Rõ ràng cái nhìn “yêu nên tốt ghét nên xấu” của người Việt mình chưa sửa chữa được cái khuyết điểm lịch sử trong việc “định nghĩa” con người là thiện hay ác, có thể sửa chữa hay không. Đây cũng là quan điểm không thống nhất của Nho gia và Pháp gia trong lịch sử cai trị mà Việt Nam từng chịu ảnh hưởng.

Pháp gia nghĩ ra mọi điều luật để tăng tối đa các công cụ cai trị có lợi cho vương quyền, trong khi Nho gia thì gia giảm và bổ sung nhiều các phép tắc đạo đức, thậm chí ở một mức độ khó tin như “mệnh trời”. Cũng vì đổ hết cho mệnh trời, nên lời nói và thực hành ít đi đôi với nhau.

Khi chữ “trung” được đẩy lên mức cao nhất (trung thần bất sự nhị quân), thì đặc quyền của giới quý tộc gần như không có điểm dừng, trong khi dân chúng phải chịu đủ mọi thứ khắc chế. Hàng nghìn năm dân tộc ta phải sống chung với cái không có thật là “mệnh trời”, một dạng “nguỵ thiện” trong cai trị.

Sẽ rất khó khăn để nói thẳng, nói thật trong những trường hợp ứng xử xã hội thiên về lối sống duy cảm kiểu “yêu nên tốt ghét nên xấu”. Và đó là lý do pháp luật khó được thực thi và sự thật luôn bị đẩy vào góc khuất.

Còn nhiều cái không có thật, cái ảo tưởng vẫn tiếp tục cai trị trong đầu óc con người, nên người ta buộc phải học cách để sống chung với nó. “Nguỵ thiện” là lấy cái học đạo đức giả làm nền cho ứng xử, khiến cho người ta thích nghe những lời tâng bốc và luôn sợ hãi trước sự thật.

Giả dối – ý thức bị cái ác chế ngự hoàn toàn

Theo quan điểm của đạo Phật, rất khó để có những lời nói dối không gây hại cho ai, nên nói dối dù ở mức độ nào vẫn phải dẫn đến “quả báo” mất mát niềm tin. Nói dối có nhiều cấp độ nặng nhẹ khác nhau, nhưng giả dối thì được huấn tập vào trong tính cách, đến một lúc lấn lướt và trở thành cái đối lập với sự chân thật, công lý.

Có nhiều tình huống người ta phải nói dối, nhưng đó không phải là sự giả dối. Giả dối có cấp độ cao hơn nhiều nói dối, vì ở đó ý thức đã bị cái ác chế ngự hoàn toàn.

Trong vế tâm lý “ghét nên xấu”, người ta dễ dàng nuôi dưỡng ý định gây tổn hại cho đối phương. Thậm chí, chỉ cần nghe đối phương gặp khó khăn thì họ cũng coi đó là cơ hội để vui sướng, ăn mừng. Ngay cả việc dùng công cụ bạo lực để hại người cũng được xem như một thứ niềm vui. Đôi lúc người ta còn tranh luận: “Tôi chỉ mới có ý định giết người thôi, còn đã có ai chết đâu mà tôi bị coi là phạm tội giết người”.

Theo quan điểm của đạo Phật, mọi hành động được dẫn dắt bởi ý thức sẽ quyết định nghiệp mà họ phải trả. Trong trường hợp này, dù người kia chưa giết người thì tội giết người cũng đã thành lập, vì ý thức trung tâm đã bị cái ác kiểm soát. Đạo Phật gọi đó là tự tác, giáo tha tác, kiến tác tuỳ hỷ (tự tay mình giết, bảo người khác giết, thấy người khác giết mà vui theo).

Dù ở tình huống phải giết một để người cứu vạn người thì vẫn phải chịu qủa báo giết người, không gì có thể bù lấp được cho hành vi cố sát. Vì giết cái ác trong một con người chỉ là giết một vế của con người, còn đang tâm giết cả con người là giết luôn cái thiện, không cho người khác cơ hội để sống và sửa chữa.

Khi ý thức thù nghịch phân tuyến và trở thành định kiến trong ứng xử xã hội thì sẽ tạo ra một môi trường giáo dục ít khoan dung và hoà giải. Một khi lòng từ bi không phải là sức mạnh thì càng sử dụng bạo lực, càng cho thấy sự sợ hãi. Phản ứng của sự sợ hãi chính ngăn che sự thật, khiến người ta không thấy được hành vi gây tổn hại, nhất là khi ý thức đã bị sự hiềm thù, đối đầu kiểm soát.

Trong nhiều trường hợp, pháp luật và nhân nghĩa đời thường không gặp gỡ nhau. Và xã hội “nguỵ thiện” là xã hội mà ai cũng tự cho rằng mình là “chân lý”. Ngay cả tôn giáo, một nơi được xem là có nhiều bài học đạo đức nhất, mà sự chết chóc, thù hận do xung đột tôn giáo cũng không hề giảm.

Pháp luật và đạo đức có đầy đủ các mức độ để kiểm soát hành vi, duy trì trật tự xã hội, nhưng nó sẽ trở nên “nguỵ thiện” khi những người tạo ra nó sống bằng hành vi đạo đức giả, thiếu vắng sự soi chiếu nội tâm và kiểm soát ý thức. Song những bất ổn xã hội là một tương quan rộng lớn, trong đó có cả tâm thức khơi mào cho những nghi kỵ, thù hận, khắc sâu và đưa đẩy những mối họa tham sân si lớn hơn của con người để tranh giành ích lợi và ảnh hưởng, đôi khi chỉ để thỏa mãn cái tự ngã nhất thời.

Tính giả dối và căn bệnh sợ sự thật

Trong lịch sử, Pháp gia và Nho gia ra sức bảo vệ vương quyền bằng đủ mọi quy định pháp luật và quy chuẩn đạo đức. Tuy nhiên, đạo đức tôn giáo và pháp luật trong tình huống cụ thể nào đó lại không có cùng tiếng nói với nhau.

Bởi “đạo đức nguỵ thiện” và “pháp quyền mánh khoé” đều có những mặt lợi hại, nhưng bao nhiêu thế kỷ nay nó chỉ dừng ở mức khắc chế và thúc ước nhau, chứ không bao giờ triệt tiêu nhau. Và khi lợi ích được dàn xếp, nó sẽ tìm cách xích lại gần nhau.

Người Việt mình có một hạn chế là thấy cái gì đó mới là vồ vập, nhưng không theo đuổi cái gì cho đến nơi đến chốn. Thế nên không ít lần tiếp nhận tư tưởng khác, nhưng ít tiếp nối và thừa kế những tinh hoa của nó. Nói chung là thiếu một cái nhìn tương quan toàn diện.

Một giới hạn khác là luôn tỏ ra sợ hãi khi phải thừa nhận những sai lầm. Vì thế dù pháp luật có quy định chi tiết thì người ta cũng không đủ tự tin để giải quyết dứt điểm, tạo nên những thái độ lừng khừng, lưng chừng, nửa vời, nhìn trước ngó sau để bảo toàn cho mình. Quy hoạch chiến lược ở ta yếu cũng chính vì tính cách ăn xổi ở thì, thiếu bản lĩnh tự tin này.

Có người quan tâm hỏi người bạn của mình rằng: “Nghe nói anh bị ung thư phải không?”. Người bạn trả lời: “Không, tôi không có bệnh gì cả”. Một thời gian ngắn sau người kia thấy anh bạn của mình qua đời vì bệnh ung thư, bèn chặc lưỡi: “Rõ ràng anh ta chết vì ung thư mà cứ bảo mình không có bệnh gì?”. Việc chết đến nơi rồi mà vẫn không thừa nhận mình có bệnh. Đó là bệnh gì, nếu không phải là bệnh sợ hãi sự thật.

Sợ sự thật, sợ phải tiếp cận, đối mặt với sự thật sẽ là con đường ngắn nhất dẫn đến tự huỷ hoại.

Trong một bài báo, nhà báo Hữu Thọ có nói: “Muốn nghe được lời nói thật là phải công phu lắm, phải thành tâm lắm. Hãy rửa tai để nghe lời nói thật vì không có lời nói thật nào mà không có vị chua chát. Để bệnh nói dối tràn lan chủ yếu là tại người nghe”.

Có sự thật nào thật hơn những phát biểu ấy? Đến nỗi Giáo sư Hoàng Tuỵ phải thốt lên: “Sự giả dối đang là mối nhục lớn”. Nhưng ai là người đi đầu trong nhận thức “biết nhục” để xã hội không nhục, thì còn tuỳ vào việc có người nghe được lời nói thẳng và nghe được sự thật hay không.

Cái thói quen ứng xử “yêu nên tốt, ghét nên xấu” cũng khơi mào cho việc dung dưỡng sự giả dối, đánh tráo khái niệm và làm sai lệch nhận thức. Khi không còn niềm tin ở nhau, xã hội ở tất cả các phía ghét yêu đều muốn giành phần thắng về mình bất chấp cả “lời nói dối”, bất chấp việc bẻ chữ, bẻ nghĩa để gây bất lợi cho đối phương. Đó cũng là hình ảnh sinh động nhất của một xã hội đang dạy nhau dối trá.

Tuy nhiên cũng cần phải hiểu, vì còn có người giữ vai trò cầm cân nảy mực ưa nói dối, làm dối, nên người khác cũng dùng chính cách ấy để chống lại họ. Như vậy, nhẽ ra chúng ta có được một xã hội có đủ người nói thẳng, nói ngay, nói đúng sự thật, có đủ người nghe thẳng, nghe ngay, nghe đúng sự thật…, thì vì định kiến “truyền thống”, “chủ nghĩa”, “tôn giáo”, ngay cả những người được xem là nói được, viết được để tác động đến dư luận xã hội cũng rơi vào hoạt cảnh dối trá…

Khi những cái dối trá ấy gặp nhau, đối chọi nhau thì làm gì có một xã hội đàng hoàng đúng nghĩa. Một khi cái sự gian dối bị đẩy vào góc khuất, đẩy vào bí mật quá lâu thì sẽ tạo ra sự bất tín. Theo quan điểm của đạo Phật, nói dối bất cứ điều gì đều phải chịu quả báo, và quả báo nhãn tiền là ngay cả khi nói thật nhưng cũng không ai tin.

Truyện kể dân gian có nói đến nhân vật một đứa trẻ, vì muốn đánh lừa người khác để làm vui thích, đã hô cháy nhà để mọi người chạy đến cứu. Nhưng khi trò đó tái diễn vài lần, thì người ta không còn tin vào nó nữa. Cho đến khi nhà nó xảy ra hoả hoạn, nó hô khản cả cổ nhưng cũng không ai thèm để ý để chạy  đến cứu.

Trong lịch sử dân tộc, vua Lý Nhân Tông từng xuống chiếu cầu lời nói thẳng, xét người có tài đức cho quản quân dân. Như thế phải quý trọng sự thật, phải có sự dũng mãnh và lòng khoan dung độ lượng hơn người mới có thể lắng nghe được sự thật, lắng nghe được lời nói thẳng.

Trong các quan hệ xã hội, không dung được người khác thì cũng không dung được mình. Dung người thể hiện ở chỗ biết lắng nghe lời nói thẳng. Không dung được người biểu hiện ở hành vi trấn áp bằng bạo lực và các ứng xử dưới chuẩn khác. Do đó càng sử dụng bạo lực, càng dối trá thì càng lộ ra sự kém cỏi trong nhận thức, cũng như sự sợ hãi, hoảng loạn, mất định hướng trong tinh thần.

Khi bạo lực hành vi, ngôn từ trong xã hội thắng thế thì hành xử của con người ngày càng xa rời các giá trị đạo lý, càng sợ hãi trước sự thật…

Làm sao có thể xây dựng được một quốc gia hùng mạnh, trong sạch khi người ta luôn sợ hãi trước sự thật, tìm mọi cách để ngăn che sự thật.

(Theo Tri Thức Trẻ)

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Chuyên mục

%d bloggers like this: