Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Tám 28, 2016

20160828. THƯ GIÃN VỚI CHUYỆN KHEN- CHÊ

ĐIỂM BÁO MẠNG

KHEN QUÁ HÓA… CHỬI !

THÁI HỮU TÌNH/ BVN 28-7-2016

Kết quả hình ảnh cho nâng bi

Tôi có hai ông bạn rất vui tính, hay pha trò, chỉ phải cái tật “đảng tính đầy mình” bất di bất dịch, chẳng biết thật hay giả nhưng cứ mở miệng là phải nói đúng lập trường, đặc biệt đối với ông TBT tối cao của đảng thì chỉ một mực tôn vinh và kính phục. Hai ông rất tương đắc, thế mà có hôm tranh luận xung đột, tôi tưởng suýt nữa họ “choảng” nhau…

Ông Khoái đặt tờ báo xuống bàn, vỗ đùi đánh đét rồi ngả người trên ghế xích-đu, lắc lư cái đầu:

– Hay, hay! Hay tuyệt cú mèo! Dân chủ đến thế là cùng! Có thế chứ! Tài, tài thật, tài đến thế là cùng, tiên sư ông cụ Tổng!

Ông Thà cũng đang chăm chú đọc một tài liệu (chắc là một bản tin nội bộ sau Đại hội chứ gì), nghe thấy ông bạn “chửi” đích danh TBT liền đứng phắt dậy, chỉ mặt và sừng sộ:

– Ông điên à, sao hôm nay bỗng dưng ăn nói phản động thế, nhiễm tư tưởng của đám biểu tình rồi hả?

– Phản động cái con khỉ, tôi sướng quá thì có. Không phải câu chửi mà là câu thán phục. Đây ông xem, cụ Tổng nói quá đúng, “Dân chủ đến thế là cùng” tức là dân chủ cực điểm rồi, không thể dân chủ cao hơn được nữa, cao hơn nữa thì chết. Đột nhiên tôi nhớ nhân vật Hoàng của Nam Cao phải vỗ đùi bái phục Tào Tháo “Tài đến thế là cùng, tiên sư anh Tào Tháo”, một câu khen để đời. Ông không biết à: khi sự kính phục, sự khoái trá đã đến mức vô cùng tận thì mọi ngôn ngữ thông thường đều bất lực hết, chỉ có phát cuồng lên bật thành câu chửi mới bộc lộ hết cái xúc cảm của sự kính phục. Thế mới là văn học ông ạ, đấy cũng là cái nguyên lý “cùng tắc biến” trong ngôn ngữ. Khen quá hóa… chửi, mà Chửi chính là Khen, có câu khen nào tuyệt vời hơn câu chửi dưới ngòi bút Nam Cao?

Ông Thà được bạn giảng giải một chút về “lý thuyết văn học” như vậy chắc đã hiểu ra, nên vừa tủm tỉm cười vừa tấm tắc phụ họa:

– Ừ tài thật, vừa mới hôm nào lấy phiếu tín nhiệm ở Trung ương, ông ấy xếp thứ 8 mà nay đánh bật được hai lão thứ nhất thứ nhì thì có giỏi không? Ổng tuyên bố chống kẻ hám quyền và phải loại trừ người quá tuổi, nói thế ai cũng tưởng ông tự loại mình ra thế mà kết cục ngược lại thì có tài không? “Nghệ thuật lãnh đạo” như thế phải công nhận là siêu.

Ông Khoái bổ sung:

– Mà phải công nhận, ông ấy nói câu nào là trúng câu ấy, chỉ bọn ngu không hiểu nên phản đối thôi. Ví dụ trong khi ai cũng bảo mất biển mất nước đến nơi thì ông khẳng định “Tình hình biển đông không có gì mới”? Thoạt nghe tưởng vô lý, nhưng đúng quá đi chứ, có mất nước, bị Bắc thuộc lần nữa thì cũng có gì mới nào, Bắc thuộc lặp đi lặp lại ba bốn lần, dài cả nghìn năm rồi chứ mới nỗi gì? Chí lý, thậm chí lý! Nói câu ấy là đã nhìn rõ cái sự Bắc thuộc nó chắc như đinh đóng cột rồi, quả là viễn kiến, là tiên tri như Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm vậy.

Ông Thà có vẻ rất ưng ý sự đánh giá ấy nên gật đầu lia lịa:

– Ừ, ừ, khen TBT nhà mình thì cứ khen cả ngày!

T.H.T.

Tác giả gửi BVN

 ĐÔI LỜI CÙNG BÁC THÁI BÁ TÂN

VÕ VĂN TẠO/ BVN 28-8-2016

Đôi lời cùng bác Thái Bá Tân

Bác Thái Bá Tân lâu nay được nhiều người chơi fb, trong đó có tôi, mến mộ qua những vần thơ 5 chữ giản dị, hóm hỉnh phê phán thế sự. Mấy hôm nay, bỗng rộ lên tranh cãi về một stt bác mới viết. Không ít người chụp mũ, thóa mạ nặng nề đại loại bác “nâng bi Trọng lú”, “nịnh thối đảng”, “sớm đánh, tối đầu”, “ăn cây nào, rào cây ấy”, “được CS ưu ái cho du học, chịu ơn CS”…

Thiết nghĩ, những nhận xét đó thật không công bằng với bác, nếu không nói là có phần cực đoan, hồ đồ.

Thế nhưng, đọc stt của bác, tôi cũng xin có đôi lời cùng bác:

1. Bác tin ông Trọng là người liêm khiết.

Vâng, tôi và nhiều người khác cũng chưa nghe thông tin ông Trọng tham nhũng tiền bạc hay có tài sản khủng bất minh.

Tuy nhiên, là người học hành chữ nghĩa (dù học Mác Lê), hẳn ông Trọng dư biết: tự do tư tưởng, tự do quan điểm chính trị là quyền cơ bản, tối thượng, thiêng liêng và tự nhiên của mỗi con người trong xã hội. Một đảng chủ trương độc tài về chính trị, là đảng đó đã cướp đoạt quyền tự do ấy của cả xã hội. Chắc chắn ông Trọng dư biết độc tài cai trị là cái gốc đẻ ra mọi tha hóa, xấu xa, trong đó có tham nhũng vật chất. Chỉ có tự do tư tưởng, đa nguyên chính trị, đa đảng, tự do ngôn luận, tự do báo chí, chấp nhận đối lập, lá phiếu của dân chúng có quyền lực thực sự thì mới giảm thiểu lạm quyền, tha hóa, tham nhũng, coi dân như cỏ rác, như bầy bò để vắt sữa.

Tham nhũng vật chất là vơ vét của cải thiên hạ về tay cá nhân, phe cánh. Tham nhũng chính trị là vơ vét quyền lực xã hội về tay cá nhân, phe nhóm. Tác hại của tham nhũng chính trị, quyền lực khủng khiếp hơn tham nhũng vật chất.

2. Bác tin lãnh đạo nước ta không bán nước cho Tàu.

Tôi cũng tin như bác. Vì bán nước (thành khu tự trị hay tỉnh của Tàu) thì đang ở vị trí nguyên thủ quốc gia (vua một cõi), họ đâu muốn thành tỉnh trưởng (hàng thần lơ láo)?

Nhưng cái tình huống cuối thập niên 1980, Liên Xô và Đông Âu từ bỏ CS, họ sợ tự do dân chủ lan đến VN, mà muối mặt, trơ trẽn và nhục nhã chủ động cầu cạnh thằng bành trướng từ nghìn đời nay, mới trước đó có 2 năm thảm sát 64 bộ đội ta trong vụ xâm lấn Trường Sa – Gạc Ma, cách đó có 1 năm, đang tâm điều xe tăng chà nát hàng nghìn sinh viên đòi dân chủ và minh bạch một cách ôn hòa ở Thiên An Môn, thì cái dã tâm ngai vua tập thể trên hết đã bộc lộ quá rõ ràng. Nhận định của ông Nguyễn Cơ Thạch về Hội nghị Thành Đô 9-1990: “Một thời kỳ Bắc thuộc mới đầy nguy hiểm” ngày càng được thực tế VN minh chứng.

Tôi tin họ không trắng trợn thỏa thuận, ký kết đến 2020, VN thành khu tự trị thuộc Tàu, nhưng chắc chắn những gì họ đã bàn bạc, thỏa thuận và thực thi từ Thành Đô đến nay đã và đang làm VN ngày càng suy yếu trong tương quan lực lượng với Tàu, tạo cơ hội Tàu ngày càng lấn lướt chủ quyền của VN, và nguy cơ VN bị thôn tính từng phần, xâm lược ngày càng rõ nét. Lợi ích quốc gia ngày càng bị Tàu cướp đoạt, lòng dân ngày càng hoang mang.
Nếu họ vì đất nước, vì nhân dân, đã không bỏ lỡ mọi cơ hội Hoa Kỳ và các cường quốc văn minh muốn tăng cường hợp tác.

3. “Bất chấp tham nhũng và sự bất tài của một số lãnh đạo”, bác tin “đất nước ta sẽ phát triển về kinh tế, và dần dần sẽ đổi mới hơn nữa và tiến bộ hơn về chính trị”.

Tôi cũng tin như bác, vì đó là quy luật mà họ không thể cưỡng lại. Nhưng lực cản từ họ làm chậm lại rất nhiều đà tiến của đất nước.

4. Bác tin con người Việt Nam ta về cơ bản vẫn tốt chứ không hoàn toàn u ám như nhiều bác mô tả.

Tôi không nghĩ như bác. Tôi cho rằng, chừng nào CS còn cai trị thì thói giả dối, tuyên truyền bịp bợm, ngu dân còn thống trị, và chỉ làm cho người VN càng tệ hại mà thôi. Cứ so sánh đạo đức, lối sống, triết lý giáo dục miền Bắc trước và sau 1954, miền Nam và cả nước trước và sau 1975 là thấy rõ ngay.

5. Bác: “không thích cộng sản, nhưng vẫn ghi nhận, thậm chí biết ơn những gì chế độ đã làm cho đất nước từ ngày đổi mới. Chúng ta từ một nước cực nghèo mà được thế này là quá tốt rồi. Tất nhiên vẫn muốn tốt hơn nữa. Tôi thấy bộ máy chính phủ vận hành được. Bác thủ tướng chỉ đạo quyết liệt. Bác Thăng năng nổ và dám nói, dám làm”.

Ý này thì bác sai rõ rồi. Tôi cho rằng không gì khôi hài, trơ trẽn và ngụy biện hơn lập luận ấy của đảng. “Đổi mới” là gì? Nếu chẳng phải là suốt mấy thập niên đảng từng rập khuôn áp đặt khốc liệt mô hình quản lý duy ý chí kinh tế – xã hội ngu xuẩn của Stalin, kìm hãm, triệt tiêu sức sản xuất như trói nền kinh tế xã hội lại. Rồi thấy nguy cơ khủng hoảng tột cùng, đảng mới nới bớt cho kinh tế phát triển một phần tự nhiên như nó vốn vận hành (kinh tế thị trường) và lu loa đó là công ơn của đảng?

Bác hãy nhìn sang Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore, Malaixia, Indonesia… để thấy, đầu thập niên 1960, họ kém xa ta đó.

Cái nhìn của bác về Thủ tướng Phúc dường như không được mấy người tán thành, chí ít trong vụ cá chết. Formosa tái phạm biết bao lần, có thấy đóng cửa đâu? Bác Thăng chỉ được cái lăng xăng, la lớn, đánh bóng tào lao. Nếu bác rành lịch sử tiến thân kiểu “công công” của bác Thăng, bác đã chẳng lạc quan vậy. Về lời nói và hứa hẹn, ông Phúc và ông Thăng cộng lại, chưa bằng ông X.

6. Bác: “tin sớm muộn đất nước mình sẽ có dân chủ và tự do thực sự. Tạm thời chưa có được cái đích tốt đẹp ấy thì tạm hài lòng với những gì đã có, và chung sức cùng đồng bào đấu tranh (một cách xây dựng) để đạt được điều ấy. Tóm lại, về đại cục mà nói, tôi thấy tình hình không phải xấu đi mà đang tốt lên, trừ vụ nợ công và thâm hụt ngân sách mà tôi không rõ lắm”.

Vâng, tôi cũng tin dân chủ tự do thực sự sẽ có với nước ta. Có điều, nó sẽ có ngay trong một thời gian rất nhanh, nếu chóp bu CS, vì quyền lợi nhân dân và đất nước, từ bỏ quyền lợi vị kỷ của họ. Hiện nay, họ không từ thủ đoạn xấu xa, đê tiện, tội lỗi nào để làm chậm quá trình ấy ngày nào hay ngày ấy, cốt vơ vét thêm nữa cho bản thân, dòng tộc, vây cánh.

Hài lòng với những gì đã và đang có không phải suy nghĩ chung của đa số dân nghèo lam lũ thấp cổ bé họng và trí thức chân chính.

Nợ công, thâm hụt ngân sách thì chính báo chí quốc doanh cũng cho cả nước rõ rồi. Đại cục chẳng tốt lên đâu.

Đảng đang cố duy trì quyền lực độc tôn cai trị bằng mọi giá. Tôi chẳng thấy gì sáng sủa sau Đại hội 12, vì một số nhân vật kỹ trị, có học, còn chút lương tâm thì bị gạt ra rìa, hoặc bố trí ở vị trí hữu danh vô thực. Trong khi đó, các vị trí chủ chốt lại tràn ngập giới bảo thủ, hắc ám, quân phiệt. Một vài doanh nghiệp sân sau của ê kíp cũ bị sờ gáy, nhưng dường như những con cá mập mafia bự nhất vẫn nhởn nhơ. Dư luận cho rằng, chúng sẽ nhanh chóng thích nghi với ê kíp mới.

Thưa bác Thái Bá Tân, tôi suy nghĩ như vậy, có quá bi quan?

V.V.T.

————————————-

Đây là status của bác Thái Bá Tân:

Đôi lời

Bực mình một bác vừa rồi bảo tôi nâng bi bác Trọng và chế độ.
Nói rõ thế này nhé.

Cuộc sống đa dạng, con người cũng đa dạng, không ai, không cái gì xấu cả hoặc tốt cả. Cách đánh giá cũng da dạng như vậy. Bất chấp nguy hiểm cho bản thân, tôi lên tiếng phản biện, có khi nặng lời. Nhưng cái gì tôi tin là đúng thì tôi khen. Chưa nói chuyện đúng sai, nhưng đó là quan điểm và quyền của tôi. Không đồng ý thì thôi, sao phải thóa mạ? Nhiều bác lề trái đôi khi nói thái quá, tôi đọc đấy, biết đấy và im lặng. Đó là thái độ tôn trọng người khác.
Nhân tiện:

1. Tôi tin bác Trọng là người liêm khiết. Làm quan thời bây giờ như thế là tốt lắm rồi. Còn có cái này cái nọ thì lại chuyện khác.

2. Tôi tin lãnh đạo ta không bán nước cho Tàu.

3. Bất chấp tham nhũng và sự bất tài của một số lãnh đạo, tôi tin đất nước ta sẽ phát triển về kinh tế, và dần dần sẽ đổi mới hơn nữa và tiến bộ hơn về chính trị. Hình ảnh “chìm tàu” tôi nhắc đến chỉ là một kiểu phúng dụ, nói quá, của văn chương. Mà ta đã tiến bộ và đổi mới lắm rồi đấy.

4. Tôi tin con người Việt Nam ta về cơ bản vẫn tốt chứ không hoàn toàn u ám như nhiều bác mô tả.

5. Tôi không thích cộng sản, nhưng vẫn ghi nhận, thậm chí biết ơn những gì chế độ đã làm cho đất nước từ ngày đổi mới. Chúng ta từ một nước cực nghèo mà được thế này là quá tốt rồi. Tất nhiên vẫn muốn tốt hơn nữa. Tôi thấy bộ máy chính phủ vận hành được. Bác thủ tướng chỉ đạo quyết liệt. Bác Thăng năng nổ và dám nói, dám làm.

6. Tôi tin sớm muộn đất nước mình sẽ có dân chủ và tự do thực sự. Tạm thời chưa có được cái đích tốt đẹp ấy thì tạm hài lòng với những gì đã có, và chung sức cùng đồng bào đấu tranh (một cách xây dựng) để đạt được điều ấy. Tóm lại, về đại cục mà nói, tôi thấy tình hình không phải xấu đi mà đang tốt lên, trừ vụ nợ công và thâm hụt ngân sách mà tôi không rõ lắm.

Tôi nghĩ như thế đấy. Và chính niềm tin này đã tiếp sức cho tôi trong việc phản biện và thơ phú giúp lớp trẻ sống có ích, có ý nghĩa cho mình và cho đất nước.

Tôi yêu Việt Nam. Tôi cũng yêu cả các bác. Không yêu, đã chẳng thèm nói, chẳng thèm dạy học và chẳng thèm viết.

Hơi thật thà quá. Xin lỗi.

T.B.T.

Nguồn:https://www.facebook.com/tao.vovan.1/posts/1385249864824559.

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Tám 27, 2016

20160827. BÀN VỀ DẠY VÀ HỌC CHÍNH TRỊ

ĐIỂM BÁO MẠNG

 ĐỀ PHÒNG CÀNG HỌC CÀNG XA RỜI THỰC TẾ

NGUYỄN ĐÌNH CỐNG/ BVN 27-8-2016

Kết quả hình ảnh cho chủ nghĩa mac lenin

Ngày 25 tháng 8 Bộ Chính trị và Ban Bí thư TƯ ĐCS VN tổ chức học tập 2 chuyên đề : Nguồn lực và động lực phát triển đất nước 2016-2030, và Cuộc cách mạng lần thứ tư.

Phát biểu kết thúc Hội nghị, Tổng Bí thư hoan nghênh các cơ quan có liên quan và các tác giả đã chuẩn bị công phu, có chất lượng nội dung các báo cáo, cung cấp được nhiều thông tin mới mẻ, bổ ích, thiết thực; đồng thời cũng gợi mở thêm một số vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu sâu để hoàn thiện và nâng cao hơn nữa chất lượng của các báo cáo. Tổng Bí thư cũng yêu cầu Hội đồng Lý luận Trung ương phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có liên quan tích cực chuẩn bị nội dung các chuyên đề tiếp theo để báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Tôi đã cố tìm nội dung cụ thể của các chuyên đề và tên của báo cáo viên nhưng chưa tìm thấy. Tổ chức học chuyên đề cho Bộ Chính trị là việc tương đối mới lạ. Sẽ là rất tốt khi nội dung báo cáo tháo gỡ cho học viên những nhận thức sai lầm, kích thích được, gợi mở được năng lực sáng tạo của họ, khi báo cáo viên không những là nhà khoa học chân chính, trung thực mà còn biết đặt chân lý và quyền lợi dân tộc lên trên ý thức hệ và quyền lợi riêng của đảng. Ngược lại, nếu nội dung thuyết trình cũng như báo cáo viên chỉ nhằm minh họa Chủ nghĩa Mác Lênin (CNML), nhằm ca ngợi sự sáng suốt của Đảng, đi theo quan hệ 4 tốt và 16 chữ vàng thì không khéo càng học càng xa rời thực tế, càng bóp méo sự thật, càng hiểu sai chân lý, càng phản lại dân tộc.

Chương trình giảng dạy về CNML, về Lịch sử ĐCSVN ở các trường đại học chiếm khá nhiều thời gian nhưng hiệu quả mang lại rất thấp. Đa số thầy dạy chỉ trình bày theo sách vở một cách thiếu tự tin, sinh viên bị bắt buộc học chỉ để thi, phần nhiều thi xong là quên, nếu có nhớ thì khi đối chiếu với thực tế lại thấy ngược lại, càng mất lòng tin. Trước tình hình đó đáng lẽ cần đổi mới nội dung môn triết học thì xu hướng của tuyên huấn là tăng thêm giờ học. Thực tế càng tăng giờ sinh viên càng chán học. Ngay như môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, nếu chỉ dạy trong 10 đến 12 giờ là vừa phải, chương trình quy định 60 giờ, tưởng là đề cao môn học, không ngờ tác dụng ngược lại, vi nội dung không hấp dẫn mà càng cố kéo dài lê thê thì người học càng chán. Không biết đã bao giờ lãnh đạo Đảng đặt câu hỏi: Tại sao học và vận động làm theo Hồ Chí Minh rất nhiều mà càng học thì đạo đức xã hội càng xuống cấp trầm trọng.

Xin kể câu chuyện. Tôi về quê, nghe hai người cháu, cán bộ ở các phòng của huyện, khoe là được cho đi học lớp lý luận do tỉnh mở để bồi dưỡng cán bộ cơ sở. Tôi nói, các cháu mà đi học các lớp ấy thì không khéo càng học càng xa rời thực tế (tôi định nói càng học càng ngu, nhưng nể 2 anh cháu mà nói chệch đi). Các cháu chất vấn: Tại sao cậu lại nói thế. Tôi trả lời là chính tôi đã dự thính vài lớp như vậy và biết một số điều được dạy là sai đến mức nguy hiểm. Nguyên là khi tôi về dạy các lớp tại chức ở Trung tâm giáo dục thường xuyên, tôi thường gặp các lớp bồi dưỡng như vậy. Những buổi không lên lớp tôi tranh thủ đến dự thính, nghe xem người ta giảng dạy cái gì. Phần lớn là về nội dung cơ bản của CNML. Bản chất nội dung đó có nhiều điều sai, mà thỉnh thoảng thầy còn giảng sai thêm nữa. Ở đây không phải sai sai thành đúng, mà sai sai thành sai nhiều hơn. Trong giờ nghỉ tôi trao đổi với vài học viên, họ cho rằng thầy giảng thế thì biết thế chứ không thể đánh giá được mức độ đúng sai ở chỗ nào. Các thầy đều có bằng Tiến sĩ về KHXH. Học viên cán bộ cấp huyện làm sao đủ trình độ để đánh giá sự đúng sai bài giảng của một thầy có bằng Tiến sĩ, chuyên dạy lý luận và làm công tác tuyên huấn.

Lớp học của Bộ Chính trị và Ban Bí thư không thể phạm các điều sai như ở các lớp bồi dưỡng, nhưng nếu vẫn tôn thờ CNML thì lại có thể phạm cái sai khác lớn hơn, phạm vào những ngụy biện tinh vi mà trình độ của các học viên chưa chắc đã có đủ để phát hiện.

Sau lớp học có đánh giá và đề nghị của Tổng Bí thư. Đó là ý kiến cá nhân, mức độ đáng tin cậy phụ thuộc nhiều vào trình độ và quan điểm người đánh giá.

Để cho những buổi học tập như thế đạt hiệu quả cao, tránh được việc nói và nghe một chiều, làm cho chân lý bị hiểu sai, tôi xin đề nghị mấy điểm sau :

1- Công khai tên báo cáo viên và nội dung thuyết trình để ai muốn phản biện có thể đóng góp ý kiến.

2- Các buổi học tập như thế nên mở rộng một chút, mời thêm vài ba trí thức tham dự, những người này phải có trình độ cao, trung thực, dám phản biện, có thể đại diện cho tiếng nói của trí thức, họ sẽ phản biện vào cuối buổi học trước mặt học viên, để cho học viên không bị nhồi sọ một chiều .

3- Nên mở một số cuộc đối thoại giữa những nhà lý luận của Đảng và đại diện của trí thức, của doanh nhân theo đề nghị của GS Chu Hảo, của ông Nguyễn Trung (tôi cũng đã từng có đề nghị đối thoại như vậy). Khi thấy chưa tiện đối thoại thì có thể mở vài cuộc họp cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các Ủy viên trung ương, mời một số trí thức bất đồng chính kiến đến trình bày quan điểm của họ về CNML, về đường lối xây dựng đảng và đất nước. Sau khi nghe các vị đó thuyết trình các trí thức của Đảng tha hồ phản biện. Tôi xin ứng cử làm một trong những thuyết trình viên như vậy.

Kết luận. Học và làm chỉ tốt khi đúng hướng. Nếu chọn sai hướng (nhưng vì vô minh, vì bảo thủ, vì không chịu nghe người khác mà cứ cho là đúng, nhất định không chịu thay đổi) thì càng tích cực bao nhiêu càng xa rời mục đích tốt đẹp là tự do và hạnh phúc của nhân dân. Thực tế gần một thế kỷ qua chứng tỏ theo CNML là đi sai đường. Nhiều dân tộc thấy sai, đã quay lại. Bộ phận tinh hoa của dân tộc Việt và đa số nhân dân cũng đã thấy sai. Chỉ còn một số nào đó trong ĐCS và trong nhân dân là chưa thấy. Muốn biết sai đúng đến đâu thì không phải đóng cửa để học theo lối ngụy biện mà mở cửa cho sự tự do tư tưởng, tự do đối thoại. Có như thế việc học mới mang lại kết quả tốt đẹp.

N.Đ.C.

Tác giả gửi BVN

71 NĂM ‘CÁC MẠNG MÙA THU’- LẠM BÀN VỀ CÁCH  MẠNG VÀ CHÍNH TRỊ

NGUYỄN QUANG DUY/ BVN 27-8-2016

71 năm “cách mạng mùa thu” – lạm bàn về cách mạng và chính trị

Đa đảng thì loạn? Giả sử có 2 đảng như Đảng Cộng sản thì chuyện gì xảy ra?

Trước tháng 8-1945, Việt Nam đã có đa đảng cách mạng, nhưng sau đó ít lâu các lãnh tụ và thành phần ưu tú đảng khác đều bị cộng sản giết hoặc thủ tiêu, tiềm lực đảng khác đều bị tiêu diệt.

Ở Trung Hoa, Quốc dân đảng đã liên minh với Đảng Cộng sản nhưng rồi lại chiến tranh tiêu diệt lẫn nhau. Thua trận Quốc dân đảng phải rút sang Đài Loan.

Trong một thời gian dài Quốc dân đảng độc quyền cai trị Đài Loan, họ mới trả lại quyền tự quyết cho người dân trong mấy năm gần đây.

Đảng cách mạng

Nói đến đảng là nói đến tổ chức. Các đảng cách mạng tổ chức theo hàng dọc từ trên xuống dưới. Hình tượng lãnh tụ được dựng lên làm thước đo cho cả tổ chức.

Đoàn kết thống nhất chỉ thực hiện với những ai chấp nhận tham dự vào guồng máy của đảng, nếu không họ sẽ bị loại trừ hay bị tiêu diệt.

Mọi thành viên phải tuyệt đối trung thành với đảng, thường xuyên học tập các tài liệu và thi hành các chỉ thị từ trên đưa xuống. Các thành viên cấp thấp thường không có cơ hội để đề đạt ý kiến cá nhân.

Sức mạnh của đảng dựa trên kỷ luật sắt, sự trung thành và khả năng thực hiện các chỉ thị của tầng lớp lãnh đạo.

Các đảng cách mạng nghiêng về việc vũ trang cướp và nắm chính quyền. Khi các đảng cách mạng nắm được chính quyền họ dễ trở thành độc tài đảng trị.

Nếu các đảng cách mạng không chấp nhận chuyển biến thành các đảng chính trị thì các điểm yếu sẽ bộc lộ để rồi bị đào thải.

Đảng chính trị

Còn các đảng chính trị thì liên tục thay đổi người lãnh đạo. Các thành viên gắn bó với nhau dựa trên lý tưởng, đường lối, chính sách, quyền lợi… khi có mâu thuẫn họ giải quyết bằng cách thương lượng hay theo quyết định đa số.

Các thành viên thường không bị đòi hỏi phải tuyệt đối trung thành với đảng, với lãnh đạo. Ở Úc cựu Thủ tướng Tự Do Malcolm Fraser chính thức bỏ đảng Tự Do. Nhiều đảng viên chuyển từ một đảng sang đảng khác vẫn được đảng mới trọng dụng.

Đoàn kết thống nhất theo hàng ngang bằng cách thuyết phục và thương lượng với nhau nhằm đưa ra nhóm lãnh đạo và đường lối thích ứng với từng thời kỳ.

Các phe cánh trong đảng luôn công khai tranh luận về đường lối và chính sách của mỗi đảng.

Ở Úc 2 đảng chính trị Tự Do và Quốc Gia tạo nên một liên minh bền vững; họ thường xuyên điều chỉnh chính sách và quyền lợi tránh những mâu thuẫn gây rạn nứt giữa hai đảng.

Trong khi các đảng cách mạng lo định hướng dư luận thì các đảng chính trị liên tục tìm hiểu nguyện vọng quần chúng, nguyện vọng thành viên để đề ra những chính sách thích hợp nhất nhằm cạnh tranh với nhau.

Ở Hoa Kỳ hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ thật ra bao gồm hàng ngàn tổ chức chính trị nhỏ. Bằng cách công khai tranh luận chính sách, các ứng cử viên lôi kéo các nhóm nhỏ này nhập vào đảng chính trị, xây dựng sức mạnh chiến thắng đối phương.

Mục tiêu cao nhất của các đảng chính trị là được cầm quyền bằng lá phiếu của người dân để thực thi những chính sách do đảng đề ra.

Bởi thế các thành viên đảng chính trị phải luôn luôn đổi mới bản thân bằng cách học hỏi và thay đổi liên tục. Sự thay đổi tạo nên sức mạnh đảng chính trị và dẫn đến sự không ngừng phát triển của đất nước.

Cách mạng không đổ máu

Nếu định nghĩa cách mạng là thay đổi toàn diện thì đảng chính trị cũng giữ vai trò cách mạng.

Tại Miến Điện đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD) Myanmar là một đảng chính trị do bà Aung San Suu Kyi lãnh đạo. Đảng này đã giành khoảng 75% trong tổng số ghế Quốc hội, làm nên cuộc cách mạng thay đổi toàn diện nền chính trị Miến Điện.

Trở lại Việt Nam, phương cách vũ trang bạo động đã bị đào thải từ những năm cuối 1980. Ngày nay không mấy người còn tin vào phương cách này.

Nhưng các đảng chống lại cộng sản xét cho cùng vẫn mang nặng bản chất cách mạng, thiếu thực lực, không làm được những việc cụ thể và chưa thay đổi chính bản thân để có thể tham dự vào các sinh hoạt chính trị dân chủ trong tương lai.

Một tổ chức chưa dân chủ nội bộ, chưa dân chủ trong môi trường hải ngoại thì thật khó tin họ sẽ mang lại dân chủ cho Việt Nam.

Tổ chức dân sự

Trong vòng 10 năm nay cách mạng Việt Nam chuyển hướng lấy đấu tranh bất bạo động làm phương tiện đấu tranh. Muốn có chiến thuật có chiến lược thì cần có tổ chức mạnh nhưng chúng ta lại chưa có, nên sinh hoạt hầu như âm thầm, tự phát, vô tổ chức.

Năm 2016 khi Khối 8406 thành lập liền bị đàn áp, trên 50 thành viên Khối bị bắt, nhưng ngày nay đã có khá nhiều tổ chức dân sự độc lập công khai hoạt động.

Khá tương tự với Miến Điện, tại Việt Nam đã hình thành một xã hội dân sự sơ khai với thật nhiều tổ chức dân sự hoạt động công khai.

Các tổ chức này hoạt động vô vụ lợi với nhiều mục đích khác nhau bao gồm tổ chức tôn giáo, công đoàn, hướng đạo, đồng hương, từ thiện, môi trường, nghiên cứu, các câu lạc bộ, du ca, các nhóm thân hữu…

Các tổ chức xã hội dân sự này đang tập trung sức mạnh thành viên và đào tạo thành phần lãnh đạo tạo nền tảng cách mạng Việt Nam.

Các tổ chức dân sự sẽ trở thành một phần của hệ thống chính trị tương lai. Họ sẽ vận động các đảng chính trị, vận động chính trị gia thúc đẩy chính phủ đề ra những chính sách mang lại lợi ích thiết thực cho xã hội, cũng như cho quyền lợi của các thành viên trong tổ chức dân sự.

Ngược lại các đảng chính trị cũng sẽ vận động các tổ chức dân sự hỗ trợ họ cầm quyền thực thi các chính sách đảng chính trị đó đề ra.

Ai lãnh đạo công nhân?

Công đoàn là một tổ chức có tiềm năng mạnh nhất. Mỗi năm xẩy ra hằng ngàn cuộc đình công nhưng không có cuộc đình công nào do Liên đoàn Lao động một tổ chức ngoại vi của Đảng Cộng sản đứng ra tổ chức.

Sáng ngày 23-8-2016 trả lời Bí thư Đinh La Thăng, Chủ tịch Liên đoàn Lao động TP. HCM ông Trần Kim Yến cho biết đã có những cuộc đình công kéo dài đến bảy ngày nhưng cuối cùng không tìm ra được ai là người phát động, đại diện cho nhóm đình công.

Điều đáng để ý là ông Đinh La Thăng yêu cầu Liên đoàn Lao động nếu chưa tổ chức đình công thành công thì cứ mạnh dạn đứng ra tổ chức cho thành công. Ông cũng cho rằng chưa thành công là do tổ chức công đoàn (quốc doanh) chưa mạnh dạn làm việc đó.

Rõ ràng đã có một sự cạnh tranh vai trò đại diện cho công nhân. Những người phát động đình công chính là những người đang âm thầm xây dựng và lãnh đạo các công đoàn tự do.

Bạo động và bạo loạn

Diễn biến hòa bình là một quá trình đòi hỏi Đảng Cộng sản phải tự thay đổi, phải tự cách mạng. Như đã giải thích bên trên Đảng Cộng sản vẫn muốn giữ bản chất của một đảng cách mạng nên việc thay đổi chính trị gần như không có.

Không thay đổi chính trị thì luật pháp vẫn đặt dưới đảng quyền. Thiếu tướng công an Phan Anh Minh tiết lộ nếu không có sự đồng ý của đảng, chỉ thị 15 không cho phép công an tiến hành điều tra các đảng viên. Đảng trở thành lá chắn, ổ chứa tội phạm.

Vụ nổ súng ở Yên Bái giết chết 3 cán bộ lãnh đạo địa phương cho thấy tình trạng bất ổn trong đảng đã đến lúc bộc lộ. Các phe cánh trong đảng không thể thu xếp chuyện nội bộ, hành vi bạo lực là phương cách để giải quyết vấn đề.

Điều đáng quan tâm là trước ba người chết, người dân vì đã quá ngao ngán nhưng không làm được gì, nên đón nhận tin tầng lớp lãnh đạo cộng sản giết nhau như một tin mừng. Vô hình trung nó khuyến khích giải quyết các mâu thuẫn bằng phương cách bạo lực.

Đời sống người dân mỗi ngày một cơ cực hơn: đồng bằng sông Cửu Long bị nhiễm mặn, cao nguyên Trung phần bị hạn hán, môi trường biển miền Trung bị hủy hoại, môi trường các nơi khác cũng bị ô nhiễm, người thất nghiệp ngày càng đông, dân oan mất đất ngày càng nhiều…

Không giải quyết được các vấn nạn nói trên, nhà cầm quyền tiếp tục sử dụng bạo lực cách mạng trấn áp các cuộc biểu tình bất bạo động. Tức nước vỡ bờ [trong tương lai có thể] ngày càng xuất hiện nhiều cuộc biểu tình bạo động mang khuynh hướng bạo loạn.

Càng bạo loạn thì việc ổn định lại đất nước càng khó khăn hơn. Những người cầm quyền bằng bạo lực vốn đã độc tài càng dễ tăng thêm độc tài, tiếp tục sử dụng bạo lực để cai trị thay vì xây dựng một nhà nước hiến định và pháp trị. Các giải pháp chính trị sẽ tốt hơn cho Việt Nam.

71 năm (1945-2016) “cách mạng mùa thu” đất nước trong cảnh tang thương, thiết nghĩ đã đủ chứng minh con đường cách mạng bằng bạo lực là con đường đưa dân tộc đến chỗ diệt vong.

Các đảng cách mạng cần tự cách mạng bản thân để trở thành các đảng chính trị cạnh tranh nhau xây dựng lại Việt Nam.

N.Q.D.

Melbourne, Úc Đại Lợi

26/08/2016

Tác giả gửi BVN. Bài viết được đăng với tinh thần bàn bạc, trao đổi trong một diễn đàn chung, trong đó quan điểm và phong cách ngôn từ là thuộc về từng người viết.

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Tám 26, 2016

20160826.BÀN VỀ SỰ BIẾT ƠN

ĐIỂM BÁO MẠNG

NGƯỜI DÂN PHẢI ƠN ĐẢNG HAY ĐẢNG PHẢI ƠN NGƯỜI DÂN ? !

NGUYỄN THỊ HẬU/ TBKTSG/ BVB 25-8-2016

Kết quả hình ảnh cho nhờ ơn đảng

Trên các phương tiện truyền thông của nhà nước thường nhận thấy một hiện tượng là, bất cứ khi nói về một công trình dân sinh nào được xây dựng, một việc làm phục vụ tốt cho dân, thì luôn có ngưới dân phát biểu ý kiến mở đầu bằng câu “nhờ ơn Đảng ơn chính quyền…”, và chính tác giả bài báo, phóng sự cũng viết “nhờ sự quan tâm sâu sát của cấp ủy, sự nhiệt tình giải quyết của lãnh đạo địa phương…”. Đặc biệt đối với những vùng sâu vùng xa, nơi nghèo khó thì điều này lại càng được nhấn mạnh!

              Nghe riết thành quen mà vẫn không sao thoát khỏi cảm giác gờn gợn: tại sao và từ khi nào mà nhiệm vụ chức năng của chính quyền là phục vụ người dân lại trở thành “ơn trên mưa móc” như vậy?

Từ đường lối phát triển vĩ mô đến việc vi mô là giải quyết các vấn đề dân sinh, an sinh đều là trách nhiệm của nhà nước. Không chỉ đề ra đường hướng và tập hợp các nguồn lực từ nhà nước, tư nhân hay cộng đồng mà phần nhiều hạ tầng cơ sở và công trình công cộng đều do nhà nước phải đảm trách, vì tính chất phục vụ quốc gia hoặc liên vùng của những công trình này. Những nơi nghèo đói là nơi nhà nước càng cần phải làm mọi việc cụ thể sao cho dân bớt nghèo bớt khổ. Một con đường, một cây cầu, một trạm xá một trường học… là những cơ sở tối thiểu mà chính quyền phải cung cấp cho người dân. Ấy vậy mà có khi các nhóm thiện nguyện hay người dân đóng góp tiền bạc công sức làm đường xây trường vẫn phải xin phép chính quyền, và ngày khánh thành không thể không có mặt các vị lãnh đạo và vài lời “kể công” về sự “quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ”!

>>  Đảng phải biết ơn dân    

Cũng vậy, việc đền ơn đáp nghĩa là đạo lý ngàn đời của dân ta. Nhưng “của cho không bằng cách cho”, một ngôi nhà đơn sơ mà gắn tấm bảng “nhà tình nghĩa, nhà tình thương” nghe như lời nhắc nhở phải “nhớ ơn”, hơn thế, còn là một gánh nặng hơn nhiều lần! Bởi vì, cũng là đạo lý của dân ta “của biếu là của lo, của cho là của nợ”!

Khi người dân nói lên sự cảm kích của mình thì nhà nước mà người đại diện là chính quyền cũng không thể mặc nhiên chấp nhận “lòng biết ơn” đó. Ngược lại, cần phải nhận lỗi vì đã để tình trạng tồi tệ xảy ra, hoặc vì không giải quyết kịp thời, hoặc đã không lường trước được những hậu quả xấu thì trách nhiệm đầu tiên vẫn là của chính quyền. Cho nên kịp thời sửa sai là trách nhiệm và đạo đức của chính quyền, nhân dân có quyền đòi hỏi điều đó. Bởi vì nhà nước sinh ra để làm gì nếu như không mang lại cuộc sống yên ổn và đầy đủ cho nhân dân?!

Ngược lại với sự “kể công” phổ biến thì việc các “công bộc” thời nay cần phải biết ơn người dân hầu như lại là một khái niệm xa lạ!

Thời chiến tranh, giữa cái sống cái chết cách nhau gang tấc, có khi sinh mạng một người cộng sản phải đổi bằng sinh mạng hàng chục người dân, lúc đó người ta biết ơn những người cứu mạng cho mình. Nay, có được chức này tước kia ít người nghĩ rằng mình đang mang gánh nặng là phải trả ơn sự hy sinh của nhân dân, mà chỉ coi địa vị là quyền lợi của mình và gia đình, hơn nữa, còn cho đó là đặc quyền đặc lợi.

Có quyền trong tay nên gây thất thoát hàng chục ngàn tỷ đồng, tham nhũng hàng ngàn tỷ, tham ô cỡ hàng trăm triệu có lẽ tính không hết! Mức độ lãng phí đi cùng với tham nhũng ngày càng trầm trọng, không cần che dấu lén lút mà công khai: những công trình, công ty ngàn tỷ mà khi quyết định xây dựng hay phế bỏ các vị “công bộc” coi như “tiền chùa”. Hầu hết đó là những doanh nghiệp nhà nước, công sở, tượng đài, cầu đường… vừa xây xong chỉ thời gian ngắn thì hư hỏng hoặc sử dụng không hiệu quả. Lãng phí, tham nhũng và vô trách nhiệm phải coi là một trọng tội, bởi vì nó tàn phá đất nước, tiêu diệt lòng tin của con người và sự tử tế trong xã hội.

Những người biết suy nghĩ đều nhớ lời dạy của tiền nhân “Làm ơn thì đừng nên nhắc, chịu ơn thì chớ nên quên”. Nhưng có lẽ đối với các vị “công bộc” đang phung phí tài sản thiên nhiên và nhân tạo của quốc gia, tiêu xài vô tội vạ từng đồng tiền thuế đổi bằng mồ hôi nước mắt của người dân, tham nhũng tích lũy của cải cho bản thân, gia đình và phe cánh, cần thiết phải đóng một tấm bảng đồng lên mỗi ngôi nhà và dựng bia đá tại các công trình mà họ đang ngự trị “Đây là nhà ở, công trình có được từ máu của nhân dân.”

Hàng ngày nhìn thấy lời nhắc nhở như vậy may ra “công bộc” mới thấy hết những món nợ rất lớn của họ đối với nhân dân.

Nguyễn Thị Hậu/(TBKTSG)

 

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Tám 25, 2016

20160825. NHỮNG CÁNH SEN YÊN BÁI

ĐIỂM BÁO MẠNG

NHỮNG  CÁNH SEN YÊN BÁI

TRONG TRAN/ CC/ BVB 24-8-2016

63 ô tô lớn nhỏ là cái nhiều người đếm được khi xem một clip đang lưu hành trên mạng quay lại đám tang của ông Đỗ Cường Minh, người được cho là nghi can đã giết chết Bí thư tỉnh ủy cùng với Chủ tịch HĐND tỉnh, kiêm Trưởng ban Tổ chức Tình Ủy tỉnh Yên Bái.

5 chiếc xe đi đầu có màu đen và giống với cung cách của xã hội đen trong các phim Hongkong. Trên mui mỗi chiếc là 1 hoa sen khổng lồ màu vàng cho thấy đám tang này được tổ chức khá tốt, có điều không hiểu cái biểu tượng hoa sen này có phải do vợ của ông Minh, hay người nhà bên vợ ông Minh nghĩ ra hay không.

Hoa sen đối với nhà Phật tượng trưng cho tám điều ý nghĩa liên quan mật thiết đến của con người, tám điều ấy là: Không nhiễm, tức là miễn nhiễm với cái hôi tanh nơi chúng mọc, Trừng thanh: chỗ nào có sen mọc thì nước không bao giờ đục. Kiên nhẫn. Viên dung: tượng trưng cho tính viên giác của chúng sinh, Thanh lương: sen nở vào mùa Hè tượng trưng cho lửa tam giới nhưng sen vẫn vượt qua cái nóng của tham sân si, Hành trực: thân sen mọc lên luôn ngay thẳng, Ngẩu không: tuy thân sen ngay thẳng nhưng trong ruột lại trống không tượng trưng cho cái hồn nhiên của Phật Di Lặc và Bồng thực: ý nói hoa sen là loại thực vật khác thường khi hoa và quả cùng xuất hiện một lần.

Gia đình ông Minh không phải là Phật tử để hiểu rõ ý nghĩa thâm sâu của sen đối với nhà Phật, thế nhưng khi cho 5 hoa sen khổng lồ mở đường đám tang thì hẳn nhiên gia đình ông nhắc lại hàm ý “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” mà dân gian luôn nhắc đến như một tấm gương soi chiếu lại giữa nhơ bẩn và sạnh sẽ.

Không lẽ ông Đỗ Cường Minh sạch sẽ như sen?

Chẳng ai đồng ý với ý tưởng này, ngay cả bà Phạm Thị Thanh Trà Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái, người “nói tốt” cho ông Minh tới giờ phút cuối cùng cũng không dám nói ông Minh sạch sẽ, theo ngữ nghĩa của sen.

Sau khi vụ án nổi tiếng này xảy ra, cái mà người dân mong được xem nhất không phải là đám ma của hai ông “nạn nhân” mà là đám ma của ông “hung thủ”. Gọi hung thủ là ông cũng không có gì quá đáng bởi ngay sau khi vụ xả súng xảy ra chính bà Phạm Thị Thanh Trà, đương kim Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái, Ủy viên Trung ương đảng, mở cuộc họp báo tại UBND tỉnh Yên Bái nói về diễn tiến vụ việc. Mặc dù xác định kẻ giết người là Đỗ Cường Minh nhưng bà Trà vẫn ưu ái gọi đó là một con người hiền lành, luôn chấp hành tốt các quyết định của Đảng.

Nguyên văn được báo chí trích dẫn: “Ông Đỗ Cường Minh là người hiền lành, luôn hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. Tôi suy nghĩ rằng do một diễn biến tâm lý không làm chủ được, có dấu hiệu cực đoan nên đã hành động như vậy. Còn về tư cách của ông Minh, là một cán bộ tốt”.

Cuối cùng bà cho rằng vụ này xảy ra là do “cơn bão lòng” của ông Minh đối với hai cán bộ lãnh đạo trực tiếp của mình.

“Cán bộ tốt” thì chắc chắn không thể đối xử như một “hung thủ” được, nhất là khi cán bộ ấy đã chết.

Tuy nhiên, nói thì như vậy nhưng trong lòng Đảng chắc đau lắm. Ba đảng viên ưu tú cùng một lúc “ra đi” hẳn là mất mát ấy rất to lớn và lúc này là lúc Đảng đang lo thù trong giặc ngoài hơn lúc nào hết. Thù trong là nội bộ đảng, không biết tiếp theo ai sẽ là “hung thủ” và ai là “nạn nhân”. Dù hung thủ hay nạn nhân thì cũng là đảng viên với nhau như anh em trong nhà giết nhau làm sao không lo được?

Còn giặc ngoài, không phải là nước ngoài nào đâu, mà chính là nhân dân. Đảng đã nhìn thấy sự hả hê của hơn 95% dân chúng thì không lẽ lại chẳng lo họ sẵn sàng trở thành giặc hay sao? Mà nói họ là “giặc ngoài” thì cũng chẳng có gì sai, bởi họ chưa bao giờ đồng tình hay đồng hành cùng với đảng cả. Họ đơn độc sống, đơn dộc chịu đựng những gì mà đảng gây ra cho họ trong hơn 70 năm qua vậy thì họ có “bên trong” như đảng nhận vơ bao nhiêu năm nay không?

Người dân chờ xem đám tang của ba cán bộ như chờ xem phim hay. Họ háo hức và có người thậm chí chạy mãi tận thành phố Yên Bái để xem cho biết sự tình.

Trớ trêu nhất là hai cái đám tang cùng lúc giữa hai gia đình, một của nạn nhân, hai là “đối tượng”. Ngôi nhà Đỗ Cường Minh ở đường Đinh Tiên Hoàng, phường Đồng Tâm, thành phố Yên Bái, chỉ cách nhà ông Phạm Duy Cường, Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái, hơn 100 mét, tức là không quá 12 căn nhà! Đúng là con tạo trớ trêu!

Con đường Đinh Tiên Hoàng của thành phố Yên Bái chắc sẽ vào sử sách bởi nó đã nổi tiếng từ nhiều năm nay khi cán bộ cao cấp nhất của tỉnh tập trung mua nhà trên con đường này đến nỗi nó có thêm hỗn danh là “phố quan”, quan đầy phố, quan làm cho phố lên giá hẳn.

Theo một phóng viên của Trí thức trẻ kể lại “bà Nguyễn Thị Lài, 54 tuổi, hàng xóm của Bí thư tỉnh ủy, và cũng ở đối diện nhà nghi phạm Đỗ Cường Minh tỏ ra vô cùng bất ngờ và hoang mang trước sự việc. Bà Lài kể với phóng viên Trí thức trẻ: “Ở đây chúng tôi gọi là phố quan, sự việc xảy ra là phố quan chúng tôi mất đi 2 người ưu tú. Vì những năm gần đây có nhiều người thăng chức nên khu phố này được đánh giá rất cao. Hằng ngày ông ấy, nghi phạm Đỗ Cường Minh, hiền lành lắm, không hiểu vì lý do gì mà lại hành động như thế”

Cái phố quan ấy nay cùng lúc có hai chiếc quan tài và hai đám tang lạ lùng chưa từng thấy. Một bên là hai ba bộ trưởng về kính viếng, một bên là dân chúng cùng bạn bè kiểm lâm không loại trừ anh hùng lâm tặc từng chịu ơn của ông Minh.

63 chiếc xe con nối đuôi nhau trừ đi chiếc xe chở quan tài và một chiếc buýt chở gia quyến, 61 chiếc còn lại là của người dân ư?

Nói gì thì nói khó mà tin được đó là xe của nhân dân. Người dân tỉnh Yên Bái nổi tiếng là nghèo gần như nhất nước, ai có xe con cũng đều là cán bộ hay ít ra cũng bà con xa gần với cán bộ mượn thế để làm ăn. Yên Bái nổi tiếng hai lĩnh vực phá rừng và buôn bán ma túy. Hai lĩnh vực ấy đã làm nên Yên Bái và đám tang của ông Minh cũng là lúc để những khuôn mặt cộm cán trong bóng tối trả ơn cho gia đình ông qua việc công khai tham gia đám tang được xem là rất nhạy cảm đối với chính quyền này.

Bởi ông là Chi cục trưởng chi cục kiểm lâm của tỉnh, một cái ghế mà hàng trăm nhân vật có tiền của Yên Bái muốn mua.

Chẳng lẽ đúng như lời bà Trà hớ hênh “giải mã” trong buổi họp báo: Án mạng này không liên quan tới việc tổ chức nhân sự, khi gần đây có chủ trương sát nhập kiềm lâm vào cơ quan Nông nghiệp….

Những lời tự thuật của bà Trà cho dư luận xã hội thấy rõ hơn sự trả thù của ông Minh khi Trưởng ban tổ chức tỉnh ủy thông đồng với Bí thư Tỉnh ủy đối xử với ông ta.

Sen trong đám tang ông Minh thật ra còn có một ý nghĩa khác, nó nói lên thông điệp của gia đình ông rằng mặc dù đảng chỉ lo thu vén cá nhân và tận thu trên những chiếc ghế béo bở nhưng trong đảng vẫn còn rất nhiều hoa sen đang vươn lên trong đám bùn nhơ ấy và quan trọng hơn, chúng chờ đợi đến phiên mình.

/Nguồn: canhco’s blog

https://vietcongonline.com/2016/08/22/nhung-canh-sen-yen-bai/

Posted in Cánh CòĐZ-Liên kết/ From:  Trong Tran <vtrong@gmail.com>/

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Tám 24, 2016

20160824. BÌNH LUẬN VỀ CÔNG BỐ HIỆN TRẠNG BIỂN MIỀN TRUNG

ĐIỂM BÁO MẠNG

NGỤY BIỆN VỀ THÉP VÀ CÁ

NGUYỄN ĐÌNH CỐNG/ BVN 24-8-2016

clip_image001

Trước đây Chu Xuân Phàm láo xược đưa ra lời thách thức “Dân miền Trung chọn sắt thép hay tôm cá”. Câu đó đã bị lên án mạnh mẽ vì sự xấc láo. Ngoài ra nó còn ngụy biện trắng trợn. Thế mà ngày 22 tháng 8 nhiều báo chí đưa tin về lời tuyên bố của ông Bộ trưởng Trần Hồng Hà: “Miền Trung sẽ có cả thép, cả cá và biển an toàn”(1).

Ngụy biện của Chu Xuân Phàm được Trần Hồng Hà nhắc lại (không biết vì vô tình hay cố ý) nằm ở chỗ đánh tráo khái niệm. Đó là chủ ngữ của hành động chọn trong câu của ông Phàm và chủ ngữ của vị ngữ trong câu của Bộ trưởng.

Tôm, cá, biển là đúng của Việt Nam, nhưng theo luật pháp thì đó là của toàn dân do những người trong chính quyền quyết định, muốn cho ai thì cho, muốn làm gì thì làm, chứ người dân Miền Trung có được phép làm chủ đâu. Nhưng thôi, cứ công nhận tôm cá đánh bắt được là thuộc quyền sở hữu của ngư dân sau khi đóng thuế.

Tập đoàn Formosa thuê đất trong 70 năm để sản xuất thép. Tổng giá tiền thuê khoảng 90 tỷ đồng. Số tiền ấy đúng là Miền Trung được hưởng, tuy chưa biết số tiền ấy là nhiều hay ít, mang lại lợi hay hại, ai được hưởng bao nhiêu… Còn thép sản xuất ra là của ai, có phải của nhân dân không. Nhân dân Miền Trung có quyền gì trong việc sử dụng thép ấy. Không có quyền gì cả. Toàn bộ thép là của Formosa. Thế thì tại sao lại đánh tráo khái niệm là dân chọn thép hay cá. Dân chẳng có quyền gì trong việc chọn hay không chọn thép.

Câu: Miền Trung có cả thép và cá… là một ngụy biện dưới 2 dạng. Dạng 1- Khi cho rằng vị ngữ CÓ là bao gồm cả quyền sở hữu thì Miền Trung không có quyền đó. Thép là tài sản của Formosa, Miền Trung, dù là dân hay quan cũng không có quyền gì. Dạng 2- Khi cho rằng vị ngữ CÓ là để chỉ trạng thái, rằng trên mảnh đất Miền Trung có tồn tại sản phẩm thép, không cần biết của ai. Lúc này là cách dùng chữ lập lờ để đánh lừa sự nhận thức. Như vậy là trên đất Miền Trung có thép nhưng cả quan và dân Miền Trung chỉ có quyền nhìn thấy nó mà không có quyền dùng nó. Thế là có mà không có . Ngụy biện đến thế là cùng.

Trước đây nghe câu của Chu Xuân Phàm, một số người chỉ mới vạch ra sự láo xược mà bỏ qua sự ngụy biện, tôi định viết vài lời nhưng rồi cho qua. Nay nghe tuyên bố của ông Bộ trưởng mà không giữ im lặng được. Chỉ còn điều băn khoăn, không biết ông Bộ trưởng có tự nhận biết được sự ngụy biện của mình hay không.

Vài lời thô thiển, nếu có chỗ nào chưa chính xác, mong nhận được sự chỉ giáo của các bậc cao minh, tốt nhất là nhận được lời phản biện của ông Bộ trưởng.

N.Đ.C.

Tác giả gửi BVN

(1) Cũng tuyên bố này, xin xem thêm xã luận củaBauxite Việt Nam đúng trong ngày ông Trần Hồng Hà vừa phát biểu xong chưa ráo mép: “Phần còn thiếu trong bản báo cáo” (http://boxitvn.blogspot.com/2016/08/phan-con-thieu-trong-ban-bao-cao.html)

PHẦN CÒN THIẾU TRONG BÁO CÁO

BVN 24-8-2016

Bauxite Việt Nam

Ngày hôm nay, 22 tháng 8 năm 2016, các báo và trang mạng xã hội đều giật tít cực kỳ ấn tượng. Tít như thế này: Bộ trưởng Trần Hồng Hà: Miền trung sẽ có cả thép, cả cá và biển an toàn.

Lời khẳng định của ngài Bộ trưởng như để mắng lại – dầu chỉ là mắng vuốt đuôi sau gần 5 tháng – ông Trưởng đại diện Formosa Chu Xuân Phàm, người từng có lúc hách dịch thách thức cả cái nước Nam này “chọn cá hay chọn thép”. Bây giờ thì đã có người tử tế hẳn hoi xác định, “cả cá và cả thép”. Vâng, ông Bộ trưởng nói ngon lành lắmNgười dân Miền Trung sẽ có cả thép, cả cá và cả một môi trường biển sạch, đẹp, an toàn”.

Thôi thì, cũng có thể thông cảm với tình cảm mùi mẫn chắc là có phần chân thành của ông Trần Hồng Hà: “Tôi luôn nhận thức được việc công bố biển sạch là rất quan trọng và cần thiết đáp ứng mong mỏi của người dân được biết môi trường biển đã sạch chưa? Vùng biển nào sạch? Vùng biển nào chưa sạch? Nuôi trồng hải sản được chưa? Hải sản an toàn chưa? để đảm bảo hoạt động sản xuất, đánh bắt, sinh kế trở lại bình thường. Tại Hội nghị này, Bộ Tài nguyên và Môi trường theo chức năng và nhiệm vụ được giao sẽ công bố báo cáo về đánh giá chất lượng môi trường biển trong và sau sự cố. Tôi đề nghị các Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ngay sau hội nghị này tiến hành các bước theo quy định công bố đầy đủ thông tin đáp ứng nguyện vọng chính đáng nêu trên của người dân”(1).

Đó dù sao cũng là điểm tích cực. Bản báo cáo (không đăng toàn văn mà chỉ được các báo chế biến lại và loan tải) cũng cho biết đôi ba điều mà nếu đúng là sự thực (chất phenol và cyanure ngày càng loãng đi, san hô bớt chết trắng, v.v…) thì cũng tạm thở phào. Dĩ nhiên, nếu có công bố thêm về phương pháp nghiên cứu, những số liệu thu được thật đầy đủ, chính xác, và nhất là đừng có phô ra những điều mâu thuẫn lủng củng hơi khó hiểu như trong các bản báo cáo khảo nghiệm của những vị mang danh nhà khoa học này nọ ngay trong hội nghị khiến người ta chợt nhớ đến lời ông Thiệu – đừng có tin CS nói – thì sự thở phào càng thêm phào.

Duy có một điều còn thiếu – và thậm thiếu – tại hội nghị này khiến bạn đọc chưa thể thở phào được: ấy là thiếu hẳn những nghiên cứu xã hội học liên quan đến người dân. Tình hình người dân hiện thời ra sao? Những ngư dân (không kể những thành phần “ăn theo” ngư dân) đi biển gần bờ và xa bờ hiện sống trong tình trạng thiếu hay đủ, còn lo lắng hay đã tạm bớt lo, và họ tiên lượng cuộc đời sẽ thế nào? Cũng còn thiếu hẳn sự đánh giá trung thực về bản chất và hành vi của Formosa Hà Tĩnh, khi mà, sau vụ việc thải chất độc làm cá chết và biển chết, dân chúng Việt Nam còn phát hiện được ở rất nhiều nơi những bãi chôn lấp chất thải cố ý che giấu tai mắt người Việt cũng như các cấp chính quyền Việt Nam? Vậy những bãi chất thải đó độc hại đến đâu và sự độc hại của chúng có tác động ra sao đến toàn bộ cuộc sống của đất nước chúng ta? Những bãi chất thải chôn cất giấu giếm đó có làm thay đổi cách nhìn “hữu hảo” giữa các ông chủ hưởng lợi thực tế từ Formosa với chính cụm nhà máy đang ngự trị ở Vũng Áng hay không, thay đổi đến đâu, hay là các vị vẫn bằng chân như vại ngồi chờ những quả bom môi trường sẽ lại phát nổ tại vùng biển này không chỉ một lần tới mà có thể còn hai, ba lần? Vân vân… Nhiều nữa! Nhưng cuối cùng có vấn dề này mà các ngài hình như vẫn cố tình né tránh: thực chất tâm trạng của nhân dân Việt Nam từ mấp mé ải Nam Quan đến mũi Cà Mau là như thế nào đối với cái của nợ Formosa?

Ngài Bộ trưởng sao không hề nhắc gì đến những điều nói trên? Ngài quên đi là do tình thực, ngây thơ, hay do “phép đảng” bắt ngài phải ngậm miệng? Chỉ thấy ngài lại hồn nhiên “tái bản” cái việc mà các quan chức Hà Tĩnh và một vài tỉnh lân cận đã từng phải khổ công biểu diễn: ngài cùng các quan chức có mặt, ngay sau cuộc họp đã “đội mưa” ra tắm biển ở Quảng Trị, và tắm xong lại còn ghé vào nhà hàng ăn hải sản:

“Trưa 22/8, bất chấp trời miền Trung có mưa to, Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà cùng lãnh đạo tỉnh Quảng Trị đã xuống tắm ở bãi biển Cửa Việt (huyện Gio Linh, Quảng Trị). Sau đó, Đoàn công tác của Bộ trưởng đã thưởng thức hải sản ở bãi biển Cửa Việt.

“Đến thời điểm này, thấy biển đẹp không, tắm biển thích không? Các nhà khoa học nói biển miền Trung an toàn. Việc thực hiện nghiên cứu rất bài bản, có nhiều phản biện. Tại sao mình không tắm biển”, Bộ trưởng Trần Hồng Hà chia sẻ vớiVnExpress”(2).

Diễn như thế thì kể cũng oai thật, nhưng cũng là… nhảm thật. Chẳng lẽ nói như Nguyễn Công Hoan, chỉ có mỗi một tấn tuồng cũ mèm mà cứ phải thay đào kép và lặp đi lặp lại thế thôi sao? Bởi thế, tuy ở trên chúng tôi có nói, phát biểu của ngài Bộ trưởng có những điểm tích cực, song “có những điểm” không có nghĩa tất cả đều tích cực. Chẳng cần phải xuống biển nhúng nước và lên bờ nếm cá cho nó nhàm chán, “biết rồi, khổ lắm, làm mãi”(3) làm gì. Ngài hãy cứ bắt đám cận vệ của ngài – chắc là rất đông vì biên chế hiện đang cực kỳ quá tải – đi điều tra xã hội học một cách thực sự cầu thị mà xem. Chúng tôi dám chắc sau cuộc họp long trọng do ngài chủ trì, kể cả sau khi ngài đã tắm biển và ăn cá, dân chúng vẫn không thể nào gật đầu theo ngài được. Tất cả mọi người dân, xin nói chắc như thế, trừ những kẻ đã được “phục sẵn” và được giao những “vai” chuyên làm theo lệnh của các ngài thì không kể. Lòng tin đã mất đi làm sao lấy lại được một cách dễ dàng như thế, khi mà những kẻ đã làm mất nó không quyết tâm khôi phục bằng chính hành độngtìm đến dân và chọn dân làm thước đo cho mọi cuộc kiểm nghiệm – đó mới là sự trải lòng chân thành.

Lại nhớ đến vụ khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Khởi đầu, sau những tin tức không hay như chuyện gã họ Nông ngang nhiên ký vào hai văn bản do Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào dỗ dành, một vài nhà chính trị có tầm viễn kiến như Võ Nguyên Giáp… đã lên tiếng một cách tâm huyết với đảng của mình; còn trí thức trong nước và ngoài nước hàng mấy ngàn người cũng đã thẳng thắn và chân thành kịp thời góp ý với Quốc hội, với Chính phủ Việt Nam, phân tích đủ các mặt lợi hại để các vị biết mà dừng ngay lại… Vậy mà, sau hàng loạt kiến nghị liên tiếp trong quý II năm 2009, mỗi kiến nghị có đến hàng mấy ngàn người ký, tất cả các vị chức sắc chóp bu thuở ấy đều “đồng lòng” với nhau ở một thái độ ứng xử: bịt tai từ chối hoàn toàn trí thức và nhân dân. Vậy có khác gì cách làm hôm nay, nói loanh quanh đủ chuyện rồi vẫn không hề động đến DÂN không? Cũng là Bộ Tài nguyên và Môi trường đấy thôi, dạo đó cũng đã rất “bài bản” cử ngay những người chuyên trách đi “khảo sát”, và cũng đã khảo ra được những bản báo cáo dềnh dang rất dài, đưa đọc trong các buổi họp báo như buổi họp hôm nay do ngài chủ trì đấy. Bản khảo sát cũng chẳng thiếu một mặt nào, trình tự, lớp lang và khoa học lắm, nào phân tích, so sánh về công nghệ, về giá cả, nào dự đoán mức sống của người dân Tây Nguyên sau khi nhà máy đi vào hoạt động sẽ được nâng cao bao nhiêu bậc, nào quy trình hoàn thổ cho đất đỏ ở Tân Rai và Nhân Cơ cũng như nhiều nơi khác… sẽ diễn ra thuận lợi và “đúng quy trình” ra sao. Nghe bùi tai khôn kể. Tiếc thay, có một điều quan trọng bậc nhất thì các ngài lại đã cố tình bỏ qua không thèm khảo: đó là ý kiến – là tổng hợp kinh nghiệm, tri thức, quan điểm của dân chúng, là LÒNG DÂN. Không những phớt lờ không thèm đếm xỉa đến lòng dân mà hễ những ai quyết liệt phản đối dự án, lên tiếng mạnh mẽ trên các diễn đàn, các ngài còn dùng bộ máy chức năng để làm khó dễ, vu cho họ là thù địch, thẩm vấn họ suốt ngày này tháng khác, nhất quyết dập tắt tiếng nói của họ bằng được.

Thì nay, sau 7 năm thí điểm dự án theo lệnh ĐCS, không biết trong thâm tâm ngài Bộ trưởng có dám chịu thừa nhận không nhỉ, kết quả nhãn tiền đang bày ra lấp ló: một núi nợ chưa biết bấu víu vào đâu để trả đang lù lù hiện dần trước mắt, và một quả bom tấn về môi trường đã kích hoạt sẽ có nguy cơ giáng xuống đất nước Việt Nam còn ghê gớm hơn nhiều quả bom Formosa(4). Không biết đến lúc ấy, ông Trần Hồng Hà sẽ đem gia đình con cái chạy đi đâu? Hay là ông sẽ cứ ở lại họp báo tiếp về việc “Tây Nguyên sẽ có cả alumin và cà phê, hạt điều, hạt tiêu, gỗ quý…, sẽ giữ lại được nền văn hóa độc đáo bậc nhất, dân chúng Tây Nguyên và đồng bằng Nam Bộ sẽ được sống vui sống khỏe, trong một môi trường sạch sẽ an toàn”?

BVN

(1) Xem:http://www.vnmedia.vn/dan-sinh/201608/bo-truong-tran-hong-ha-mien-trung-se-co-ca-thep-ca-ca-va-bien-an-toan-539641/

(2) Xem:http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/bo-truong-tran-hong-ha-tam-bien-duoi-mua-3456602.html

(3) Mượn một câu nói nổi tiếng của các nhà dân chủ thời Nhân văn – Giai phẩm.

(4) Xem:http://www.baogiaothong.vn/vo-duong-ong-nm-alumin-nhan-co-qua-bom-moi-truong-ngang-tam-formosa-d161551.html

DÂN KHÔNG TIN VÌ ĐÂY LÀ NHỮNG PHÁT NGÔN NGAY TỪ ĐÀU ĐÃ TỪ CHỐI SỰ PHẢN BIỆN

NGUYỄN ANH TUẤN/ BVN 24-8-2016

clip_image005

Vấn đề then chốt nhất trong thảm họa cá chết vẫn là: Niềm tin của người dân chưa được khơi thông thì thị trường hải sản vẫn bị tắc nghẽn. Dân chưa ăn cá thì tàu thuyền cứ phải nằm bờ kéo theo hàng chục vạn người thất nghiệp và những thứ tồi tệ khác đến sau.

Lẽ ra, với tình cảnh này thì sự kiện công bố hiện trạng biển miền Trung sáng nay của Bộ Tài nguyên Môi trường phải được người dân nín thở chờ đợi. Và khi kết quả công bố là biển đã sạch với các số liệu chứng minh đi kèm thì lẽ ra dân tình phải thở phào nhẹ nhõm mới phải.

Song, mọi thứ lại không diễn ra như vậy. Vì sao thế?

Khủng hoảng niềm tin. Nhiều người không còn tin vào những kết luận từ phía Chính phủ nữa.

Bộ TN-MT, ngay cả khi có thể rất giỏi về chuyên môn đi chẳng nữa, thì thời gian vừa qua đã tỏ ra rất kém về truyền thông.

Họ cứ nghĩ rằng hôm nay công bố kết quả như vậy, hệ thống tuyên truyền đưa tin thì dân chúng sẽ vỗ tay rào rào hoan nghênh.

Muốn người ta tin vào KẾT QUẢ thì QUÁ TRÌNH đưa đến kết quả đó phải khách quan, trung thực và minh bạch.

Ở đây có ít nhất 3 vấn đề trong quá trình dẫn đến kết luận BIỂN ĐÃ SẠCH vừa qua:

(1) Các cơ quan môi trường Liên Hiệp Quốc, các tổ chức quốc tế và ít nhất là 2 Chính phủ Hoa Kỳ và Đài Loan đã có lời đề nghị giúp đỡ Việt Nam về mặt chuyên môn trong tìm kiếm nguyên nhân và xử lý hậu quả thảm họa môi trường này. Vì sao không được chấp thuận?

(2) Để trấn an dư luận có thời điểm Bộ TN-MT đã mời các đoàn chuyên gia của Nhật, Đức, Israel vào cuộc. Kết quả khảo sát của các đoàn ấy thế nào, sao không thấy công khai?

(3) Đối với những cơ quan đứng sau kết luận này bao gồm Viện Hàn lâm Khoa học Công nghệ Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội, “tính khách quan, trung thực về mặt khoa học” hay “chức năng thực hiện những nhiệm vụ chính trị” là ưu tiên cao hơn của họ, khi mà những người đứng đầu các cơ quan này đều là đảng viên, không được phép nói và làm trái nghị quyết, dù chỉ là nghị quyết của cấp ủy đảng cơ sở của họ? Liệu có xung đột lợi ích không?

Đó là chưa kể cũng chính Bộ TN-MT là nơi ban đầu đã đưa ra nguyên nhân thủy triều đỏ cho thảm họa cá chết, để sau đó lại bác bỏ nó. Phủ nhận nghi vấn Formosa là thủ phạm, rồi cuối cùng lại kết luận tập đoàn này gây ra thảm họa.

Tóm lại, thiếu tự do học thuật, thiếu các viện nghiên cứu độc lập tách rời khỏi sinh hoạt đảng phái trong khi các tổ chức xã hội dân sự và báo chí bị kềm kẹp, thật không dễ để những kết luận của Chính phủ lấy được lòng tin của người dân, nhất lại là trong các vấn đề chuyên môn khoa học, xa lạ với đa số mọi người.

Càng ôm bằng hết vào mình, nào là trường đại học, viện nghiên cứu, báo chí và cả các tổ chức xã hội, trớ trêu thay, Chính phủ lại càng đơn độc trong mỗi phát ngôn của mình.

Bởi đấy là những phát ngôn ngay từ đầu đã chối từ sự phản biện.

N.A.T.

Nguồn: FB Nguyễn Anh Tuấn

(*) Đầu đề do BVN thêm.

ĐIỂM BÁO MẠNG

PHÁT SÚNG TỘI ÁC VÀ THAM-SÂN -SI

KỲ DUYÊN/ TVN 21-8-2016

Tham sân si, Yên Bái, Đỗ Cường Minh, Bí thư Tỉnh ủy, Ấn tượng trong tuần, Kỳ Duyên, nhà báo Kim Dung

Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái Phạm Duy Cường và Chủ tịch HĐND tỉnh kiêm Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy Ngô Ngọc Tuấn

Vào giữa lúc cả xã hội đang quan tâm theo dõi diễn biến của cơn bão Thần Sét vẫn tiếp tục di chuyển, thì một vụ việc như… tiếng sét giữa trời quang, khiến cả xã hội chấn động.

Tại Yên Bái, Bí thư Tỉnh ủy Phạm Duy Cường và Chủ tịch Hội đồng Nhân dân tỉnh kiêm Trưởng Ban tổ chức Tỉnh ủy Yên Bái Ngô Ngọc Tuấn đã bị bắn tại phòng làm việc của họ, trước cuộc họp Hội đồng Nhân dân tỉnh chuẩn bị khai mạc.
Vết thương quá nặng, theo nguồn tin của Tuổi Trẻ, hai nạn nhân đều bị bắn 2-3 phát đạn. Một bị bắn vào ngực, bụng và đầu. Một bị bắn vào ngực xuyên lên cổ và vào đầu, đều đã không qua khỏi.Nghi can, không phải một kẻ du thủ du thực nào, mà hóa ra cũng là một quan chức – Đỗ Cường Minh, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Yên Bái.

Đỗ Cường Minh, sau phát súng tội ác bắn vào hai quan chức tỉnh ủy, đã tự sát bằng cách bắn vào đầu. Và cũng tử vong sau ít giờ đồng hồ.

Mặc dù, trước sự việc quá nghiêm trọng, nhận được thông tin, ý thức được hoàn cảnh vụ việc và tình hình nguy cấp, Bộ Y tế đã khẩn trương điều kíp bác sĩ của Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Việt Đức lên Yên Bái, trực tiếp tham gia ca mổ cấp cứu.

Nhưng tất cả, số phận đều đã… “an bài”.

Kỳ họp thứ 02 HĐND tỉnh Yên Bái đã phải hủy bỏ ngay sau đó.

Trước vụ việc gây chấn động mạnh cả xã hội, nhất là là với cán bộ, nhân dân tỉnh Yên Bái, người đứng đầu Chính phủ đã trực tiếp lên Yên Bái nắm tình hình, làm việc với lãnh đạo tỉnh, chỉ đạo giải quyết vụ việc.

Cũng ngay buổi chiều 18/8, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Yên Bái tổ chức họp báo. Theo những thông tin từ cuộc họp báo cho biết, khẩu súng đối tượng sử dụng là súng K 59, được trang bị hợp pháp để dùng trong hoạt động nghiệp vụ bảo vệ rừng. Cơ quan chức năng đã khám xét nhà ở, phòng làm việc của đối tượng. Đối tượng là con rể của nguyên Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái. Trước đó, được giới thiệu, bổ nhiệm đúng quy trình, là người hiền lành, hoàn thành tốtnhiệm vụ được giao(VietNamNet, ngày 18/8).

Mới đây, cơ quan chức năng đã quyết định khởi tố hình sự vụ án.

Nhưng câu chuyện đời người, câu chuyện bi kịch của số phận, của quan hệ công quyền có lẽ chưa dừng được ở đó.

Tại cuộc họp báo, bà Phạm Thị Thanh Trà, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Yên Bái nhận xét có thể do một phút nông nổi, dẫn tới tinh thần bị kích động nên đối tượng đã không làm chủ được bản thân.

Cả 03 người- 02 nạn nhân và đối tượng Đỗ Cường Minh đều đã trở về với cát bụi. Chỉ họ biết rõ nhất điều gì giữa họ với nhau, biết rõ điều gì khiến họ đang là đồng chí, bỗng chốc trở thành kẻ không đội trời chung, chỉ cách nhau bằng những tiếng súng nổ đanh chát, lạnh lùng. Dù họ rồi đây vẫn phải “nằm chung”- ở nghĩa địa, chí ít là chung nhau … cát bụi.

Trong cuộc sống hiện đại này, với biết bao vòng xoáy tham – sân- si, mà bản chất hỉ -nộ- ái – ố của con người, đặt trong mối quan hệ cộng đồng đầy phức tạp, thì mâu thuẫn giữa con người với con người, giữa quan chức với quan chức đều có thể xảy ra ở bất cứ đâu, lĩnh vực nào, tỉnh nào. Nhưng một hành vi kích động đến mức như vậy, chứng tỏ sự mâu thuẫn giữa họ- đối tượng Đỗ Cường Minh với 02 nạn nhân quá căng thẳng, đến đỉnh điểm. Nếu như Đỗ Cường Minh thực sự không mắc bệnh tâm thần

Và đây mới là điều đáng nói nhất, việc hành xử giải quyết mâu thuẫn nhau giữa hai bên đều là quan chức, lại theo cách hành xử của giới giang hồ, xã hội đen, hệt như trong những bộ phim hình sự- khiến cho xã hội, người dân thấp cổ bé miệng sửng sốt, bất ngờ.

Điều đáng buồn, trên các trang mạng xã hội, rất ít những sự chia sẻ xót thương. Mà nhiều hơn lại là những hoài nghi về sự “ân oán” lợi ích, tình cảm, đặt trong bối cảnh xã hội lợi ích nhóm đang hoành hành, đạo đức cán bộ đảng viên suy thoái, như người đứng đầu tổ chức Đảng từng lo ngại.

Dù người viết và ai cũng tin rằng, đó vẫn là sự mất mát, tổn thất vô cùng to lớn, là nỗi đau pha chút cay đắng hoặc bẽ bàng cho gia đình, dòng họ của cả hai phía, nạn nhân và thủ phạm.

Không hiểu, gặp nhau dưới suối vàng, họ sẽ “nói” với nhau điều gì? Về những đắng cay và khắc nghiệt của tham- sân –si, khi tất cả đã chỉ còn là tro tàn quá khứ?

Vụ án đầy bi kịch nhanh chóng kết thúc. Nhưng còn mở ra biết bao điều mà những quan chức có trách nhiệm cần suy nghĩ. Liệu điều đó có phản chiếu những suy thoái, thậm chí là sự khủng hoảng, bất ổn âm thầm của đội ngũ cán bộ, của bộ máy công quyền, mà Tổng Bí thư tại Hội nghị Dân vận ngày 27/5 đã phải phát biểu:

Những hiện tượng cán bộ, đảng viên sa sút phẩm chất, thoái hoá có chiều hướng gia tăng, ngày càng nghiêm trọng. Không ít đảng viên vào Đảng để mưu cầu danh lợi. Một số người chẳng những không gương mẫu mà còn nêu gương xấu trước quần chúng, vô tổ chức, vô kỷ luật, kéo bè kéo cánh, nịnh bợ cấp trên, chèn ép quần chúng và cấp dưới, cơ hội, thực dụng, gây mất đoàn kết nội bộ(VnExpress.net, ngày 28/5).

Vụ việc đầy bi kịch tại Yên Bái, không còn là mất đoàn kết, mà có thể là mâu thuẫn nội bộ đến điểm đỉnh. Không chỉ gây sốc cho người dân cả nước ở hành vi cố tình gây tội ác, mà ở góc độ nhân tâm, còn là một đạo lý hành xử giữa đồng chí với nhau rất đáng sợ, rất không đẹp.

Xưa nay, người có tội, như một luật nhân- quả, rồi cũng phải trả giá.

Nhưng khi một guồng máy cán bộ mà sự tham- sân- si đến mức khiến cho người dân mất niềm tin và thất vọng, hoài nghi trước tổn thất của những số phận, đó mới thật đáng nghĩ, đáng buồn. Ai có lỗi đây?

Kỳ Duyên

KHỦNG HOẢNG YÊN BÁI, KHỦNG HOẢNG CÔNG LÝ

HUY ĐỨC/ BVN 20-8-2016

Khởi tố là cần thiết vì nếu có thể tìm ra nguyên nhân vụ án mạng ở Yên Bái thì cho dù không còn bị can, bị cáo nào, chính quyền vẫn có thể rút ra nhiều bài để học. Tuy nhiên, không cần chờ khi công cuộc điều tra khép lại, cơ quan lãnh đạo cao nhất của ĐCS VN mới cần ngồi xuống để nhận ra đâu là căn nguyên của cuộc khủng hoảng này.

Khủng hoảng không phải bắt đầu từ Yên Bái.

Tại thời điểm xảy ra vụ Cống Rộc, Tiên Lãng, Hải Phòng (5-1-2012), tôi viết bài “Quả Bom Đoàn Văn Vươn” và cảnh báo, đừng để “những quả bom lại nổ”. Hai mươi tháng sau, chiều 11-9-2013, ở Thái Bình, nông dân Đặng Ngọc Viết đã cầm súng xông vào trụ sở Ủy ban, nổ súng vào 5 cán bộ Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố, rồi tự sát…

Cho dù giờ đây, ông Đoàn Văn Vươn đã trở về đoàn tụ gia đình và công việc cày cấy trên mảnh đất nhuốm máu của ông có vẻ như đang tiến triển; cho dù ông Đặng Ngọc Viết đã chuẩn bị cho mình một cái chết bi tráng, cái giá mà hai ông và gia đình phải trả là quá khắc nghiệt. Tại sao hai thường dân lương thiện này đã phải dùng súng, dùng bom?

Đấy là hành động của những con người không còn tin chính quyền này có thể mang đến cho mình công lý.

Nhiều người hôm qua cũng đặt câu hỏi, dẫu có mất chức chi cục trưởng, ông Đỗ Cường Minh vẫn còn khá nhiều cơ hội, tại sao ông nỡ chọn một kết cục bi thảm như vậy.

Cũng như ông Viết, ông Vươn, phải đối diện với một tình huống bất công một quan chức của chế độ mới phải dùng đến khẩu súng do chế độ trang bị cho để bắn vào những người cùng ngồi trong lòng chế độ.

Không chỉ có những thường dân, hành động của ông Minh cho thấy, ngay cả những cán bộ ở cấp rất cao giờ đây cũng không còn tin rằng trong cái tổ chức mà họ đang có chân, dẫu vẫn mang lại cho họ rất nhiều bổng lộc, khi đụng chuyện cũng không thể mang đến cho họ công lý.

Rõ ràng, vụ Yên Bái cho thấy tính mạng các nhà lãnh đạo của “Đảng Ta” đã không còn an toàn ngay cả khi họ ngồi trong những căn phòng cách âm quá tốt (Súng K59 nổ trong phòng Bí thư mà không ai nghe thấy). Nhưng, đừng phản ứng mau lẹ bằng cách tăng cường lực lượng cảnh vệ hoặc đặt máy dò kim khí ngay trước cổng các cơ quan.

Không phải cứ thêm súng ống là có thể giữ được tính mạng cho quý vị.

Chỉ khi không còn chút hy vọng nào vào công lý người dân và các đồng chí của quý vị mới tìm đến bạo lực. Đừng sợ hãi bạo lực đến mức tăng cường bạo lực cho dù có nấp dưới mỹ từ kỷ cương. Đừng củng cố những thiết chế chỉ để bảo vệ chính quyền bởi cách làm đó cũng không khác chi tự cài bom dưới ghế.

Hãy nghĩ đến một lộ trình cải cách chính trị để không chỉ quý vị tránh được những viên đạn của đồng chí mình mà còn để cho dân tránh được bể dâu lần nữa.

H.Đ.

Tác giả gửi BVN

https://www.facebook.com/Osinhuyduc?hc_ref=NEWSFEED&fref=nf

VỤ LÃNH ĐẠO YÊN BÁI THANH TOÁN NHAU: HIỂU THÊM VỀ LÒNG DÂN

NGUYỄN TƯỜNG THỤY/ RFA/BS/ BVB 21-8-2016

Thông tin đầu tiên về vụ bắn chết hai quan đầu tỉnh Yên Bái có lẽ lên báo sớm nhất là tin “Chấn động: Chi cục Trưởng Chi cục Kiểm lâm Yên Bái nổ súng bắn lãnh đạo tỉnh của Pháp luật Việt Nam” vào lúc 9 h40’ ngày 18/8/2016, tức là chỉ sau khi vụ việc xảy ra 1 giờ rưỡi . Tuy nhiên ít phút sau, bài báo này đã bị ẩn. Chỉ khi đến giữa ngày, nhiều trang báo đồng loạt đăng tin thì bài này mới cho hiện trở lại.

Lập tức, các trang mạng xã hội, đặc biệt là facebook dày đặc các thông tin, bình luận về sự kiện này. Sang mấy ngày tiếp theo, các facebooker gần như không quan tâm đến thông tin nào khác. Đặc biệt, thái độ khi bình luận đối với họ tuyệt đại đa số là… hả hê.

Sự hả hê lan rộng tới mức, ngay tối hôm đó, VTC phải đăng bài để chấn chỉnh, định hướng, được các facebooker coi là bài khóc mướn “Khi kẻ vô lương đùa cợt trên nỗi đau tột cùng vụ thảm án” của tác giả Khánh Nguyên. Bài viết đầy những giáo lý từng nghe đến nhàm chán, chỉ trích nặng nề đám đông đang hả hê đó.

Sau khi cho rằng, đây là tổn thất lớn của hệ thống chính trị, của gia đình nạn nhân, tác giả cao giọng dạy bảo, qui kết: “Đùa cợt, rồi hả hê với nỗi đau của sự mất mát cũng đồng nghĩa với cổ vũ cho hành vi tội ác man rợ. Và những kẻ này, ở một mức độ nào đó, cũng có phần man rợ như tên sát nhân máu lạnh”.

Và đương nhiên, lời rao giảng giáo điều này bị cộng đồng mạng đồng thanh lên tiếng kịch liệt phản đối. Họ đặt ra những câu hỏi mà tác giả khó trả lời. Chỉ xin dẫn ra đây ý kiến của Trương Minh Tam, một tù nhân lương tâm từng chịu quá nhiều đau khổ: “Không có lương tri nào đòi hỏi mỗi chúng ta phải đau khổ, thương xót khi đứng trước cái chết của những kẻ tội đồ cả. Nhỏ nước mắt trước cái chêt của quỷ dữ là nước mắt của những kẻ không có não!”.

Hỉ, nộ, ái, ố là các cung bậc trạng thái tình cảm của con người. Những trạng thái này được thể hiện bằng thái độ, bằng lời nói tuy đôi khi cũng phải kìm nén. Bày tỏ như thế nào là tùy thuộc vào mỗi người do quan hệ cá nhân của họ. Việc thể hiện hay không, thể hiện như thế nào, không ai có thể bắt được ai. Một chàng trai không thể chất vấn một cô gái rằng, tôi nhà giàu, đẹp trai, con quan, tại sao cô không yêu tôi? Không thể trách cô gái là không có xúc cảm trước cái tưởng là tiêu chuẩn hàng đầu cho mỗi người khi chọn bạn đời. Việc các facebooker hả hê trước vụ thanh toán nhau ở Yên Bái là trạng thái tình cảm thật, khi mà người dân phải chịu quá nhiều áp bức, đè nén, bất công, đau khổ vì chính quyền gây ra, khi mà chính quyền coi họ như cỏ rác, giẫm đạp, giày xéo lên họ để thăng tiến, để sống cuộc đời vương giả, phè phưỡn. Thời buổi soi vào tim óc người ta xem người ta nghĩ gì, định hướng tình cảm phải yêu ai, ghét ai đã qua rồi.

Xin hỏi tác giả bài viết, tác giả có thái độ thế nào trước cảnh tượng như sau mỗi cuộc đàn áp áp dân thành công như đàn áp biểu tình, cưỡng chế đất, cán bộ và nhân viên cộng lực hả hê nhau chia tiền và nâng cốc ở các nhà hàng, không cần biết đến hậu quả là những gia đình lâm vào cảnh cùng quẫn vì mất nhà, mất đất? Ngược lại chút thời gian, trong thời kỳ chiến tranh, báo chí hả hê đưa tin như thế nào sau mỗi trận thắng, giết được bao nhiêu Mỹ và “Ngụy”, trong khi những người lính ấy cũng có gia đình, vợ con?… Lúc ấy, tác giả ở đâu? Nếu chưa sinh ra, tác giả có biết đến cuộc nội chiến đẫm máu và nước mắt trong giai đoạn đau thương nhất trong lịch sử dân tộc?

Xin kể một chuyện về vụ Tòa tháp đôi của Nước Mỹ bị tấn công ngày 11/9/2011 làm 2999 người tử vong và mất tích, trong đó có tới 2944 người là dân thường. Vậy mà ở ViệtNam, không hiếm người tỏ rõ sự hả hê với những từ ngữ như “đáng đời”, “cho chết”. Trong bữa ăn trưa ngày 12/9 năm ấy, vợ tôi đi chợ về kể nhiều người mừng lắm, tôi bảo: “Sao lại mừng? Nước Mỹ nhức đầu thì Việt Nam cũng sổ mũi. Bin Laden là kẻ thù chung của loài người chứ đâu của riêng Nước Mỹ. Người chết lại toàn là dân thường”.

Chú em tôi đi họp chi bộ về nói cuộc họp phổ biến việc nước Mỹ bị khủng bố không được tỏ ra vui mừng. Rồi chú ấy nhận xét: “Như vậy là rõ ràng công nhận là mình có vui mừng rồi còn gì”.

Đừng lên mặt đạo đức để rao giảng cho thiên hạ mỗi khi có người tỏ thái độ khác với mình. Cần phải đặt ra câu hỏi, tại sao công an chết, cán bộ chết thì dân mừng, cấp càng cao thì càng mừng hơn nữa. Vấn đề nên rút ra ở đây là tại sao họ mừng, lòng dân hướng về ai, họ cần gì và căm ghét những gì.

Việc cán bộ cao cấp ở Yên Bái bị thanh toán mà dân lại mừng có thể coi như một cuộc trưng cầu dân ý về lòng dân đối với Đảng và nhà cầm quyền. Nó không như những gì mà cộng sản thường rêu rao như “ý đảng, lòng dân”, “nhân dân tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng” và cả những đại ngôn “Đảng vững mạnh, đất nước phát triển, dân tộc trường tồn”. Nhân đây, xin nhắc thêm sự kiện gần nhất là Tổng thống Obama sang thăm Việt Nam. Sự cuồng nhiệt của người Việt Nam khi đón Tổng thống Mỹ, cách bày tỏ tình cảm của nhân dân Việt Nam với ông Obama cho thấy, họ đang hướng về Nước Mỹ, khát khao những giá trị Mỹ, đặc biệt là giá trị dân chủ, nhân quyền. Đó cũng có thể coi như một cuộc trưng cầu dân ý vậy.

Nguyễn Tường Thụy/Blog RFA/BS

NHÌN VỤ BẮN 02 LÃNH ĐẠO YÊN BÁI DƯỚI GÓC ĐỘ TÂM LÝ

GS MẠC VĂN TRANG/ BVB 20-8-2016

Muốn dân xót thương khi người lãnh đạo chết, thì hãy để nhân dân thực sự được tự do lựa chọn bầu người họ yêu quý, tin tưởng lên làm lãnh đạo và được quyền phế truất kẻ không còn xứng đáng ở vị trí lãnh đạo. Đơn giản vậy thôi. Đừng hỏi nhân dân tại sao?

Đây là vụ án nghiêm trọng gây chấn động xã hội, nhưng dư luận bàn tán về vụ án lại rất khác nhau do “tâm lý” (suy nghĩ, cảm xúc…) trước sự kiện này ở mỗi người một khác. Xin phân tích vài khía cạnh tâm lý.

  1. Trước hết về hung thủ. Bà Trà chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái nhận xét:“Nếu tiếp xúc thì sẽ thấy ông Đỗ Cường Minh là một người lành hiền, cố gắng hoàn thành công việc. Ông Minh đã được tín nhiệm giới thiệu giữ chức Chi Cục trưởng Kiểm lâm như hiện nay. Trong cuộc sống, ông Minh cũng rất hòa đồng. Bà Trà phán đoán có thể có một vấn đề gì đó dẫn đến một phút ông Minh bột phát, không kiềm chế bản thân”. Giám đốc CA nói: “Khi đối tượng từ phòng đồng chí Cường tới phòng đồng chí Tuấn các cán bộ ở phòng Ban Tổ chức Tỉnh ủy ở gần đó còn chào hỏi nhau và nghĩ cán bộ lên làm việc”.

Qua đây thấy ý kiến cho rằng ông Minh “một phút bột phát, không kiềm chế” là không đúng. Tất cả cho thấy hành động gây án đã được chuẩn bị, tính toán rất kỹ lưỡng và hung thủ rất bình tĩnh. Sau khi bắn Bí thư bằng 4 viên đạn, hung thủ thản nhiên ra ngoài bắt tay, chào hỏi mọi người (không ai nghi ngờ gì) và bình thản đi 150m, vào phòng bắn tiếp Chủ tịch HĐND tỉnh cũng với 4 viên đạn. Viên cuối cùng dành cho mình. 9 viên đạn vừa hết, được dùng rất chuẩn xác. Bắn mỗi đối thủ 4 phát là trút sự căm giận ghê gớm lắm. Bắn trực diện, không bắn lén. Chắc hẳn vừa bắn vừa kể tội “vì sao mày phải chết”. Người bắn có trạng thái tâm lý tin vào hành động của mình là chính đáng và kẻ bị xử là đích đáng. Ta chưa biết được ân oán giữa họ, những chắc chắn hung thủ có mối uất hận rất sâu nặng và đã nung nấu từ lâu mới đi đến quyết định, đã được cân nhắc kỹ càng… cả 3 cùng chết.

  1. Giám đốc CA Yên Bái cho rằng, thủ phạm đã rõ, đã chết, không cần điều tra vụ án, là sai. Vì cần điều tra làm rõ: Thủ phạm gây án vì động cơ gì? Đằng sau vụ án là gì? Có những ai liên quan trực tiếp, gián tiếp đến vụ án. v. v…
  2. Lần đầu tiên, một vụ trọng án trong nội bộ chính quyền, lại được thông tin công khai trên đài báo. Thủ tướng Phúc đến tận nơi thăm hỏi, chỉ đạo, phát biểu với PV truyền hình. Chủ tịch tỉnh Yên Bái họp báo ngay, trả lời thẳng thắn, cởi mở… Thay vì tâm lý che đậy, giấu giếm, đưa tin “tuyên truyền định hướng” như trước, nay đã chủ động công khai minh bạch thông tin về vụ án. Đây là chuyển biến tâm lý tích cực, đáng ghi nhận của Chính phủ. Hơn nữa biết rằng, càng giấu “càng chết”, vì trên mạng xã hội đã đưa tin tùm lum hết rồi… Truyền thông nhà nước đang cố gắng theo kịp truyền thông xã hội.
  3. Dư luận xã hội về vụ án, cho thấy “ý Đảng, lòng Dân” phân ly, xa cách ghê quá. Trên FB Châu Đoàn, tác giả nhận định: “Điều đáng quan tâm ở đây là thái độ của cộng đồng mạng. Có thể nói là 95% mọi người có thái độ thờ ơ, nhiều người có thái độ “hả hê” bởi sự chán ghét chính quyền vốn có”… Điều này trái với đạo lý của dân ta “Nghĩa tử là nghĩa tận’, “Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ”… Nhưng điều đau lòng, đó lại là sự thật, rất thật. Vì trong các hiện tượng tâm lý thì biểu lộ cảm xúc là chân thực nhất. Có thể sau khi biểu lộ “vui thích”, “hả hê”, người ta chợt nhận thức ra mình đã biểu lộ thái độ sai lệch, xin lỗi và điều chỉnh lại… Nhưng không thể phủ nhận, những biểu cảm ban đầu mới là tâm lý bộc lộ tình cảm thật”.

Bạn Khánh Nguyên trên VTC News, ngày 18-8-2016, có bài viết: “Khi kẻ vô lương đùa cợt trên nỗi đau tột cùng vụ thảm án” muốn “lên lớp” cho “95%” số người thờ ơ hoặc biểu lộ “phản cảm”, nhưng thái độ trịch thượng, gay gắt, quy chụp 1 chiều của tác giả lại gây phản tác dụng. Người ta lại đặt tiếp các câu hỏi:

-Tại sao lại có “quá nhiều kẻ vô lương đang đùa cợt, thậm chí hả hê với nỗi đau tột cùng vụ thảm án xảy ra ở Yên Bái sáng nay”? Tiên trách kỷ, hậu trách nhân, hãy tự hỏi, sao người khác chết thì bao nhiêu kẻ thương xót, người này chết lại “quá nhiểu kẻ hả hê”? Toàn bộ hệ thống Đảng, Chính quyền và mỗi quan chức hãy tự suy ngẫm và tìm ra câu trả lời đi. Đừng trách oán xã hội. Dư luận xã hội, suy nghĩ, tình cảm xã hội được hình thành và bộc lộ theo quy luật của nó đấy.

– Tại sao Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhận định: “Đây là mất mát to lớn”… mà người dân lại thấy nó chả quan trọng gì? Đó là tâm lý chán chường đối với không chỉ mấy người này, mà toàn hệ thống chính quyền. Người dân thấy chính quyền “hèn với giặc, ác với dân”, ăn tàn, phá hại quá nhiều rồi; hứa hẹn, thề thốt quá nhiều rồi, nhưng tình trạng tham nhũng, sưu cao, thuế nặng, xã hội suy đồi, dân khổ trăm chiều vẫn kéo dài vô vọng. Khi đã chán chường thì ai trong chính quyền này chết, dân cũng chẳng xót thương đâu!

Muốn dân xót thương khi người lãnh đạo chết, thì hãy để nhân dân thực sự được tự do lựa chọn bầu người họ yêu quý, tin tưởng lên làm lãnh đạo và được quyền phế truất kẻ không còn xứng đáng ở vị trí lãnh đạo. Đơn giản vậy thôi. Đừng hỏi nhân dân tại sao?

19/8/2016

  1. Tâm lý học Mạc Văn Trang /(FB. GS. Mạc Văn Trang) 

ÁN MẠNG TẠI YÊN BÁI-ĐÂU LÀ SỰ THẬT ?

THẠCH ĐẠT LANG/ DLB/ BVB 22/8/2016

“…Đỗ Cường Minh chưa chắc đã là thủ phạm bắn chết Phạm Duy Cường, Ngô Ngọc Tuấn bởi không ai có thể tự bắn vào đầu mình từ sau gáy ra phía trước. Phải có một nhân vật thứ tư thực hiện hành động sát thủ này. Người đó là ai? Chỉ có Phạm Duy Cường, Ngô Ngọc Tuấn và (may ra) Đỗ Cường Minh mới có thể trả lời…”.

Một vụ án mạng xảy ra ở tỉnh Yên Bái, ngay trụ sở ủy ban hành chánh tỉnh với 3 người chết gồm 2 nạn nhân và một hung thủ vào ngày 18.08.2016 đã khiến cho cộng đồng mạng nóng hẳn lên. Đây có lẽ là lần đầu tiên trong lịch sử đảng CSVN, một vụ sát nhân xảy ra ngay tại công đường, trụ sở Ủy ban nhân dân tỉnh giữa các người đồng chí, đồng thời cũng là lãnh đạo cao cấp nhất của tỉnh Yên Bái.

Theo các nguồn tin trên báo chí trong nước, chi cục trưởng chi cục kiểm lâm tỉnh Yên Bái, Đỗ Cường Minh là thủ phạm – đồng thời cũng là nạn nhân vì sau khi bắn Phạm Duy Cường, bí thư tỉnh ủy Yên Bái, Ngô Ngọc Tuấn, chủ tịch HĐND kiêm trưởng ban tổ chức tỉnh ủy – Minh tự sát bằng một phát đạn bắn vào đầu.

Hầu hết dư luận trên cộng đồng mạng lề trái tỏ ra thích thú, hào hứng với những bình luận (có vẻ) hả hê khi theo dõi tin tức nóng hổi, vừa thổi vừa xem này. Sự hả hê, vui thú khi thấy người khác gặp tai nạn, tiếng Đức có một chữ là Schadenfroh (đầy đủ nghĩa hơn chữ gleeful hay gloating của tiếng Anh – Schaden: thiệt hại, froh: vui mừng). Lý do tại sao cộng đồng mạng tỏ ra vui mừng, hớn hở khi có đảng viên cao cấp của đảng CS bị đồng chí thanh toán bằng vũ khí cũng như việc trên VTC News online có một bài viết của Khánh Nguyên lớn tiếng “dạy dỗ” cộng đồng mạng về lương tri, đạo đức… không phải là mục đích bài viết, nhưng trong khi ba điều bốn chuyện, có lạm bàn (chút đỉnh) thì xin độc giả niệm tình tha thứ cho.

Ông Vàng À Sàng, giám đốc bệnh viện đa khoa (thiếu khoa Khắc Phục nên chưa trở thành bệnh viện toàn khoa) Yên Bái cho biết, viên đạn trên đầu Minh đi từ phía sau gáy trổ ra phía trước. Đây là một điểm khác thường, khó hiểu, không thể giải thích khoa học vì nếu tự tử, không ai có thể vòng tay đưa khẩu súng K-59 ra phía sau gáy, bóp cò. Một người tự tử bằng súng ngắn như K 59, Colt 45, P 38, CZ 85…chỉ có thể kê súng vào thái dương, dưới cằm, vào miệng, đỉnh đầu để bóp cò. Một viên đạn trổ từ sau gáy ra phía trước chắc chắn phải do một người khác thực hiện. (1)

Diễn tiến vụ án mạng, nếu đúng như mô tả của Đặng Trần Chiêu, giám đốc công an Yên Bái thì Đỗ Cường Minh phải là kẻ có máu lạnh, vui buồn, giận dữ không lộ ra trên nét mặt, một sát thủ từng giết người, đã lên kế hoạch giết Duy Cường và Ngọc Tuấn một cách kỹ lưỡng, cẩn thận, có tính toán từng bước, chứ không thể là một hành động bộc phát trong lúc nóng giận của một người tính tình hiền lành, hòa đồng, vui vẻ với mọi người như lời bà Phạm Thị Thanh Trà, chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái nhận định về cá tính của Đỗ Minh Cường.

Theo lời thiếu tướng Đặng Trần Chiêu, Giám đốc Công an tỉnh Yên Bái: Minh đương nhiên được sử dụng vũ khí, giấy phép của Minh vẫn còn giá trị nhưng mục đích phải tùy quy định. Minh đã quá quen rồi nên anh em không kiểm tra cụ thể có mang vũ khí không. Mỗi một phòng Minh bắn 4 viên đạn. Lúc 15h20 phút, Minh qua đời.

Phóng viên đặt câu hỏi, Minh bắn ông Cường xong rồi qua phòng bắn ông Tuấn thì có ai thấy tiếng súng không? Tại sao lại phát hiện ông Minh và ông Tuấn bị bắn trước khi phát hiện ông Cường?

Giám đốc Công an tỉnh Yên Bái Đặng Trần Chiêu nói, quãng đường từ phòng nọ đến phòng kia dài 150m, cửa phòng lại đóng kín, loại súng K59 tiếng nổ nhỏ.

“Chúng tôi xác định Minh bắn ông Cường trước sau mới bắn ông Tuấn, có nhân chứng thấy Minh đi vào phòng ông Tuấn còn chào hỏi. Sau thấy tiếng nổ mới vào thì phát hiện cả 2 thiệt mạng” – ông Đặng Trần Chiêu nói. (2)

Tại sao thiếu tướng công an lại nói rằng, mỗi phòng Minh bắn 4 viên đạn thay vì nói nạn nhân bị bắn mấy viên vào người? (nói vậy liệu rằng có chủ đích?).

Xét về mặt tâm lý, một người “hiền lành” như Đỗ Cường Minh khó có thể là thủ phạm giết Ngô Ngọc Tuấn và Phạm Duy Cường, Một người bình thường hiền lành, khó lòng kềm chế được cảm xúc, giữ được bình tĩnh, không thay đổi nét mặt, cử chỉ sau khi bắn chết một người khác bằng 4 viên đạn, rồi đi bộ 150m một cách thản nhiên, chào hỏi những người tình cờ gặp mặt, tiếp tục thanh toán nạn nhân thứ hai và đưa súng ra sau gáy tự sát.

Lời khai của ông Vàng À Sàng, giám đốc bệnh viện đa khoa Yên Bái cũng khác biệt với lời tuyên bố của Đặng Trần Chiêu, giám đốc công an tỉnh Yên Bái. Theo ông Sàng, hai ông Tuấn và Cường mỗi người bị bắn 3 viên vào bụng, cộng một viên vào đầu ông Minh là 7, nhưng hiện trường lại có 8 vỏ đạn. Khẩu K 59 Đỗ Cường Minh sử dụng để hạ sát Phạm Duy Cường và Ngô Ngọc Tuấn thuộc loại súng nhỏ, nhẹ (730gr), đạn 9mm, băng đạn 8 viên hoặc 12 viên (Modell PMM). Tiếng nổ của K- 59 cũng lớn như P 38 hoặc Colt 45 của Mỹ. (3)

Sự việc xảy ra lúc 8 giờ sáng, khi được chở vào bệnh viện đa khoa Yên Bái, ông Sàng nói, hai ông Tuấn, Cường đã chết hẳn, riêng Đỗ Cường Minh tim cũng đã ngừng đập, khi bác sĩ tìm cách hồi sinh, tim Minh đập lại một ít phút nhưng rồi ngừng hẳn. Đặng Trần Chiêu nói Minh chết 15g:20´ là chỉ để bào chữa cho việc Nguyễn Xuân Phúc trình diễn sự quan tâm của mình tới nạn nhân. Cho là nạn nhân được đưa đến bệnh viện lúc 10 giờ thì khoảng cách giữa 2 lời nói là 5 tiếng 20 phút.

Một điểm khác cần lưu ý nữa, khoảng cách giữa 2 hiện trường là 150m, đi bộ nhanh phải mất ít nhất 1-2 phút, tại sao những tiếng súng đầu tiên không ai nghe, chỉ nghe những tiếng nổ sau? Không lẽ chỉ có phòng làm việc của bí thư mới được xây dựng cách âm (đề phòng phản động nghe lén) còn các phòng khác thì không? Hơn thế nữa, tất cả các nguồn tin trên báo chí đều không hề nói tới một điều: – Ai đã nghe tiếng súng nổ và ai là người đầu tiên phát hiện ra Phạm Duy Cường, Ngô Ngọc Tuấn, Đỗ Cường Minh bị bắn?

Án mạng xảy ra vào khoảng 8 giờ sáng ngày 18.08.2016, ngày 19.08.2016 hai nạn nhân Phạm Duy Cường, Ngô Nhật Tuấn đã được nhập quan. Hết Nguyễn Xuân Phúc đến Tô Lâm, bộ trưởng công an chỉ đạo quyết liệt điều tra nhưng hiện trường đã bị xóa sạch hết dấu vết, nạn nhân đã được liệm thì còn điều tra gì nữa?

Nguyên tắc đầu tiên khi có án mạng là phải gọi xe cứu thương, làm cấp cứu, hồi sinh nhưng không được tự ý di chuyển nạn nhân. Nếu nạn nhân chưa chết, bác sĩ, y tá phải làm cấp cứu ngay tại chỗ, sau đó mới đưa vào bệnh viện. Còn nạn nhân chết rồi thì phải giữ nguyên hiện trường cho đến khi pháp y, chuyên viên thu thập xong chứng cớ (forensic) đạn đạo (ballistic) mới đưa nạn nhân đi.

Báo chí, truyền thông trong nước được lệnh loan báo môt cách sơ sài, chỉ đưa tin phỏng vấn Đặng Trần Chiêu giám đốc công an, Phạm Thị Thanh Trà chủ tịch UBND Yên Bái. Hết. Không thấy nói đến các nhân chứng (những người gặp ông Minh sáng ngày 18.08.2016), nạn nhân cũng như thủ phạm không hề được giảo nghiệm y khoa (Autopsie). Công an Việt Namlàm việc thật tài tình, toàn bộ vụ án mạng được kết thúc một cách “cực kỳ” nhanh chóng.

Vụ án mạng ở Yên Bái là một vụ trọng án, nạn nhân là những lãnh đạo cao cấp, lẽ ra phải được điều tra đến nới đến chốn, nhưng chắc rồi cũng giống như các vụ Nguyễn Bá Thanh, Phạm Quý Ngọ, thủ phạm liên hệ đến trung ương và bộ chính trị nên cần phải được ém nhẹm, bịt kín. Chỉ khác một điều là 2 vụ trước diễn tiến xẩy ra âm thầm, đảng và chế độ CSVN dễ lèo lái, bưng bít, che dâu, định hướng dư luận. Lần này có thể vì tình thế gấp rút, Yên Bái lại ở xa nên đảng phải thay đổi chiến lược, hành động nhanh chóng nhưng vì không thể che mắt người dân nên đành phải công khai hóa sự việc.

Đỗ Cường Minh chưa chắc đã là thủ phạm bắn chết Phạm Duy Cường, Ngô Ngọc Tuấn bởi không ai có thể tự bắn vào đầu mình từ sau gáy ra phía trước. Phải có một nhân vật thứ tư thực hiện hành động sát thủ này. Người đó là ai? Chỉ có Phạm Duy Cường, Ngô Ngọc Tuấn và (may ra) Đỗ Cường Minh mới có thể trả lời.

Thạch Đạt Lang /Dân làm báo/TTHN

_______________

(1) http://www.danchimviet.info/archives/104294/bi-thu-va-chu-tich-hdnd-tinh-yen-bai-bi-ban-tai-phong-lam-viec/2016/08

(2) http://www.tienphong.vn/xa-hoi/tin-chinh-thuc-ve-vu-bi-thu-va-chu-tich-hdnd-yen-bai-bi-ban-1040127.tpo

(3) https://en.wikipedia.org/wiki/Makarov_pistol

VỤ ÁN YÊN BÁI: KẺ GIẤU MẶT THỨ TƯ LÀ AI?

NGUYỄN THỊ XUÂN LỘC/ CTM/ BVB 21-8-2016

Vụ án Yên Bái có kẻ thứ tư xuất hiện. Tức là người đã dàn dựng ra cuộc “nổ súng” và cũng là người kết liễu cuộc đời của người gọi là thủ phạm. Liệu Công an Yên Bái có tìm ra kẻ thứ tư hay không, hay cuối cùng sẽ đóng hồ sơ với thủ phạm Đỗ Cường Minh mà không có lời giải đáp?

Vụ hai lãnh đạo tỉnh Yên Bái bị bắn tử thương đã gây kinh hoàng trong hàng ngũ lãnh đạo CSVN từ địa phương đến trung ương.

Những diễn tiến

Khoảng 7 giờ sáng ngày 18 tháng Tám, năm 2016, ông Đỗ Cường Minh, Chi cục trưởng chi cục Kiểm lâm tỉnh Yên Bái đã đăng ký tại Văn phòng Tỉnh ủy lên gặp Bí thư.

Tại phòng làm việc của ông Phạm Duy Cường, Bí thư tỉnh uỷ Yên Bái, ông Minh đã bắn vào đầu ông Cường. Sau đó, ông Minh đóng cửa phòng và đi bộ thêm 150 mét sang phòng ông Ngô Ngọc Tuấn, Chủ tịch hội đồng nhân dân tỉnh Yên Bái. Các cán bộ của Ban tổ chức Tỉnh ủy có nhìn thấy ông Minh, nhưng chỉ chào hỏi và nghĩ ông Minh đến phòng ông Tuấn có việc.

Khi vào phòng ông Ngô Ngọc Tuấn, ông Đỗ Cường Minh bắn vào bụng, ngực, đầu ông Tuấn. Sau khi gây án, ông Minh bắn vào đầu tự sát.

Khi nghe tiếng súng nổ, mọi người chạy sang, bàng hoàng phát giác cả ông Tuấn và ông Minh đều nằm dưới nền nhà.

Các nạn nhân mau chóng được đưa đi cấp cứu. Nhưng hai lãnh đạo đã tử vong trước khi nhập viện. Ông Cường được khâm liệm ngay. Ông Đỗ Cường Minh được người nhà đem về lo hậu sự khi việc “tiên lượng sống sót thấp”.

Ông Đặng Trần Chiêu, Giám đốc Công An tỉnh Yên Bái cho biết khẩu súng K59 mà ông Minh sử dụng tại hiện trường đã bắn hết đạn, không có nòng giảm thanh. Công an thu được 4 vỏ đạn tại phòng làm việc của ông Tuấn và 4 vỏ đạn khác ở phòng làm việc của ông Cường. Ông Tuấn trúng 3 phát đạn.

Ông Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc ngay trong buổi sáng cùng ngày, đã trực chỉ Yên Bái để gọi là nắm bắt tình hình và triệu tập cuộc họp với lãnh đạo tỉnh.

Dữ kiện từ báo chí:

Báo Tiền Phong đã loan tải các diễn tiến như sau:

            – Ông Vàng À Sàng, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Yên Bái, cho biết nạn nhân Phạm Duy Cường và Ngô Ngọc Tuấn đều bị bắn 3 phát vào bụng, tử vong trước khi nhập viện. Riêng ông Đỗ Cường Minh bị một viên đạn xuyên từ gáy ra trước, nhập viện trong tình trạng tim ngừng đập

Sau khi được cấp cứu, tim đập trở lại, nhưng tiên lượng sống sót thấp. Đầu giờ chiều ngày 18 tháng Tám, gia đình đã làm thủ tục đưa ông Minh về nhà lo hậu sự.

Báo Tuổi Trẻ đã loan tải như sau: “Hai nạn nhân đều bị bắn 2 đến 3 phát đạn. Một bị bắn vào ngực, bụng và đầu. Một bị bắn vào ngực xuyên lên cổ và vào đầu”…

Dư luận bàn tán

Với những dữ kiện đưa ra từ phía chính quyền Tỉnh Yên Bái và từ Báo chí, dư luận đã có một số nghi vấn về vụ án này:

-Một trong hai lãnh đạo bị bắn vào ngực xuyên lên cổ và vào đầu. Đường đi của viên đạn chứng tỏ nạn nhân không bị bắn từ xa và không có yếu tố bất ngờ. Ngược lại, hung thủ phải đứng sát nạn nhân và đã có sự vật lộn khiến khẩu súng hướng lên và viên đạn xuyên từ ngực lên cổ và vào đầu nạn nhân. Vì thế âm thanh của phát súng định mệnh đã bị chận bởi ngực của nạn nhân.

Điều này giải thích lý do tại sao súng loại K59 có tiếng nổ lớn, không có nòng hãm thanh, mà không ai nghe súng nổ khi ông Phạm Duy Cường, Bí thư tỉnh uỷ Yên Bái, là nạn nhân thứ nhất bị thanh toán.

– Ông Đỗ Cường Minh (được phía công an cho là sau khi có hành động sát nhân đã quay súng tự sát) đã bị một viên đạn xuyên từ gáy ra trước. Khó có thể tưởng tượng ông Minh muốn tạo cho mình một cách tự sát fantasy đến độ quặt tay ra sau gáy và bóp cò.

Đạn từ phiá sau gáy xuyên ra trước chỉ có thể xảy ra trong trường hợp nạn nhân bị bắn từ đằng sau.

Như thế, có thể nói sau khi hạ sát ông Đỗ Cường Minh, hung thủ đã đặt khẩu súng vào tay ông Minh như tang chứng của vụ ám sát và tự sát.

– Khi cuộc điều tra chưa được tiến hành, dấu vân tay trên khẩu súng chưa được điều tra, những thủ tục khám nghiệm tử thi chưa được thực hiện, thế mà việc khâm liệm chôn cất các ông Phạm Duy Cường và ông Đỗ Cường Minh đã được tổ chức vội vàng nhanh chóng, điều này thật khó hiểu!

– Người dân ở 4 tỉnh miền Trung bị chất độc hại của Formosa sống dở chết dở nhiều tháng nay không thấy bóng ông Phúc đâu, bỗng dưng ông Phúc đã nhanh chóng có mặt tại hiện trường vụ án Yên Bái để “nắm bắt và chỉ đạo” thì cũng thật khó hiểu!

Liệu có kẻ thứ tư ?

Lúc đầu công an Yên Bái không định truy tố, nhưng sau cùng quyết định là phải truy tố để tìm ra nguyên nhân vụ án, vì những dữ kiện được nêu ra trên báo chí không mấy thuyết phục.

Đó là những dữ kiện liên quan cái chết của ông Đỗ Cường Minh, công an cho là thủ phạm và đã tự bắn vào đầu, nhưng Bác sĩ Vàng À Sàng thì nói là bị một viên đạn từ gáy ra trước.

Chưa điều tra lại cho là thủ phạm và nói thủ phạm tự tử mà không có bất cứ bằng chứng nào, trong khi Bác sĩ khám nghiệm vết thuơng lại cho thấy là không phải do hành động tự sát.

Như vậy, vụ án Yên Bái có kẻ thứ tư xuất hiện. Tức là người đã dàn dựng ra cuộc “nổ súng” và cũng là người kết liễu cuộc đời của người gọi là thủ phạm.

Liệu cuộc truy tố của công an Yên Bái có tìm ra kẻ thứ tư hay cuối cùng đóng hồ sơ với thủ phạm Đỗ Cường Minh?

Nguyễn Thị Xuân Lộc /(CTM Media)

THÔNG TIN TRÁI CHIỀU VỀ VIỆC NỔ SÚNG Ở YÊN BÁI

NGƯỜI BUÔN GIÓ/ BVB 22-8-2016

Ngày 18 tháng 8 năm 2016 tại văn phòng tỉnh uỷ tỉnh Yên Bái, chi cục trưởng kiểm lâm Đỗ Cường Minh đã dùng súng ngắn K59 của Nga bắn chết bí thư tỉnh uỷ Phạm Duy Cường và chủ tỉnh hội đồng nhân dân, kiêm trưởng ban tổ chức tỉnh uỷ, Ngô Ngọc Tuấn. Lúc ban đầu tin cho biết hai người bị bắn tại hội trường, nhưng sau đó tin cải chính hai ông Cường và Tuấn bị bắn chết tại phòng làm việc. Sự việc được cho là diễn ra lúc 7 giờ 45 phút, trước cuộc họp của hội đồng nhân dân tỉnh Yên Bái họp bàn về điều động nhân sự.
Trong vụ họp báo buổi chiều cùng ngày, ông thiếu tướng , giám đốc công an tỉnh Yên Bái ông Đặng Trần Chiêu tuyên bố vì hung thủ đã chết, nên không khởi tố vụ án. Nhưng chỉ một lúc sau, nhận chỉ thị từ Bộ Chính Trị, ông Đặng Trần Chiêu lại tuyên bố sẽ khởi tố vụ án, lý do ông đưa ra đây là vụ việc phức tạp, còn có nhiều liên quan.
H1
H1
Hầu hết các báo lúc đầu đều đưa tin hai ông Cường và Tuấn bị bắn trọng thương, bệnh viện nỗ lực cứu chữa. Một tấm hình cho biết ngay khi nghe tin xảy ra vụ việc, thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã lên Yên Bái để thăm bệnh tình hai nạn nhân.
H1
Ông Vàng A Sảng giám đốc bệnh viện đa khoa Yên Bái cho báo VnExpress biết, hai ông Cường và Tuấn mỗi ông bị bắn ba phát vào ngực và bụng, tử vong trước khi nhập viện.
Vậy khi thủ tướng Phúc đến thăm hai ông Cường và Tuấn, là thăm xác chết? Bài trên báo Thể Thao Văn Hoá còn nói rõ ông Phúc đến bệnh viên thăm và chỉ đạo các bác sĩ nỗ lực cứu chữa hết mình.
Các báo đều thống nhất đưa tin ông Minh bắn 8 phát súng chia đều cho hai ông Cường, Tuấn mỗi ông 4 viên. Vậy như lời ông Sảng nói, còn 2 viên đạn đã bắn đi đâu?
H1
Thông tin đáng chú ý nhất là đông cơ của việc giết hai quan chức đầu tỉnh này của Đỗ Cường Minh lại được VTV, tức truyền hình nhà nước VN nói rằng ông Minh bị thần kinh. Nhưng tại sao một người thần kinh lại lặng lẽ đi vào từng phòng những người cấp trên trực tiếp, có quyền quyết định về chức vụ của mình để lặng lẽ bắn hạ từng người một, trước phiên họp sẽ công bố quyết định thuyên chuyển nhân sự và cắt giảm nhân sự?
Tại sao ông Minh không bắn ai khác mà lại chỉ bắn đúng hai người sắp thông báo quyết định nhân sự có liên quan đến ông ta như vậy?
Một chi tiết nữa được các báo đưa lên rồi hạ xuống, đó là việc ông Minh bị một phát đạn bắn đằng sau gáy xuyên ra đằng trước, bài báo Tiền Phong chỉ mô tả đường đi viên đạn. Chi tiết này sau đó được diễn giải bằng việc ông Minh tự sát bắn vào đầu mình. Từ đằng sau gáy, một tư thế bắn tự sát thật khó tin.
H1
Ông Đỗ Cường Minh ngay hồi đầu năm 2016 có trả lời phỏng vấn truyền hình Yên Bái về tình trạng bảo vệ rừng, ông nói lưu loát, không cần nhìn bất kỳ giấy tờ, văn bản nào. Bố vợ ông Minh từng là bí thư tỉnh Yên Bái, vợ ông cũng là một quan chức cấp cao trong tỉnh. Bà phó bí thư tỉnh Yên Bái Phạm Thị Thanh Trà thông tin cho dư luận biết rằng ông Minh là người hiền lành, hoà đồng, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, được tín nhiệm giới thiệu tiếp tục giữ chức vụ hiện nay.
Nhưng nếu ông Minh không bất đồng về việc chuyển nhân sự, thì tại sao ông phải bắn hai người có quyền thuyên chuyển trước buổi họp ra quyết định như vậy?
Rõ ràng mâu thuẫn của ông Minh với ông Cường Bí Thư và ông Tuấn tổ chức là tại việc thuyên chuyển, cắt giảm nhân sự theo nghị quyết 39 của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Nguyên nhân chính của sự việc nằm ở đây. Nghị quyết 39 dưới chiêu bài tinh giảm biên chế, nhưng thực ra là sát nhập một số cơ quan vào với nhau, qua đó để tăng cường sự quản lý của Đảng. Nói nôm na, đây là chiêu trò để tăng quyền lực vào tay Đảng, tức các bí thư và cao nhất là tổng bí thư. Một thủ đoạn khéo léo để thâu tóm quyền lực êm ái của Nguyễn Phú Trọng. Khi thực thị nghị quyết này, những nhân sự nào kháng cự lại sự tập quyền của đảng sẽ bị thanh trừng dưới mỹ từ là tinh giảm biên chế.
Vụ thảm sát cán bộ cấp cao Yên Bái đã giáng một đòn rất nặng vào toan tính duy trì chế độ Đảng uỷ tập quyền mà cụ thể là quyền lực vào tay bí thư của Nguyễn Phú Trọng. Là người có bằng tiến sĩ xây dựng Đảng và đang tiến hành công cuộc xây dựng Đảng. Nguyễn Phú Trọng hẳn nhiên phải là người chiụ trách nhiệm nhiều nhất trong vụ việc này. Bởi tính giáo điều, không nhìn nhận thực tế là cán bộ đảng viên các cấp coi nhau như kẻ thù, như chính bản thân ông ta coi đối thủ chính trị từng là đồng chí của mình như kẻ thù. Nhìn lại những cái chết của Phạm Quý Ngọ, Nguyễn Bá Thanh trước kia  và của Phạm Duy Cường, Ngô Ngọc Tuấn ngày hôm nay đều có nguyên nhân là từ những quyết định xây dựng Đảng CSVN của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng mà ra.
 Một khi mâu thuẫn về nhân sự căng thẳng đến mức các quan chức đầu tỉnh hạ sát nhau như vậy, ai cũng có thể thấy rằng chính trường Việt Nam trong tương lai tới đây sẽ còn nhiều bất ngờ gay cấn.
VỤ ÁN YÊN BÁI: CUỘC ĐẤU ĐÁ QUYỀN LỰC ĐANG ĐẾN HỒI GAY CẤN NHẤT
PHẠM NHẬT BÌNH/ BVB 24-8-2016

Cho đến nay, câu chuyện một Chi cục trưởng Kiểm lâm dùng súng được nhà nước cấp, hạ sát cùng lúc hai viên chức cao cấp nhất của tỉnh Yên Bái vẫn còn là đề tài nóng cho dư luận bàn tán xôn xao. Chính nhân vật đang giữ chức chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái, bà Thanh Trà cũng phải thú nhận trong cuộc họp báo: “Đây là vụ việc rúng động chưa từng xảy ra ở đất nước chúng ta.

Sự kiện cán bộ kiểm lâm bắn chết Bí thư Tỉnh và Trưởng ban Tổ Chức tỉnh cũng đã làm trung ương đảng CSVN chấn động. Vì đây gần như là lần đầu tiên diễn ra cuộc nổ súng giữa những cán bộ cấp cao của một tỉnh. Nó không chỉ nghiêm trọng về mức độ giết người lạnh lùng mà còn nghiêm trọng ở chỗ cho thấy cuộc đấu đá quyền lực của nội bộ đảng CSVN đang tới hồi gay cấn nhất, phải giải quyết bằng vũ lực.

Với cái chết của Bí thư Tỉnh ủy và Trưởng ban Tổ chức tỉnh, hai nhân vật quyền lực nhất về nhân sự trong cấp ủy, cho thấy 3 điều có thể xảy ra sau đây chung quanh nhân vật được cho là nghi can trong vụ thảm sát nội bộ.

Thứ nhất, Chi cục trưởng kiểm lâm Đỗ Cường Minh trong quá khứ đã bị cấp trên chèn ép về trách vụ, có thể bị cách chức vì không làm hài lòng cấp trên. Có nghĩa là có mâu thuẫn về quyền lợi từ lâu trong việc làm ăn chia chác giữa Minh và những tay đầu não trong tỉnh. Cũng có dư luận cho rằng một phần do công tác tổ chức cán bộ, việc sáp nhập Chi cục Kiểm lâm và Chi cục Lâm nghiệp làm một khiến Minh bị bất lợi trong chức vụ dẫn tới phẫn uất và tìm cách thanh toán hai xếp lớn.

Thứ hai, do chức vụ của mình trong ngành lâm nghiệp, Minh có dính líu đến những băng nhóm phá rừng, buôn bán gỗ lậu bị tỉnh khám phá. Ai cũng biết, đa số nhân viên kiểm lâm từ trước đến nay không những chỉ có nhiệm vụ gìn giữ rừng mà bên trong còn thông đồng với “lâm tặc” để cùng nhau tàn phá rừng, ăn chia trên từng thước khối gỗ. Lâm tặc không thể hoành hành nếu không có thông đồng và bao che của lực lượng kiểm lâm và các viên chức đứng đầu tỉnh. Có thể ông Minh lem nhem tiền bạc, hay ăn chia không đồng đều với cấp trên nên khi bị đe dọa truy tố, mất chức Minh đã ra tay trước. Một tỉnh giàu về lâm sản như Yên Bái là mảnh đất màu mỡ để những người nắm quyền lực dễ dàng thực hiện hai chữ đầu của câu nói “tiền rừng, bạc biển”… Đó cũng là lý do để các phe phái tranh giành nhau quyết liệt nhất.

Thứ ba, tuy là một tỉnh miền núi nhưng bộ máy cầm quyền không khác trung ương, cũng năm bè bảy mối chia chác quyền lợi để một phần bỏ túi riêng, một phần phục vụ cấp cao hơn. Có thể ở đây, trong cấp ủy đảng Yên Bái, chi cục trưởng nằm trong một băng nhóm làm ăn khác với băng Bí Thư. Mặc dù làm ăn bất chánh nhưng hai bên cũng đã có sự tranh chấp quyền lợi công khai hoặc ngấm ngầm trong nhiều năm. Sự tranh chấp ấy đến nay không còn đường giải quyết theo cách thông thường nên cuối cùng ông Chi Cục Trưởng sợ bại lộ, phải giết Bí Thư và tự sát để cứu băng đảng của mình. Phải chăng cũng chính vì vậy mà ngay sau khi nội vụ xảy ra, đích thân Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc phải về tận Yên Bái để trấn an cán bộ và kêu gọi đoàn kết.

Nhưng đây cũng chưa phải là lần đầu tiên súng đạn được dùng đến trong bối cảnh một đất nước có quá nhiều bất công và nạn cướp bóc trắng trợn của của chế độ. Hơn một lần nông dân Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng đã nổ súng vào đoàn quân cưỡng chế của chính quyền địa phương và anh Đặng Ngọc Viết bắn 5 cán bộ nhà đất tại Trung tâm phát triển quỹ đất Thành phố Thái Bình. Nay đến phiên chính những người cộng sản thanh toán lẫn nhau.
– Cuộc chiến nội bộ mà ông Trọng đang cảnh báo là một cuộc chiến có thật chứ không chỉ là những vụ tham ô nhũng lạm bình thường như trước đây. Ngay trong thời gian diễn ra Đại Hội 12, những cuộc đấu đá không khoan nhượng trên thượng tầng lãnh đạo giữa một bên là phe Nguyễn Phú Trọng một bên là phe Nguyễn Tấn Dũng để giành giật quyền lực đã diễn ra không che đậy và là một đề tài được bàn tán công khai. Sau khi đại hội kết thúc, với thắng lợi về phe Trọng, nay cuộc chiến ấy đang từ từ lan tới các địa phương. Chắc chắn nó sẽ tạo ra những mâu thuẫn trầm trọng trong nội bộ các cấp ủy và sẽ làm đảng tan rã từng phần.Cho dù điều nào xảy ra, cái chết của 3 cán bộ đảng tại Yên Bái đã báo hiệu hai điều:

Ông Nguyễn Phú Trọng và ông Nguyễn Tấn Dũng tại Đại hội đảng 12. Ảnh: AP

Hiện nay, cuộc chiến ấy không còn mang tính chất phân hóa nội bộ mà đã chuyển sang thế đối đầu một mất một còn giữa các phe. Mâu thuẫn lợi ích nhóm đang làm bùng nổ những cuộc thanh toán ngấm ngầm hoặc công khai, điển hình như các cuộc đấu tố khai mào đối với Trịnh Xuân Thanh và hai cha con Vũ Huy Hoàng, Vũ Quang Hải. Lợi ích càng to mâu thuẫn càng lớn và các cuộc thanh trừng càng dữ dội, quyết liệt. Đảng viên công khai hạ sát cấp ủy đảng để giải quyết mâu thuẫn cho thấy đã đến lúc cái gọi là “tình đồng chí” nay trở thành mối hận thù không đội trời chung dù được phủ dưới lớp một sơn bóng bảy.

Những phát súng từ Yên Bái vừa qua trong văn phòng đảng ủy, chính là tiếng súng báo hiệu cuộc nội chiến không còn đơn thuần là sự kèn cựa quyền lực mà đã chuyển sang thế đối đầu bạo lực khi không còn có thể tiếp tục “cộng sinh.”

Phạm Nhật Bình /TTHN

GIẢI MÃ BẤT  NGỜ VỤ YÊN BÁI HAY ‘CÂY RỪNG ĐÒI NỢ MÁU’

VÕ VĂN TẠO/ BVN 24-8-2016

Tiếng súng dữ dằn vô tiền khoáng hậu bất ngờ sáng 18-8-2016 ở Tỉnh ủy Yên Bái làm cả nước kinh hoàng.

Lần đầu tiên, sếp ngành cấp tỉnh chơi hàng nóng “xử” gọn các “đồng chí” cỡ Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND kiêm Trưởng ban Tổ chức tỉnh ủy, rồi tự sát. Vụ ra tay đoạt mạng nội bộ giới chức đảng còn kinh hoàng hơn phim mafia Ý, thậm chí cả vụ ám sát Tổng thống Kennedy.

Gác sang một bên chuyện tình cảm, thái độ cộng đồng mạng với vụ 3 quan chức mất mạng vì thủ tiêu dằn mặt; miễn bàn chuyện lọt đồng phạm hay không?

Xâu chuỗi những tình tiết trước đây và mới đây ở Yên Bái, có thể hiểu logic vụ việc động trời này:

1. Yên Bái là tỉnh nghèo, nhưng tài nguyên rừng rất giàu, không ít giới chức địa phương giàu nứt đố đổ vách (dãy phố nguy nga nhà quan ở Yên Bái. Bí thư Cường vừa tậu biệt thự 80 tỷ ở Hà Nội. Minh kiểm lâm chu cấp cho con du học xong Thụy Sĩ và sắp du học tiếp Anh quốc. Đưa tang Minh, xế hộp xịn nhiều như cây rừng Yên Bái) nhờ ăn của rừng mà không rưng rưng mắt. Phóng sự “Rút ruột rừng bảo tồn” gần đây của báo Lao động và VTV từng phanh phui tệ nạn này. Lâm tặc móc nối giới chức kiểm lâm và chóp bu tỉnh, đốn gỗ quý đường kính 2-3m, bỏ lại cả những khúc cây đường kính hơn 1m… Đó là nguyên nhân để cuộc tranh đua chức quyền ở Yên Bái trở nên gay gắt, quyết liệt, mang tính sống mái.

2. Minh kiểm lâm chuyên môn nhì nhằng, không phải kiểm lâm nòi, nhờ bố vợ là Bí thư tỉnh ủy trước đây, mà chuyển từ công nhân đường sắt, sang Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh, rồi nhanh chóng lên sếp kiểm lâm. Thời bố vợ Minh làm Bí thư tỉnh ủy, o ép cấp dưới là bà Trà. Nay bà Trà ngoi lên Chủ tịch UBND tỉnh, thậm chí còn là Ủy viên trung ương đảng duy nhất của tỉnh, trong ê kíp cánh hẩu cùng đương kim Bí thư Cường và Chủ tịch HĐND kiêm Trưởng ban Tổ chức tỉnh ủy Tuấn, nắm cơ hội nghìn năm có một ra ân báo oán (hút chết, chiều 18-8, họp báo vụ thanh toán, bà Trà chưa hết run). Họ muốn “dọn” Minh, nhân chủ trương sáp nhập Chi cục Kiểm lâm với Chi cục Phát triển lâm nghiệp, dành ghế béo bở cho kẻ “biết điều” khác.

3. Minh được giới chức tỉnh và láng giềng đánh giá hiền lành, nhưng cục tính. Dễ hiểu vì sao, mất ghế béo bở trong lúc được coi là “hoàn thành tốt nhiệm vụ”, Minh không chấp nhận nhịn êm, chọn đường chơi sát ván.

4. Đơn giản: “đồng chí không bằng đồng tiền”. Quyền đẻ ra tiền. Cả 3 đều quan chức có hạng trong guồng máy nô dịch, áp bức bóc lột, tha hóa thối nát hắc ám, dễ hiểu vì sao dân chúng không những không thương xót, lại có phần hân hoan.

V.V.T.

Xem thêm:

Phóng sự phá rừng Yên Bái:
https://youtu.be/j61nv9faa4c

Đưa tang Minh kiểm lâm
https://youtu.be/j8R48ApRxa4

 

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Tám 21, 2016

20160821. BÀN VỀ ‘XIN LỖI’

ĐIỂM BÁO MẠNG

BÀN VỀ XIN LỖI

 “Bớt củi đáy nồi” và lời xin lỗi chân thành của Thủ tướng!

XUÂN DƯƠNG/ GD 19-8-2016

Thủ tướng trong chuyến thăm phố cổ Hội An vừa qua (Ảnh: chinhphu.vn).

Sáng 17/8/2016, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chủ trì hội nghị trực tuyến với 63 tỉnh thành sơ kết công tác cải cách hành chính giai đoạn 2011-2015 và triển khai kế hoạch cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2016-2020.

Đề cập đến chuyện đoàn xe công vụ chạy theo phía sau khi Thủ tướng đi bộ trong phố cổ Hội An, người đứng đầu Chính phủ đã lên tiếng:

Thủ tướng đi vào đường phố đã đi bộ trước hàng cây số rồi, xe ôtô vẫn đi phía sau, Thủ tướng không biết. Nhưng khuyết điểm đó vẫn có trách nhiệm của Thủ tướng trong việc quán xuyến, cũng phải xin lỗi người dân để người dân thông cảm”.

Chuyện xe biển xanh 80A, 80B… chạy vượt đèn đỏ ai cũng biết, cảnh sát giao thông càng biết nhưng bao nhiệu vụ bị xử lý?

Năm 2012, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa 13, ông Nguyễn Tấn Dũng, khi đó là Thủ tướng Chính phủ đã phát biểu:

Với trọng trách là ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ, tôi nghiêm túc nhận trách nhiệm chính trị lớn của người đứng đầu Chính phủ và xin thành thật nhận lỗi trước Quốc hội, trước toàn Đảng, toàn dân về tất cả những yếu kém, khuyết điểm của Chính phủ trong lãnh đạo, quản lý, điều hành, nhất là những yếu kém, khuyết điểm trong kiểm tra, giám sát hoạt động của tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước…”.
Đâu là nguyên nhân khiến Thủ tướng đương nhiệm “xin lỗi” dân, còn Thủ tướng mãn nhiệm “nhận lỗi” với dân?Giữa  “xin lỗi” và “nhận lỗi” có đôi chút khác biệt. “Xin lỗi” là thừa nhận lỗi do mình gây ra, “nhận lỗi” là nhận về mình “phần lỗi” có thể do mình, cũng có thể do người có liên quan đến mình gây ra.

Lỗi do cấp dưới chưa làm tròn chức trách, lỗi còn bắt nguồn từ công tác cán bộ, từ thói quentìm người nhà, không tìm người tài”.

Thủ tướng nhận lỗi không có nghĩa là cấp dưới hết lỗi, những người gây ra lỗi phải bị kỷ luật để làm gương.

Điều người dân ghi nhận là Thủ tướng đã nhận lỗi về mình, đã xin lỗi dân, đó không phải là điều dễ gặp khi không ít cán bộ, trong đó có cả lãnh đạo cao cấp chưa làm đúng pháp luật, chưa phát ngôn chuẩn mực nhưng lại không hề có lời xin lỗi đối tượng bị ảnh hưởng.
Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Đỗ Mạnh Hùng xác nhận lỗi của Quốc hội khi thông qua Bộ luật Hình sự cuối năm 2015.Không chỉ Chính phủ, ngay Quốc hội cũng không tránh được sai sót.

Ông Đỗ Mạnh Hùng cho rằng:

Việc Quốc hội có tổ chức xin lỗi người dân hay không sẽ được quyết định trên cơ sở làm rõ trách nhiệm của tập thể và cá nhân liên quan”. [1]

Xin lỗi là việc làm bình thường khi mắc lỗi, vấn đề quan trọng hơn là sau khi xin lỗi sẽ khắc phục như thế nào?

Cùng lúc với việc Thủ tướng xin lỗi dân, phát biểu tại phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân nói:

Chúng ta thường có tình trạng làm xong rồi là rút kinh nghiệm và sợi dây này nó dài từ năm này tháng nọ, rút hoài không hết. Hôm nay lại rút kinh nghiệm nữa. Đối với dân chúng ta làm chưa hết, chưa đủ“.

Đề cập đến chuyện tái định cư, đền bù cho dân trong dự án hồ Tả Trạch (Thừa Thiên-Huế) Chủ tịch Quốc hội cho rằng: “Để người dân quá khổ 10 năm nay, trách nhiệm của bộ, ngành là thẩm định dự án quá sơ sài“.

“Để dân quá khổ 10 năm” vậy các bộ, ngành đã có ai xin lỗi dân, đã có ai dũng cảm nhận lỗi về mình?

Khái niệm “chúng ta” mà Chủ tịch Quốc hội sử dụng trong câu: “Đối với dân chúng ta làm chưa hết, chưa đủ” không dành riêng cho Trung ương mà còn bao gồm các cơ quan Đảng, Hội đồng Nhân dân, Chính quyền địa phương kể cả các tổ chức, đoàn thể, mặt trận…

Đối với dân chúng ta làm chưa hết, chưa đủ” phải chăng vì dân rất bao dung hay còn vì dân “quá hiền” dù cuộc sống trong 10 năm là “quá khổ”?

Hành động tịch thu chiếc giường nằm của một gia đình nghèo ở Thanh Hóa có phải là hành động mà Thiếu tướng Nguyễn Xuân Tỷ đã nói:

Vì sao “mức độ chịu đựng tham nhũng của người Việt Nam ngày càng tăng” – như kết luận rút ra từ đánh giá của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) về “cải thiện chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh” (chỉ số PAPI) công bố hôm 10/8/2016?“Có một đội ngũ giàu rất nhanh, cưỡi lên đầu nhân dân, còn kinh khủng hơn địa chủ, tư sản ngày xưa…”.

Liệu có phải do người dân “chán nói” hay “không dám nói, không dám viết” vì “sợ bị quy chụp” – như ý kiến của Tiến sĩ Vũ Ngọc Hoàng?

Chống tham nhũng không dựa vào dân không thể thành công, thế nhưng chỉ một việc làm cỏn con mưu sinh như dựng chòi chăn nuôi vịt hay sửa chữa, buôn bán điện thoại “cùi bắp” là có thể bị khởi tố, có thể bị án tù.

Nếu sự việc không được Thủ tướng đích thân ra chỉ thị hủy bỏ thì bao nhiêu người nuôi cá, dựng chòi nuôi vịt hay buôn “đồng nát” sẽ có thể bị tù oan?

Dân làm ăn lương thiện mà bị tù thì lấy ai cùng Đảng, Nhà nước chống tham nhũng?

Khiến cho dân tuân thủ pháp luật là nhiệm vụ của chính quyền nhưng “tuân thủ pháp luật” không có nghĩa là chịu đựng tham nhũng, không có nghĩa là 10 năm “quá khổ” mà vẫn chưa biết khi nào được giải quyết? 

Có thể thấy, lần đầu tiên một vị lãnh đạo cao cấp của Đảng, Quốc hội nói “dân quá khổ”, và cũng có thể nói lần đầu tiên Thủ tướng “xin lỗi” dân nếu không kể “nhận lỗi”.

Dân có thể vui vẻ chấp nhận lời “xin lỗi” của Thủ tướng nhưng dân chắc chắn sẽ không chấp nhận cuộc sống “quá khổ”.

Mức độ chịu đựng tham nhũng của người Việt Nam ngày càng tăng” cần phải xem là nguy cơ tiềm ẩn, gây bất ổn xã hội.

Sống trong trạng thái bức xúc cả vật chất và tinh thần, con người dễ nảy sinh các hành động bột phát.

Người lãnh đạo giỏi là người biết “bớt củi đáy nồi”, biết trừng trị một số kẻ có lỗi để răn đe nhiều kẻ khác.

Vì sao tội phạm ma túy ở Philippines ra đầu thú hàng loạt khiến nhà giam không còn chỗ chứa, đó là vì hành động nghiêm khắc mà chính quyền Tổng thống Rodrigo Duterte đang tiến hành dù vấp phải sự phản đối từ dư luận trong nước và quốc tế.
Đừng bao giờ cho rằng với kẻ tham nhũng thời nay, có thể dùng lời khuyên bảo, hay dùng biện pháp “vuốt ve” để khống chế vì trong cuộc “đi buôn” này nếu kẻ tham nhũng kiếm được lợi nhuận 300% thì có treo cổ lên, họ vẫn làm (C. Mác).Với giặc nội xâm, chỉ có thể dùng lý chứ không thể dùng tình.

Người lãnh đạo thông thái là người biết “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy trí nhân thay cường bạonhưng không phải lúc nào “đại nghĩa, trí nhân” cũng thắng được tội ác.

Một số nước phương tây bãi bỏ tội tử hình vì họ coi giết người là tội ác. Nếu xem hành động giết bọn tội phạm ma túy ở Philipines là tội ác thì chẳng lẽ cứ để chúng hoành hành khiến cả quốc đảo trở thành con nghiện?

Tương tự như vậy, nếu để những kẻ bất tài chui vào bộ máy công quyền, nếu cứ cấp dưới làm sai Thủ tướng phải xin lỗi thì các tập đoàn làm ăn thua lỗ, các dòng sông bị bức tử, các cánh rừng bị phá trụi, thực phẩm bẩn tràn lan… sẽ cần bao nhiêu lần xin lỗi của Thủ tướng?

Chuyện “Quốc gia đội sổ và báo cáo Thủ tướng” đã được đề cập, nhưng đến bao giờ mới chấm dứt tình trạng như ông Võ Kim Cự lý giải, rằng Formosa Hà Tĩnh không phải do một mình Hà Tĩnh quyết mà đã được nhiều bộ, ban, ngành và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt?
Để lãnh đạo Đảng, Nhà nước không phải “thông cảm” với dân, không phải xin lỗi dân, việc cần làm là đuổi hết cán bộ bất tài khỏi bộ máy, là trừng trị những kẻ đang ngày đêm “vun trồng” cho đất nước một tầng lớp “cường hào, ác bá” mới.Thông cảm với dân như Chủ tịch Quốc hội hay xin lỗi dân như Thủ tướng Chính phủ là việc làm cần thiết nhưng dân không chỉ mong như thế.

Không có kẻ “vun trồng” tầng lớp “cường hào, ác bá” đất nước sẽ không nhiều “trái đắng” như hiện tại.

Tài liệu tham khảo:

[1] http://dantri.com.vn/chinh-tri/quoc-hoi-xem-xet-viec-xin-loi-nguoi-dan-ve-sai-sot-cua-bo-luat-hinh-su-20160630102910391.htm

Xuân Dương
Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Tám 20, 2016

20160820. ĐẦU TƯ VÀ CHIA SẺ CHI PHÍ TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

ĐIỂM BÁO MẠNG

ĐÂÙ TƯ VÀ ‘CHIA SẺ CHI PHÍ’ TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

GS PHẠM PHỤ/ GD 20-8-2016

GS. Phạm Phụ – Tác giả bài viết. Ảnh trên Giaoduc.net.vn

(GDVN) – Hiện đã có trên 50.000 sinh viên đi du học tự túc, và chi phí xã hội hàng năm có thể lên đến khoảng 800 triệu USD.

LTS: Trong bối cảnh toàn cầu hóa, với việc gia nhập WTO của nước ta, khi giáo dục đại học không đủ sức cạnh tranh vì suất đầu tư cho nó quá thấp so với thế giới, nước ta tất yếu rơi vào  tình trạng khó khăn biểu hiện ở hiện tượng  gọi là “tỵ nạn giáo dục”, thất thoát chất xám…

Theo thông lệ quốc tế, một nước ở trình độ như Việt Nam chi phí đơn vị cho đào tạo đại học phải vào cỡ 120-150% GDP/đầu người, tức cỡ 1.200 USD năm 2009 (và khoảng 3.000USD vào năm 2014 khi GDP/đâù người 2.300USD). Chi phí đơn vị này còn tùy thuộc loại trường, loại ngành nghề đào tạo.

Theo quan niệm hiện nay trên thế giới, giáo dục đại học có đặc trưng của hàng hóa công (UNESCO), nhưng chứa đựng nhiều yếu tố của hàng hóa tư (WB). 

Người được thụ hưởng giáo dục đại học thường có thu nhập cao hơn người không được thụ hưởng, nên đầu tư cho giáo dục đại học là đầu tư cho tương lai của mình. 

Vì các đặc điểm đa dạng của giáo dục đại học, hiện nay quan niệm phổ biến trên thế giới là chi phí cho giáo dục đại học phải được chia sẻ giữa Nhà nước, người học và cộng đồng.  

Đối với giáo dục đại học Việt Nam, trên cơ sở chi phí hiện tại (tỷ lệ 3 thành phần: Nhà nước cỡ 55%, người học cỡ 42% và cộng đồng cỡ 3%), bài viết của GS. Phạm Phụ – Trường Đại học Bách khoa – Đại h Quốc gia TP. HCM) sẽ đề xuất một mô hình chia sẽ chi phí mới. 

Trong phần đầu tư cho giáo dục đại học, bài viết còn đặt vấn đề nên vay quốc tế để đầu tư cho giáo dục đại học, vì theo tính toán của các chuyên gia, với các nước có thu nhập thấp và trung bình, việc vay vốn để đầu tư cho giáo dục đại học đem lại suất thu lợi lớn hơn 10% đối với xã hội và gần 20% đối với cá nhân, còn vay vốn để đầu tư cho công nghiệp thì suất thu lợi khó đạt được 10%. 

Vay vốn quốc tế có thể tạo nên một tác động mạnh để tăng cường giáo dục đại học phục vụ cho việc phát triển nguồn nhân lực trình độ cao, vì đây chính là chỗ thắt cổ chai ngăn cản sự tiến bộ của kinh tế xã hội Việt Nam.   

Tòa soạn trân trọng giới thiệu bài viết về chủ đề này của Giáo sư Phạm Phụ.

Đầu tư cho giáo dục đại học trong bối cảnh toàn cầu hóa 

Thực chất của toàn cầu hóa là 3 luồng di chuyển tự do. Luồng thứ nhất là hàng hóa, bao gồm cả hàng hóa vật phẩm và hàng hóa dịch vụ, trong đó có dịch vụ giáo dục đại học. Luồng thứ hai là vốn. 

Khi vốn di chuyển tự do thì cơ hội đầu tư, trong đó có đầu tư cho giáo dục đại học, cũng được xem xét trên quy mô toàn cầu với gần như cùng một “giá sử dụng vốn” (cost of capital). Và luồng thứ ba là di dân. Điều này cũng có nghĩa, sẽ hình thành một thị trường nguồn nhân lực có tính toàn cầu.

Việt Nam đã tham gia WTO từ năm 2007, nghĩa là sẽ có cả 3 luồng di chuyển tự do nói trên giữa Việt Nam và các nước trên thế giới và tác động lên các loại dịch vụ trong đó có dịch vụ giáo dục đại học. 

Do đó, đại học Việt Nam nay cũng phải có đủ khả năng cạnh tranh và cũng phải biết cách cạnh tranh với đại học của nước ngoài trong việc cung cấp dịch vụ giáo dục, cả về chất lượng cũng như giá thành, cạnh tranh để có thêm nguồn lực tài chính, cạnh tranh để có thêm thầy giáo giỏi, học trò giỏi vv… Và, dĩ nhiên, tất cả đều phải trên cùng một mặt bằng giá so sánh, tính theo sức mua của đồng tiền.

Để có được khả năng cạnh tranh đó, trước hết Việt Nam cần phải có “Suất đầu tư” thỏa đáng cho giáo dục đại học. “Suất đầu tư” trong giáo dục đại học trên thế giới lại thường được biểu thị qua một chỉ số gọi là “Chi phí đơn vị” (Unit cost) – chi phí cho một sinh viên trong một năm. 

Ở Việt Nam, vào năm 2009, theo báo cáo của Bộ GD&ĐT, chi từ Ngân sách Nhà nước bình quân cho một sinh viên đại học công lập là 7,14 triệu/năm. Nếu mức học phí là 2,4 triệu/năm thì gần đúng có thể cho rằng, mức chi phí đơn vị ở ĐH công lập hiện nay là 9,54 triệu/năm, tương đương khoảng 500 – 550USD/SV – năm.

Trong khi đó, mức chi phí đơn vị từ năm 2004 – 2005, bình quân ở Mỹ đã là 22.000 USD, các nước OECD 12.000 USD, Đài Loan 7.000 USD, vv… 
Ngày nay, không thể nói chất lượng sản phẩm của tôi tương đương như của anh nhưng giá thành chỉ bằng 1/5 hay 1/3. Chính WB (2004) cũng đã có nhận xét: “Chi tiêu bình quân trên đầu sinh viên công lập (ở Việt Nam) đạt từ 53% đến 57% GDP/đầu người, con số này thấp hơn nhiều so với bình quân của 117 quốc gia trên thế giới có số liệu, khoảng 93% GDP/đầu người.Điều này có nghĩa, nếu Việt Nam tiếp tục duy trì ở mức chi phí đơn vị 500 – 550 USD, hay là khoảng 50% GDP/đn, như đã nêu ở trên, giáo dục đại học Việt Nam cũng như chính chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam sẽ không đủ sức cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa. 

Hệ quả của thực trạng trên còn là: Thứ nhất, xuất hiện một phong trào du học tự túc ở những ĐH cấp thấp mà báo chí đã gọi là “tỵ nạn du học”. 

Hiện đã có trên 50.000 sinh viên đi du học tự túc, phần lớn thuộc loại này, và chi phí xã hội hàng năm có thể lên đến khoảng 800 triệu USD, nếu so với ngân sách Nhà nước hàng năm dành cho 1,7 triệu sinh viên đang học trong nước là khoảng 500 triệu USD thì quả là những chi phí không hợp lý. 

Thứ hai, đại học Việt Nam đã bị đối xử “bình đẳng quốc gia” ngược (National Treatment), nghĩa là “phân khúc thị trường” chi phí cao của dịch vụ giáo dục đại học lại đang được dành ưu tiên cho đại học của nước ngoài đến Việt Nam. 

Và thứ ba, Việt Nam sẽ bị “chảy máu chất xám”, trước hết là ở chi phí đơn vị. Đã có hiện tượng mà thế giới gọi là “decamp” (đột ngột “tẩu thoát”) của thầy, cô giáo ở đại học theo rất nhiều dạng thức khác nhau.

Cần có mức chi phí đơn vị thỏa đáng

Vấn đề nảy sinh trước hết là, chi phí đơn vị hợp lý hiện nay nên là bao nhiêu? Nếu so sánh theo kiểu “Giáo dục so sánh” và suy luận theo cách ước tính của một số chuyên gia ở WB ta thấy, với các nước phát triển cao, tỷ lệ chi phí đơn vị/GDP đầu người chỉ cần ở mức 50 – 60%.

Với các nước phát triển trung bình, tỷ lệ này thường lại vào khoảng 80 – 100%, còn với các nước có trình độ phát triển thấp như Việt Nam hiện nay, tỷ lệ này lại cần đến khoảng 120 – 150%. 

Nghĩa là, không thể so sánh theo con số USD tuyệt đối mà cũng không thể so sánh thuần túy theo con số GDP/đầu người. Điều này cũng được rút ra từ mối quan hệ giữa chi phí đơn vị / GDP-đầu người và GDP/ đầu người như sau:


Khảo sát thực tế ở Đại học Quốc Tế – Đại học Quốc gia Tp.HCM vào năm 2009, với chi phí đơn vị khoảng 1.500 USD và Đại học Hoa Sen Tp.HCM với chi phí đơn vị khoảng 700 USD cho thấy rõ, dù điểm đầu vào chỉ ở điểm khá hoặc điểm sàn, việc tổ chức học tập ở các trường này khá tốt, sinh viên khá tự tin và hy vọng chất lượng đào tạo tốt hơn nhiều…với, vẫn là những nhà quản lý và thầy giáo Việt Nam.Vậy nếu GDP/đầu người của Việt Nam năm 2009 là 1.000 USD thì chi phí đơn vị /GDP-đầu người hợp lý sẽ vào khoảng 120% hay chi phí đơn vị = 1.200 USD (vào năm 2014 GDP/đâù người của Việt Nam khoảng 2300USD chi phí đơn vị phải vào cỡ 3.000 USD).

Tuy nhiên, đấy mới chỉ là chi phí đơn vị trung bình của nền giáo dục đại học. Trên thực tế, chi phí đơn vị hợp lý cho các ngành nghề đào tạo khác nhau cũng như chất lượng đào tạo khác nhau sẽ rất khác nhau. Tham khảo các con số thống kê của Nhật và Thái lan như ở dưới đây cho thấy rõ điều đó.

 Hình 2: Chi phí thường xuyên trong Chi phí đơn vị ở Nhật (1996).

Bảng 1: Chi phí đơn vị cho các loại trường Đại học khác nhau ở Thái Lan (2005)

STT Loại ĐH CPĐV (USD) HP trung bình (USD)
1 ĐH công, truyền thống 2.500 – 3.500 400
2 ĐH công nghệ 1.200 300
3 ĐH sư phạm 500 240
4 ĐH mở 120 70

Điều gì gánh chịu chi phí ở giáo dục đại học?

Đã khoảng 20 năm qua, khi tài chính cho giáo dục đại học đã lâm vào “cảnh cùng quẫn” (theo WB), WB đã gọi đây là “Hàng hóa cá nhân”, trong khi đó, UNESCO vẫn gọi là “Hàng hóa công cộng”. Tại sao hai tổ chức quốc tế lại gọi ngược chiều với nhau như vậy? 

Và tại sao, thực tế trong suốt 20 năm qua cũng đã diễn tiến theo xu thế của WB hơn là của UNESCO? 

Thiết nghĩ, có lẽ UNESCO đã gọi dịch vụ giáo dục đại học là “Hàng hóa công cộng” theo ý nghĩa xã hội của nó. 

Vì, theo [Cohen & Henry, 2001], giáo dục đại học là lĩnh vực đồng thời thỏa mãn hai tiêu chí cơ bản của một hàng hóa công cộng. Tiêu chí một là “tính thiết yếu” của dịch vụ, là tiền đề cho việc phát triển kinh tế xã hội và còn để tạo nên mối liên kết xã hội. 

Tiêu chí hai là nó bị rơi vào vùng “cơ chế thị trường bị thất bại” (market failure) mà biểu hiện rõ nhất của nó là “tác động ngoại biên” (Externalities) cũng như “tác động lan tỏa” (Spill-over effects) dương đối với xã hội và “thông tin bất đối xứng”.

“Tác động ngoại biên” thể hiện ở nhiều mặt, từ việc làm cho năng suất lao động xã hội cao hơn, tỷ lệ có việc làm cao hơn, tuổi thọ cao hơn, con cái mạnh khoẻ hơn, ít phụ thuộc vào trợ cấp của nhà nước hơn… cho đến tội phạm và tù tội ít hơn, đóng góp cho từ thiện nhiều hơn, v.v…, nếu có trình độ giáo dục cao hơn. 

Riêng về tác động đến tỷ lệ có việc làm cao hơn, có thể minh họa qua bảng thống kê (Bảng 1) sau đây (Michael & Kretovics, 2004). Như vậy, phụ nữ ở Ý, tỷ lệ có việc làm đã tăng từ 34% lên đến 81% nếu được giáo dục thêm từ trình độ dưới trung học phổ thông lên đến đại học và “sau” đại học. Còn các con số tương ứng của phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ là 22% và 71%.

Nước Trung bình Dưới trung học phổ thông Trên trung học phổ thông Đại học
và sau đại học
Pháp 85/70 76/57 88/76 92/84
Ý 80/50 74/34 86/67 91/81
Hàn Quốc 88/57 84/61 89/53 91/56
Nhật 95/63 87/56 95/63 97/68
Úc 86/66 79/55 89/68 92/83
Mexico 94/43 94/37 96/56 94/70
Tây Ban Nha 86/54 83/41 90/66 91/83
Thổ Nhĩ Kỳ 84/27 82/22 87/32 87/71
Mỹ 87/73 75/52 86/73 92/81

Bảng 2. Tỷ lệ (%) tham gia lực lượng lao động (2001) của
những người từ 25 đến 64 tuổi (Nam/Nữ)

Chính vì vậy, vì “tác động ngoại biên” dương của dịch vụ giáo dục cũng như chính sự “sòng phẳng” của cơ chế thị trường, ở hầu hết các nước trên thế giới Nhà nước luôn có tài trợ cho dịch vụ giáo dục đại học.

Còn thị trường dịch vụ giáo dục đại học có “thông tin bất đối xứng” vì rằng, ở đây, người mua thường được biết rất ít về loại hàng hóa dịch vụ mà họ đang mua và rất dễ lâm vào tình cảnh nhận được một chất lượng dịch vụ thấp hơn nhiều so với chất lượng mà họ kỳ vọng cũng như cái giá mà họ đã phải trả. 

Ở đây cũng khó mà ký kết được những hợp đồng về việc đảm bảo chất lượng của dịch vụ. Thị trường như vậy thường rất dễ bị tổn thương và chỉ là “thị trường của niềm tin” (Trust market, như thị trường giáo dục, y tế, trung tâm chăm sóc người già, trẻ em…), hay còn gọi là “thị trường của vận may”. 

Trong khi đó, có lẽ WB đã gọi dịch vụ giáo dục đại học là “Hàng hóa cá nhân” theo ý nghĩa kinh tế học của nó. Trong kinh tế học, người ta phân nhóm các loại hàng hóa theo hai đặc trưng.  

Đặc trưng thứ nhất là tính “loại trừ” (excludability), nghĩa là có thể ngăn cản được việc sử dụng hay không? Đặc trưng thứ hai là tính “ganh đua” (rivalry), nghĩa là khi có người sử dụng hàng hóa đó thì có làm giảm đi giá trị đối với người sử dụng khác hay không? 

Từ đó có thể nhóm thành 4 loại hàng hóa như ở Hình 3, bao gồm “Hàng hóa cá nhân”, “Độc quyền tự nhiên”, “Tài nguyên chung” và “Hàng hóa công cộng”.

Hàng hóa dịch vụ giáo dục đại học vừa có tính “loại trừ” vừa có tính “ganh đua”, (một em dành được một chỗ học trong giáo dục đại học đương nhiên loại trừ và ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ của em khác). Vì vậy, nó là “Hàng hóa cá nhân”.

Hình 3- Bốn loại hàng hóa.

GS. Phạm Phụ

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Tám 19, 2016

20160819. NGHĨ VỀ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

ĐIỂM BÁO MẠNG

VÀI ĐÁNH GIÁ NHẦM TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

NGUYỄN ĐÌNH CỐNG/ BVN 18-8-2016

Nhân dịp kỷ niệm Cách mạng (CM) tháng 8, ngoài những điều nhiều người đã biết cũng nên nhìn vào vài đánh giá và tuyên truyền nhầm, để hiểu thêm lịch sử.

Xin bắt đầu từ tháng 5- 1941, khi Đảng Cộng sản thành lập Mặt trận Việt Minh (VM) với mục tiêu: “Liên hiệp tất cả các tầng lớp nhân dân, các đảng phái cách mạng, các đoàn thể dân chúng yêu nước, cùng nhau đánh đuổi Nhật – Pháp, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập”. Tuyên bố công khai là thế, mục tiêu trước mắt là như vậy, rất tốt đẹp, rất rõ ràng, nhưng xét ra việc thực tế đã làm được, mục tiêu chính và lâu dài không hoàn toàn đúng như thế.

Đêm 9 tháng 3-1945 Nhật đảo chính Pháp. Trên đất VN không còn người Pháp cai trị. Ngày 11-3 vua Bảo Đại tuyên bố Việt Nam độc lập, xóa bỏ mọi hiệp ước đã ký với Pháp. Tháng 4-1945 giải tán triều đình phong kiến với các Thượng thư, lập Chính phủ do Thủ tướng Trần Trọng Kim đứng đầu và các Bộ trưởng. Ngày 15-8 Nhật đầu hàng Đồng minh. Ngày 17-8 Chính quyền Hà nội tổ chức mit tinh, treo cờ Quẻ Ly để chào mừng nước Việt Nam độc lập. Cuộc mit tinh này đã bị người của VM cướp đoạt, hạ cờ Quẻ Ly xuống, giương cờ đỏ sao vàng lên và kêu gọi đi theo VM. Từ trước ngày 17-8 thủ tướngTrần Trọng Kim, Bộ trưởng Hoàng Xuân Hãn đã 5 lần tiếp xúc, hội đàm với đại diện của VM tại Hà nội (Lê Trọng Nghĩa, Nguyễn Khang) với đề nghị mời người của VM tham gia Chính phủ hoặc hợp tác lập Chính phủ liên hiệp để chuẩn bị đón tiếp quân Đồng minh, nhường quyền kiểm soát phần lớn đất nước cho VM một cách hòa bình. Nhưng cả 5 lần đều bị đại diện VM từ chối với tuyên bố là VM đủ lực lượng để cướp toàn bộ chính quyền mà không cần sự hợp tác nào hết, chỉ có đấu tranh một mất một còn. Để tỏ rõ thiện chí không dùng bạo lực, chính phủ ông Kim và Bảo Đại không thành lập quân đội, không có Bộ Quốc phòng.

Ngày 19-8 VM cướp chính quyền ở Hà nội. Sau đó việc cướp chính quyền lan rộng ra toàn quốc. Việc cướp này diễn ra dễ dàng, nhanh chóng vì không gặp phải sự chống đối. Ngày 25-8 vua Bảo Đại thoái vị.

Về việc tuyên bố độc lập của Bảo Đại và sự hoạt động của Chính phủ Trần Trọng Kim hiện có 2 luồng nhận định rất khác nhau. Theo tuyên truyền của VM thì chính phủ của ông Kim chỉ là một lũ bù nhìn, tay sai cho Nhật, là bọn Việt gian bán nước. Ngược lại, theo nghiên cứu và công bố của một số sử gia độc lập thì Tuyên bố Việt Nam độc lập của Bảo Đại và Chính phủ Trần Trọng Kim có đủ cơ sở và giá trị pháp lý, Chính phủ bao gồm nhiều nhân sĩ trí thức yêu nước, có trình độ cao, có tinh thần dân tộc mạnh và đã làm được nhiều điều có ích lợi cho dân tộc. Nếu như VM không kiên quyết tiêu diệt mà hợp tác với họ thì vận mệnh đất nước có lẽ đã khác nhiều. Việc này như thế nào xin để lịch sử phán xét.

Câu chuyện vào CM tháng 8 VM đã đánh Pháp, đã đuổi Nhật để giành độc lập mà trên 70 năm qua nhiều người Việt vẫn tin và khẳng định như vậy thì thực tế lịch sử đã chỉ ra rõ ràng là không đúng. Trong thời gian diễn ra CM tháng 8 VM không hề đánh một đơn vị Pháp nào, không hề đuổi một đơn vị Nhật nào. VM quả thực đã lợi dụng được thời cơ và điều kiện rất thuận lợi để cướp chính quyền của chính phủ Trần Trọng Kim khi Pháp đã bị Nhật loại bỏ, Nhật đã đầu hàng, chính quyền hợp pháp không có quân đội, không chống lại. Hơn nữa khi CM sắp nổ ra, tổng chỉ huy quân Nhật tại VN có đề nghị với Bảo Đại và Trần Trọng Kim, rằng nếu phía VN yêu cầu thì quân đội Nhật sẽ giúp bảo vệ chính quyền và đánh tan VM. Nhưng các ông Bảo Đại và Trần Trọng Kim đã không đồng ý, cho rằng như thế là huynh đệ tương tàn, là làm đổ máu của người Việt một cách không cần thiết. Ông Kim còn đòi Nhật thả nhiều thanh niên VM bị Nhật bắt giam trước đó. Nhật đã thả họ. Trong tuyên ngôn thoái vị, Bảo Đại nêu cao tình đoàn kết dân tộc, vì tự do và hạnh phúc của nhân dân.

Ngày 2-9-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập. VM cho rằng đây là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên, có ý nghĩa lịch sử trọng đại sau gần một thế kỷ đất nước bị đô hộ. Nhưng nhiều nhà nghiên cứu lại chỉ ra rằng trước đó mấy tháng nước VN đã độc lập, đã thoát khỏi ách cai trị của thực dân Pháp. Mặc dầu lúc đó trên lãnh thổ còn có quân Nhật, nhưng Nhật không đặt chế độ cai trị, Nhật không xem VN là thuộc địa, VN có chính phủ riêng, Bảo Đại đã tuyên bố Việt Nam độc lập. Nếu cứ khăng khăng cho rằng Bảo Đại và Trần Trọng Kim bị lệ thuộc vào Nhật thì sau khi Nhật đầu hàng họ cũng đã thoát khỏi sự lệ thuộc đó và độc lập của VN được bảo đảm. Như vậy thì CM tháng 8 đã không đánh Pháp, không đuổi Nhật, càng không giành độc lập cho đất nước. Từ tháng 4-1945, và đặc biệt từ sau 15-8, nước VN đã hoàn toàn độc lập. CM tháng 8 chỉ làm một việc duy nhất là cướp chính quyền để thay đổi chế độ và bản tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh là tuyên ngôn lần thứ hai, sau tuyên ngôn của Bảo Đại.

Đảng Cộng sản đang trên đà thắng lợi thì ngày 01 tháng 11-1945 tuyên bố tự giải tán. Một số người cho rằng đây là một nước cờ khá cao của Đảng, nhằm bảo toàn lực lượng trước sự phá hoại, khủng bố của các thế lực thù địch. Nhưng nhiều nhà nghiên cứu không chấp nhận lời giải thích ấy, cho rằng đó là một sự dối trá, một nước cờ quá thấp, định dùng nó để đánh lừa chính phủ Mỹ nhưng đã không qua mắt được tình báo của họ. Nguyên do là Hồ Chí Minh biết Mỹ ủng hộ việc giải phóng thuộc địa, đặc biệt là thuộc địa của Pháp. VM đã từng xem Mỹ là bạn, đã nhận nhiều viện trợ của họ. Hồ Chí Minh cũng rất biết Mỹ không ưa gì cộng sản, vậy muốn nhận được sự ủng hộ chân thành và tận tình của Mỹ thì phải xa rời cộng sản. Nhưng rồi mưu mô dối trá tự giải tán của CSVN đã không lừa được Mỹ, cho nên Tổng thống Mỹ không trả lời những bức thư của Hồ Chí Minh liên tiếp gửi đến. Mỹ ủng hộ Pháp trở lại VN với mong muốn dùng Pháp ngăn chặn làn sóng cộng sản. Thế rồi CS VN mắc mưu Mao Trạch Đông biến Mỹ từ bạn thành thù.

Khi vận động thành lập VM, Đảng CS kêu gọi liên hiệp các tầng lớp nhân dân yêu nước, các đảng phái cùng đánh đuổi Nhật Pháp, giành độc lập. Tham gia vào VM có các đảng như: VN Quốc dân đảng, đảng Cách mệnh VN, đảng Đại Việt, đảng Hưng Việt, đảng Việt Cách. Khi VM cướp được chính quyền thì ban đầu cũng có nhường cho các đảng một số ghế trong Quốc hội, nhưng về sau các đảng khác đều bị gắn nhãn việt gian, phản động, bị tiêu diệt công khai hoặc ngấm ngầm. Ngay Đảng Dân chủ, đại diện cho doanh nhân, và Đảng Xã hội, đại diện cho trí thức được hoạt động một thời gian rồi cũng bị giải tán. Không những thế, sau này trong kháng chiến chống Pháp, trong cải cách ruộng đất, trong nhiều phong trào khác, nhiều người yêu nước đã bị hãm hại chỉ vì họ là địa chủ, tư sản hoặc có vài ý kiến bất đồng. Làm như vậy phải chăng để CS thực hiện mục đích chính là độc chiếm vai trò thống trị.

Một số người lập luận rằng nếu không có đảng CS lãnh đạo làm CM tháng 8 thì đất nước VN không có được như ngày nay. Đó là một kiểu ngụy biện. Và ngày nay của VN như thế nào, có đáng mơ ước và tự hào không? Nếu năm 1945 những người theo Đảng làm CM tháng 8 biết được tương lai của VN sau 70 năm sẽ như bây giờ, rất nhiều giá trị bị đảo ngược, nếu họ biết Tổng bí thư Đảng CSVN Nguyễn Văn Linh nói: “Biết đi với Trung quốc thì mất nước, nhưng mất nước còn hơn mất Đảng” thì liệu có bao nhiêu người hăng hái theo Đảng, hy sinh cho Đảng? Hà Sĩ Phu bình luận câu nói của ông Linh là rất dại, rất ngu, rất phản động. Thực ra rất đau xót và nhục nhã cho dân tộc vì con đường đi với Trung quốc đó đang được một số người có chức quyền ra sức thực hiện chỉ vì lợi ích nhóm của ĐCS, còn một số khá đông khác thuộc nhân dân thì vì sợ đủ mọi thứ mà chịu yên lặng, chịu hèn yếu chấp nhận sự hủy hoại, sự diệt chủng do Trung cộng gây ra cho dân Việt một cách từ thâm trầm đến ào ạt.

Nhân kỷ niệm lần thứ 71 CM tháng 8, viết ra vài sự thật đã từng ít được quan tâm hoặc bị nhầm để đóng góp vào việc hiểu thêm lịch sử.

N.Đ.C.

Tác giả gửi BVN

TỔNG KHỞI NGHĨA THÁNG 8/1945 Ở CÁC ĐỊA PHƯƠNG TRONG NƯỚC

ĐẠI TÁ ĐẶNG VIỆT THỦY/ GD 20-8-2016

Lệnh Tổng khởi nghĩa (Ảnh: daidoanket.vn).

Theo lệnh Tổng khởi nghĩa của Trung ương Đảng, của Tổng bộ Việt Minh và Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã đồng lòng đứng lên tiến hành Tổng khởi nghĩa.

Những địa phương không kịp nhận lệnh Tổng khởi nghĩa cùng căn cứ vào Chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng (Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”) mà lãnh đạo nhân dân nhất loạt vùng lên giành chính quyền.

Toàn dân nổi dậy, triệu người như một!


a) Tại các tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên:
Ý chí quật cường của dân tộc vùng lên mạnh mẽ hơn bao giờ hết!

2 giờ chiều ngày 16/8/1945, một đơn vị chủ lực của Việt Nam Giải phóng quân xuất phát từ Tân Trào tiến đánh thị xã Thái Nguyên.

Đêm hôm trước (ngày 15/8), một bộ phận khác tiến về phối hợp với các địa phương giải phóng tỉnh lỵ Tuyên Quang…

Mục tiêu tiến công của Giải phóng quân lúc này không còn là những đồn bốt, châu lỵ mà là những căn cứ chính của địch, các thị trấn, thị xã.

Lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Lúc này, thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập” là quyết tâm của các cán bộ và chiến sĩ Giải phóng quân.

Thị xã Thái Nguyên được chọn làm điểm tiến công chính của Giải phóng quân.

Đây là một đô thị quan trọng án ngữ phía Nam Việt Bắc, một bàn đạp để tràn về trung châu Bắc Bộ, một vị trí yết hầu để đổ về Hà Nội.

Sau cuộc càn quét lên khu giải phóng thất bại, quân đội Nhật ra sức củng cố thị xã Thái Nguyên thành một điểm chốt mạnh để ngăn cản thế uy hiếp của khu giải phóng.

Lực lượng địch ở đây có 400 lính bảo an với 600 súng trường, súng máy và khoảng 120 lính Nhật.

Giải phóng quân từ Tân Trào tiến thẳng về Thái Nguyên, bỏ đằng sau các đồn trại lẻ tẻ của Nhật.

1 giờ trưa ngày 19/8/1945, Giải phóng quân tới làng Thịnh Đán, phía tây thị xã Thái Nguyên thì dừng lại để chuẩn bị đánh chiếm thị xã; trên đường hành quân, lực lượng ta được bổ sung thành một chi đội 450 người.

Trong hai ngày 18 và 19/8/1945, khi Giải phóng quân đang về thị xã Thái Nguyên, thì tại đây các đội tuyên truyền xung phong, tự vệ vũ trang ở địa phương đã tăng cường hoạt động.

Nhiều đội dân quân từ các huyện lân cận mang theo dao, kiếm, giáo, mác, gậy gộc… tấp nập kéo đến cùng Giải phóng quân đánh chiếm thị xã.

Đây là lần đầu tiên Giải phóng quân tập trung nhiều quân nhất đánh vào một thị xã có đông quân địch phòng ngự trong các công sự kiên cố.

Mặc dầu về mặt số lượng, Giải phóng quân không đủ lực lượng để tiêu diệt địch, nhưng căn cứ vào tình hình đặc biệt lúc bấy giờ và tình hình kẻ địch đang bối rối, tan rã, Bộ chỉ huy quyết định hành động.

Cây đa Tân Trào (Ảnh: daidoanket.vn).

Cùng một lúc, Giải phóng quân đã nổ súng tiến công các doanh trại quân Nhật; ngay loạt súng đầu, ta đã diệt nhiều tên địch.4 giờ sáng ngày 20/8/1945, Giải phóng quân cùng nhân dân bao vây thị xã, năm giờ rưỡi sáng, ta trao tối hậu thư cho tên tỉnh trưởng. Tỉnh trưởng đầu hàng, lính bảo an nộp khí giới.

Sau hai giờ chiến đấu, Giải phóng quân ngừng bắn, đưa thư của Ủy ban khởi nghĩa buộc quân Nhật phải nộp khí giới.

3 giờ chiều, đến hạn định, quân Nhật không chịu nộp khí giới, cuộc chiến đấu lại tiếp tục. Ta chuyển dần từ đánh tập kích sang trận địa bao vây và chiến đấu trên đường phố.

Nhân dân tiếp tục dựng thêm nhiều chiến lũy, mang cơm nước, đạn dược tiếp tế cho bộ đội.

Bộ đội Giải phóng quân kết hợp xung phong với hỏa lực ba-dô-ca, lựu đạn lửa, diệt quân Nhật ở hai ngôi nhà gạch lớn trong thành phố, diệt trại hiến binh rồi bao vây chặt hai doanh trại còn lại.

Quân khởi nghĩa đã làm chủ thành phố, quân Nhật rút hết về Hà Nội.

Ngày 20/8, một cuộc mít tinh lớn được tổ chức tại trung tâm thị xã.

Ủy ban khởi nghĩa tuyên bố bãi bỏ chính quyền tay sai của phát xít Nhật, thành lập chính quyền nhân dân và bắt đầu thi hành chính sách của Chính phủ lâm thời trong thị xã và trong toàn tỉnh.

Hai chi đội Giải phóng quân 3 và 4 được thành lập.

Ở Tuyên Quang, 8 giờ tối ngày 16/8/1945, các lực lượng vũ trang, nửa vũ trang đã tập trung đông đủ ở Ỷ La trên đường Hà Giang – Tuyên Quang để tiến đánh thị xã, một cứ điểm mạnh của giặc Nhật.

Bên cạnh các chiến sĩ Giải phóng quân là các chiến sĩ tự vệ công nhân mỏ than, tự vệ các dân tộc ở thị xã và các xã lân cận; đội ngũ chỉnh tề, vũ trang bằng mã tấu, súng kíp, cuốc chim, choòng, búa, giáo, mác, tên nỏ.

2 giờ sáng ngày 17/8/1945, đoàn quân chia làm hai mũi, một mũi vòng xuống phía nam thị xã Tuyên Quang, một mũi tiến thẳng vào khu trại bảo an binh và các công sở.

Do có binh lính giác ngộ cách mạng hưởng ứng, Giải phóng quân nhanh chóng đột nhập trại bảo an binh, chiếm các vị trí trọng yếu rồi ập vào bắt tên chỉ huy, kêu gọi binh lính đầu hàng.

Cuộc chiến đấu kết thúc mau lẹ, gọn gàng; các đơn vị khác nhanh chóng chiếm các công sở trong thị xã, công chức, nhân viên đã chuẩn bị sẵn đón quân khởi nghĩa; tỉnh trưởng bù nhìn đầu hàng.

Trận tiến công doanh trại quân Nhật diễn ra rất quyết liệt.

Lực lượng quân Nhật gồm hơn một tiểu đoàn, có súng cối và cả sơn pháo; vị trí đóng quân của chúng có tường cao, hào sâu.

Quân khởi nghĩa bám từng bờ hào, nhảy cả lên mái nhà, công kênh nhau vượt tường, dùng dao, súng, mã tấu xung phong đánh quân Nhật.

Bên ngoài, nhân dân xuống đường đông nghịt, biểu tình thị uy, trợ lực cho cuộc tiến công.

Tiếng reo hò của nhân dân biểu tình vang như sấm dậy hòa lẫn tiếng súng trận làm rung chuyển cả thị xã.

Trước sức tiến công mãnh liệt của Giải phóng quân và sức uy hiếp mạnh mẽ của nhân dân khởi nghĩa, quân Nhật phải xin đàm phán nhưng khi được tin có một cánh quân của chúng đang từ Hà Giang kéo về gần tới nơi, quân Nhật lại trở mặt.

Các chiến sĩ Giải phóng quân và tự vệ công nhân lập tức tiếp tục cuộc tiến công, mở nhiều đợt xung phong mãnh liệt. Đến sáng 21/8/1945, quân Nhật rút hết về Hà Nội, Tuyên Quang được giải phóng.

Cuộc đánh chiếm các tỉnh lỵ Thái Nguyên, Tuyên Quang thắng lợi vì Giải phóng quân đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng chính trị, dùng cả quân sự, chính trị và binh vận để tiến công quân địch.

b) Tại Hà Nội:

Hà Nội nằm ở trung tâm Bắc Kỳ, một vị trí chiến lược quan trọng hàng đầu trong hệ thống phòng thủ, cai trị của Pháp và sau là Nhật ở Đông Dương; cả Pháp và Nhật đều đặt các công sở cai trị quan trọng về quân sự, dân sự ở Hà Nội cùng với việc duy trì lực lượng tay sai ở đây.

Từ năm 1940 đến đầu năm 1945, phong trào cách mạng ở Hà Nội đã có bước phát triển rõ rệt.

Lực lượng cách mạng đã đông đảo, lực lượng vũ trang đã vững vàng.

Nhân dân Hà Nội đã trải qua những bước đấu tranh từ thấp đến cao, từ đấu tranh kinh tế đến đấu tranh chính trị và có vũ trang hỗ trợ.

Mọi tầng lớp xã hội đã nhận thức con đường cứu nước của Việt Minh là đúng đắn.

Đêm 9/3/1945, Nhật nổ súng lật đổ Pháp trên toàn cõi Đông Dương. 

19/8/1945 hàng vạn nhân dân Hà Nội đã xuống đường biểu tình, khởi nghĩa vũ trang
giành chính quyền (Ảnh: daidoanket.vn).

Ngày 12/3/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta“.Việc Nhật đảo chính Pháp đã được Trung ương Đảng dự đoán từ trước.

Trên cơ sở bản chỉ thị của Trung ương, Thành ủy Hà Nội chủ trương hướng phong trào cách mạng Hà Nội vào những nhiệm vụ cụ thể:

Thứ nhất, coi các tổ chức cứu quốc là lực lượng nòng cốt cho cuộc khởi nghĩa sắp tới, vận động công nhân tăng cường đấu tranh tại các xí nghiệp lớn, quan trọng, gấp rút tổ chức huấn luyện đào tạo cán bộ về quân sự và chính trị, tranh thủ quần chúng trong các tổ chức công khai hợp pháp, mở rộng hơn nữa Mặt trận Việt Minh;

Thứ hai, gấp rút xây dựng, phát triển các đội tự vệ chiến đấu, đội tuyên truyền xung phong, đoàn thanh niên cứu quốc Hoàng Diệu, mở rộng việc bán “tín phiếu Việt Minh”, tổ chức quyên góp mua sắm vũ khí, lấy súng đạn của binh lính Pháp – Nhật, tổ chức sản xuất vũ khí thô sơ;

Thứ ba, chống khủng bố trắng của phát xít, huấn luyện nguyên tắc hoạt động bí mật cho các đoàn viên cứu quốc, phát triển cơ sở Đảng trong lính bảo an, cảnh sát thành phố, công sở quan trọng của địch để nắm tình hình;

Thứ tư, trừng trị phản động, vạch mặt phát xít Nhật, đảng phái thân Nhật và chính quyền thân Nhật.

Trung ương quyết định tăng cường cán bộ cho Hà Nội để phối hợp lãnh đạo cách mạng.

Những cán bộ Đảng viên vượt ngục Hỏa Lò trong dịp Nhật làm đảo chính đã kịp thời được bổ sung vào các tổ chức.

Ban quân sự được thành lập để chỉ đạo các đơn vị tự chiến đấu, các đội tuyên truyền xung phong. Đội danh dự đảm nhận việc trừng trị phần tử phản động, mật thám.

Đồng chí Nguyễn Khang, Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ trực tiếp chỉ đạo phong trào Hà Nội và lãnh đạo đội danh dự, ban Cán sự Thành ủy đổi là Ban Thành ủy.

Trung ương và Xứ ủy Bắc Kỳ cũng trực tiếp chỉ đạo các tổ chức ở Hà Nội như: Văn hóa cứu quốc, Ban Tài chính, Ban mua sắm vũ khí, dược phẩm.

Việc mở lớp huấn luyện quân sự chính trị tại ngoại thành các vùng Bắc Ninh, Hà Đông và tham dự lớp “Quân chính kháng Nhật” ở Chiến khu Việt Bắc cũng do Trung ương và Xứ ủy giúp đỡ.

Khi lệnh Tổng khởi nghĩa về tới Hà Nội ngày 15/8/1945, các cán bộ phụ trách cùng với đội trưởng các đội tự vệ chiến đấu, tuyên truyền xung phong triệu tập.

Tại chùa Hà, Dịch Vọng, một Hội nghị bất thường được tiến hành để kiểm tra lại lực lượng và vạch ra kế hoạch hành động theo phương châm: diễn thuyết để thu hút quần chúng, tổ chức mít tinh để thăm dò thái độ Nhật, sẵn sàng đối phó bằng lực lượng vũ trang với Nhật.

Tối 15/8/1945, đội tuyên truyền xung phong tổ chức diễn thuyết đồng thời ở ba rạp hát lớn trong thành phố: Tố Như, Quảng Lạc, Hiệp Thành. Tại đây, quần chúng nhân dân được thông báo tin Nhật đã đầu hàng và kêu gọi sẵn sàng xuống đường đấu tranh giành chính quyền.

Ở mọi nơi, mọi lúc, các báo, đài đồng loạt truyền tin Nhật đầu hàng, quân Đồng minh sẽ vào Hà Nội giải giáp quân Nhật. Bọn Nhật ở Hà Nội tỏ ra hoang mang, chán nản rõ rệt.

Cùng lúc với Hội nghị chùa Hà, cuộc họp của Xứ ủy Bắc Kỳ cũng được tiến hành tại làng Vạn Phúc, Hà Đông.

Ban Xứ ủy quyết định khởi nghĩa từng phần trong 10 tỉnh đồng bằng, thành lập Ủy ban quân sự cách mạng ở Hà Nội.

Ngay sau đó, đồng chí Nguyễn Khang, Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ ra Hà Nội phụ trách cuộc họp tại số nhà 101 phố Găm-bét-ta (nay là phố Trần Hưng Đạo) để bàn về việc giành chính quyền ở Hà Nội với tinh thần chủ động khởi nghĩa, không trông chờ vào quân Đồng minh.

Quá trình khởi nghĩa được xác định là phải có sự phối hợp giữa lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị, tránh xung đột, đổ máu trong lúc quân Nhật đang hoang mang, ngụy quyền mất chỗ dựa.

Qua nắm tình hình, Mặt trận Việt Minh ở Hà Nội biết sẽ có cuộc mít tinh lớn của Tổng hội viên chức vào ngày 17/8/1945. Việt Minh quyết định sẽ chuyển cuộc mít tinh này thành cuộc mít tinh tuần hành của quần chúng, biểu dương lực lượng cách mạng.

Chiều ngày 17/8/1945, cuộc mít tinh của Tổng hội công chức bắt đầu tại Nhà hát Lớn.

Hàng vạn quần chúng ở nội và ngoại thành đến dự, có nhiều lính bảo an, cảnh sát đến giữ trật tự; cuộc mít tinh vừa khai mạc thì cờ đỏ sao vàng xuất hiện.

Đám đông quần chúng xôn xao: “Cờ Việt Minh!”, “Cờ Việt Minh!”.

Lính bảo an, cảnh sát ngơ ngác, cả hội trường nhà hát sôi động. Các đội viên đội tự vệ dồn Ban tổ chức mít tinh vào một góc rồi chiếm lấy diễn đàn. Lá cờ đỏ sao vàng lớn từ tầng 2 Nhà hát Lớn buông xuống.

Các đội viên tuyên truyền xung phong báo tin Nhật đầu hàng Đồng minh, tuyên bố đường lối cứu nước của Việt Minh, kêu gọi nhân dân thành phố ủng hộ Việt Minh, đả đảo chính quyền thân Nhật và tay sai.

Dưới sự hướng dẫn của đội tự vệ chiến đấu, nhân dân nhanh chóng chuyển thành hàng ngũ xuống đường tuần hành. Đoàn tuần hành từ Nhà hát lớn, diễu qua phố Tràng Tiền, rồi ra bờ hồ Hoàn Kiếm.

Các khẩu hiệu: “Ủng hộ Việt Minh”, “Đả đảo bù nhìn”, “Việt Nam hoàn toàn độc lập” vang lên. Nhân dân hai bên đường nhập vào làm cho cuộc tuần hành càng thêm đông.

Đến vườn hoa Chí Linh, đoàn tuần hành có thêm binh lính bảo an. Đoàn biểu tình qua các phố Hàng Đào, Hàng Ngang, chợ Đồng Xuân, Cửa Bắc, Cửa Nam, Phủ Toàn quyền Nhật.

Đến Cửa Nam, đoàn tách ra thành những tốp nhỏ, đi về các ngả phố, các cửa ô và ra ngoại thành. Tại khu vực Hàng Ngang, Hàng Đào, Bờ Hồ, lính bảo an trong nhóm tuần hành còn bắn một loạt súng trước khi giải tán. Đến 10 giờ đêm, rải rác trong thành phố vẫn còn tiếng hô khẩu hiệu.

Tối 17/8/1945, khâm sai Bắc Kỳ xin từ chức, ban lãnh đạo Thường vụ và Xứ ủy triệu tập cuộc họp bất thường tại làng Vạn Phúc (Hà Đông).

Hội nghị nhận định: quân Nhật hoang mang đến cực điểm, lực lượng cách mạng đã ở thế áp đảo, nhân dân Hà Nội đang nóng lòng hành động, xứ ủy quyết định phát động khởi nghĩa ở Hà Nội và Hà Đông.

Từ ngày 18/8/1945, không khí chuẩn bị khởi nghĩa ở Hà Nội bừng bừng trong thành phố. Những mô tô, xe đạp của các đội viên đội tuyên truyền xung phong hoạt động rầm rộ; nhân dân tự nguyện may cờ, đón nhận tài liệu của Việt Minh, sắm sửa vũ khí thô sơ (gậy, giáo, mác, liềm), phân phát truyền đơn, dán áp phích.

Sáng sớm ngày 19/8/1945, cả Hà Nội rực màu cờ đỏ sao vàng.

Nhiều nhà máy không hoạt động, chợ vắng người, hiệu buôn đóng cửa; khắp nơi vang lên những tiếng hô khẩu hiệu: “Đả đảo chính phủ bù nhìn“, “Thành lập chính phủ Cộng hòa Dân chủ Việt Nam“, “Anh em binh lính hãy mang súng gia nhập Việt Minh“.

Từ các hướng ngoại thành, quần chúng mang theo súng ống, gậy gộc, mã tấu… vào trung tâm thành phố, tập trung ở quảng trường Nhà Hát Lớn.

Lúc 11 giờ, cuộc mít tinh bắt đầu. Trước máy phát thanh, đại diện Việt Minh đọc lời hiệu triệu của Việt Minh; khi lời hiệu triệu vừa dứt, quần chúng hô vang những khẩu hiệu rồi chuyển thành cuộc biểu tình có vũ trang theo những hướng đã định.

Ở Phủ Khâm Sai, đoàn biểu tình đập cửa, hô khẩu hiệu.

Ở Trại Bảo An Binh, bọn chỉ huy ngoan cố không chịu mở cửa cho đoàn biểu tình và trì hoãn việc đầu hàng, giao nộp vũ khí. Các chiến sĩ tự vệ phải dùng áp lực vũ trang chiếm kho vũ khí và các vị trí then chốt trong trại.

Đến 5 giờ chiều, sau khi nghe đại biểu Việt Minh thuyết phục, chúng mới rút đi.

Ở Ty Liêm phóng Bắc Kỳ, khi đoàn biểu tình đến, viên chánh thanh tra chấp nhận bảo vệ hồ sơ để bàn giao cho cách mạng. Ở Tòa thị chính, thị trưởng Trần Văn Lai đã chờ sẵn để trao công sở cho Việt Minh.

Ở các nơi khác như kho bạc, sở bưu điện, sở cảnh sát thành phố, nhà máy A-vi-a, đoàn biểu tình không gặp trở ngại gì, nắm quyền kiểm soát một cách dễ dàng.

Đến chiều tối ngày 19/8/1945, Việt Minh lần lượt giành chính quyền, làm chủ toàn thành phố. Ủy ban Quân sự cách mạng họp bàn việc tổ chức chính quyền cách mạng cấp xứ, cấp thành. Các Ủy ban Nhân dân Cách mạng cấp xã được thành lập.

Dưới sự điều hành của Ủy ban Nhân dân Cách mạng, các tổ chức công nhân cứu quốc, thanh niên cứu quốc giữ vai trò nòng cốt của cơ quan chính quyền các cấp. Công việc trước mắt của các cơ quan này là canh gác, bảo vệ, trừ gian, giữ trật tự, an ninh thành phố.

Ngày 25/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh về đến Hà Nội. Ngày 26/8/1945, một cuộc mít tinh biểu dương lực lượng cách mạng được tổ chức trước đại biểu phái bộ Đồng minh. Ngày 31/8/1945, hai đội Giải phóng quân về đến Hà Nội.

Trong quá trình thực dân Pháp cai trị Đông Dương và sau đó là phát xít Nhật, Hà Nội trở thành trung tâm quyền lực chính trị của chúng mà cụ thể là Phủ Toàn quyền Đông Dương được đặt ở Hà Nội.

Đối với dân tộc ta, Hà Nội là vùng đất kinh kỳ ngàn năm văn hiến, là trung tâm của nền văn minh Đại Việt. Vì thế, cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi ở Hà Nội là một thắng lợi to lớn, có ý nghĩa sâu sắc.

Thắng lợi cách mạng tháng Tám ở Hà Nội còn khẳng định chủ trương và đường lối chiến lược đúng đắn của Mặt trận Việt Minh; đây cũng là nguồn cổ vũ to lớn cho các địa phương khác trong cả nước vùng đứng dậy đấu tranh, giành chính quyền về tay nhân dân.

c) Tại thành phố Huế:

Huế được xem là trung tâm chính trị của mảnh đất Trung Kỳ; cùng với nhân dân Trung Kỳ và nhân dân cả nước, đồng bào Thừa Thiên – Huế luôn có mặt trong trận tuyến đấu tranh giải phóng dân tộc, tiêu biểu là trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.

Ngày 15/8/1945, phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh.

Được tin này, Thường vụ Tỉnh ủy Thừa Thiên – Huế đã triệu tập Hội nghị cán bộ toàn tỉnh, hội nghị nhất trí chủ trương phát động khởi nghĩa trong toàn tỉnh.

Không thụ động chờ lệnh của Trung ương, Hội nghị đã quyết định cho huyện Phú Lộc giành chính quyền trước nhằm rút kinh nghiệm cho các huyện khác, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho thành phố Huế tiến hành khởi nghĩa ngay sau đó.

Do đặc điểm chính trị phức tạp ở Huế, Thường vụ Tỉnh ủy đã có những cố gắng để giảm bớt sự chống phá của địch.

Việt Minh đã cố gắng giải thích chính sách của mặt trận là: “Đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân để cứu nước khỏi ách nô lệ… kêu gọi mọi người tham gia cứu nước, trước mắt tránh những việc làm có hại cho sự nghiệp giải phóng Tổ quốc mà Mặt trận Việt Minh đang tiến hành“.

Một số cán bộ Việt Minh tỉnh đã trực tiếp gặp, vận động một số yếu nhân ngả về phía cách mạng.

Một số quan chức trong chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim đã hoàn toàn nhất trí đi theo cách mạng và đề nghị cử người cùng đi xuống các đồn lính để vận động họ đi theo Việt Minh.

Riêng đối với vua Bảo Đại, Tổng lý Ngự tiền văn phòng Phạm Khắc Hòe được Mặt trận Việt Minh giao nhiệm vụ vận động thoái vị.

Ngày 17/8/1945, Nội các Trần Trọng Kim họp và ngay hôm đó vua Bảo Đại ban hành dụ số 105 gồm hai điểm chính:

Điểm thứ nhất, nhà vua sẵn sàng giao chính quyền cho Việt Minh là tổ chức đã đấu tranh nhiều nhất cho quyền lợi của nhân dân và mời các lãnh tụ Việt Minh về Huế thành lập Nội các; điểm thứ hai, vấn đề chính thể sẽ do nhân dân quyết định sau, nhà vua cam đoan sẽ làm theo ý chí của nhân dân“.

Ngày 20/8/1945, đoàn cán bộ Trung ương gồm các đồng chí Tố Hữu, Hồ Tùng Mậu và Nguyễn Duy Trinh đến Huế tham gia chỉ đạo khởi nghĩa.

Các thành viên trong đoàn cán bộ Trung ương hoàn toàn thống nhất với kế hoạch khởi nghĩa.

Ngay trong ngày hôm đó, Ủy ban khởi nghĩa được thành lập gồm đồng chí Tố Hữu (Chủ tịch), đồng chí Hoàng Anh (Phó Chủ tịch).

Tối 21/8/1945, Ủy ban khởi nghĩa phổ biến kế hoạch, giao nhiệm vụ cho các huyện, thành phố và từng cán bộ đảm nhiệm việc tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền ở Huế.

Trước sự phát triển mạnh mẽ của cao trào cách mạng trong cả nước, chính phủ Trần Trọng Kim rất hoang mang, lo sợ.

Ủy ban khởi nghĩa quyết định đẩy mạnh công tác vận động quần chúng, tích cực làm tốt công tác binh vận, ngụy vận, nhanh chóng làm tê liệt bộ máy chính quyền bù nhìn và sắp xếp kế hoạch huy động quần chúng ở các huyện, các thành phố tham gia mít tinh tuần hành.

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã đọc bản Tuyên Ngôn Độc lập (Ảnh: daidoanket.vn).

Chiều 22/8/1945, cờ đỏ sao vàng tung bay trong cơ xưởng hỏa xa, Trường Kỹ nghệ thực hành, Sở Công chánh… tất cả công nhân đồng loạt đứng lên khởi nghĩa làm chủ các nhà máy, xí nghiệp, đập tan ách thống trị của thực dân, phát xít.Các đoàn thể cứu quốc, các đội tự vệ chiến đấu có nhiệm vụ phát động quần chúng chiếm giữ cơ quan, công sở, kho tàng của chính quyền Nhật.

Tại các huyện, thực hiện quyết định của Hội nghị cán bộ toàn tỉnh ngày 15/8, từ ngày 18 đến 22, Ủy ban khởi nghĩa các huyện đã phát động quần chúng giành chính quyền thắng lợi.

Ở thành phố Huế, từ ngày 21/8, các đội tự vệ và các đoàn thể cứu quốc có trang bị vũ khí thô sơ đã giương băng cờ, biểu ngữ, biểu tình thị uy qua các đường phố.

Lính Nhật hoảng sợ không dám hành động. Chiều ngày 21/8/1945, đơn vị tự vệ khu phố Phú Bình chiếm được vòng ngoài Mang Cá.

14 giờ cùng ngày, theo lệnh Ủy ban khởi nghĩa, lá cờ quẻ ly bị hạ xuống và kéo cờ đỏ sao vàng lên.

Ngày 22/8, Ủy ban khởi nghĩa huy động quần chúng biểu tình trên các đường phố và kéo đến chiếm lĩnh các lộ, các công sở và doanh trại lính bảo an.

Đêm 22/8, trước áp lực của cuộc khởi nghĩa, Bảo Đại – vị vua cuối cùng của triều Nguyễn buộc phải thoái vị.

Đúng 18 giờ ngày 22/8, trên Đài phát thanh Huế vang lên lời tuyên bố của Bảo Đại:

Trẫm ưng làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ. Trẫm chắc rằng toàn thể quốc dân cũng một lòng hy sinh như Trẫm“.

Sáng ngày 23/8, một số công sở của chính quyền bù nhìn trong thành Nội tiếp tục bị chiếm giữ (đồn Hộ Thành, Nội Khố, cơ quan của Thủ tướng và các Bộ của chính phủ Trần Trọng Kim).

Lúc 16 giờ ngày 23/8, tại sân vận động Huế, hàng vạn đồng bào Thừa Thiên – Huế tập trung trong hàng ngũ chỉnh tề dưới rừng cờ đỏ sao vàng, dự cuộc mít tinh chào mừng khởi nghĩa thắng lợi.

Ủy ban khởi nghĩa tiến vào lễ đài giữa tiếng hoan hô vang dội cả một góc trời.

Thay mặt Ủy ban khởi nghĩa, đồng chí Tố Hữu đọc diễn văn nêu rõ ý nghĩa, tầm vóc của cuộc khởi nghĩa, tuyên bố từ nay chính quyền về tay nhân dân và giới thiệu thành phần Ủy ban Nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh do đồng chí Tôn Quang Phiệt làm Chủ tịch.

Thay mặt Ủy ban Nhân dân cách mạng lâm thời, Chủ tịch Tôn Quang Phiệt kêu gọi toàn dân đoàn kết, xây dựng và bảo vệ chính quyền nhân dân, cả thành phố thật sự sống trong ngày hội của một cuộc cách mạng đổi đời.

Sau bao nhiêu năm sống cảnh một cổ hai tròng, vừa bị phong kiến và thực dân nô dịch, nhân dân Huế đã vùng dậy, giành được chính quyền.

Thắng lợi ở Huế không chỉ đánh đổ được chế độ cai trị phát xít mà nó đã đặt dấu chấm hết cho sự tồn tại của chính quyền bù nhìn phong kiến nhà Nguyễn bao nhiêu năm tiếp tay cho kẻ thù, nô dịch dân tộc.

Thắng lợi ở Huế tạo động lực to lớn để các tỉnh miền Trung khác tiếp tục khởi nghĩa, tiếp tục đánh đổ phong kiến, phát xít, thực hiện một cuộc đổi đời lớn lao.

d) Tại Sài Gòn – Chợ Lớn:

Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ tháng 11/1940 thất bại, lực lượng Đảng Cộng Sản và cơ sở cách mạng ở Nam Kỳ bị thực dân Pháp đàn áp dã man, tổn thất vô cùng to lớn.

Sau khi Nhật đảo chính Pháp tháng 3/1945, lực lượng cách mạng ở Nam Kỳ tuy đang phục hồi dần, nhưng lực lượng của đối phương vẫn đông và mạnh hơn nhiều lần.

Nhưng dựa trên sự phân tích tình hình trên thế giới và trong nước, trước sự thất trận của quân Đức ở châu Âu và quân Nhật ở châu Á, Xứ ủy Nam Kỳ nhận định thời cơ tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong phạm vi cả nước đã chín muồi.

Vì vậy ở Nam Kỳ nói chung và ở Sài Gòn nói riêng, phải khẩn trương làm thay đổi tương quan lực lượng giữa ta và địch, gây dựng phong trào quần chúng rộng rãi hướng tới Tổng khởi nghĩa.

Chỉ trong vòng 3 – 4 tháng, hàng triệu người dân cả thành thị và thôn quê được Đảng tuyên truyền và tổ chức, sẵn sàng đứng lên.

Riêng nội thành Sài Gòn lúc này có 324 công đoàn cơ sở với 120 ngàn đoàn viên; Thanh niên Tiền phong có 80 ngàn đoàn viên, hoạt động công khai và hợp pháp.

Ngày 15/8, Xứ ủy Nam Kỳ họp, xác định thời cơ khởi nghĩa tới rồi, Nam Kỳ phải kịp thời hòa vào dòng thác Tổng khởi nghĩa của cả nước. Cần thành lập ngay một Ủy ban khởi nghĩa và bắt tay vào hành động ngay.

Nhưng khi bàn về thời điểm phát lệnh khởi nghĩa, dự kiến là đêm 17 hoặc 18/8, có một số ý kiến tuy thuộc phe thiểu số nhưng rất gay gắt phản bác. Đó là ý kiến sợ “khởi nghĩa non” như 5 năm trước, là ý kiến không cần khởi nghĩa, không cần bạo động mà đấu tranh chính trị cũng có thể đi đến độc lập dân chủ.

Trong vòng bảy ngày, Hội nghị Xứ ủy phải họp tới ba lần (tại chợ Đệm, Trung Quận). Sáng 21/8, đồng chí Trần Văn Giàu, người chủ trì cả ba cuộc Hội nghị trên, đưa ra đề nghị cuối cùng được tất cả đại biểu tán thành: Giao cho Đảng bộ tỉnh Tân An làm khởi nghĩa thí điểm, sáng 23/8 trở lại báo cáo kết quả với Xứ ủy.

Tân An là cửa ngõ quan trọng phía tây nam Sài Gòn, có phong trào quần chúng sôi nổi và được chuẩn bị khá chu đáo. Ngay trong đêm 21/8, Tỉnh ủy khẩn trương họp, ra “Nghị quyết đỏ”, tổ chức may cờ búa liềm, cờ đỏ sao vàng, tập trung các đội cận vệ đỏ từ các địa phương về thị xã.

Trong ngày 22/8, Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Trọng và Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy Lê Minh Xuân trực tiếp chỉ huy lực lượng đến tước vũ khí của lính bảo an tỉnh, thu hơn 140 súng.

Thanh niên Tiền phong thiết lập trật tự chung toàn thị xã; tên tỉnh trưởng Thạch trên đường từ Sài Gòn về bị ta đón lõng và bắt giam.

Tảng sáng ngày23/8, Ủy ban Nhân dân cách mạng tỉnh ra mắt đồng bào. Cùng lúc, một xe ô tô chở đoàn cán bộ của tỉnh lên Chợ Đệm báo cáo thắng lợi với Xứ ủy.

Xứ ủy quyết định Sài Gòn, trọng điểm của toàn Nam Kỳ, sẽ khởi nghĩa ngày 25/8.

Từ sẩm tối 24/8 đến 0 giờ ngày 25/8, các đội xung phong công nhân và thanh niên đã hoàn tất việc chiếm tất cả các cơ quan trong nội ô thành phố, không gặp trở ngại gì: từ Nhà đèn chợ Quán, Sở Mật thám, bót cảnh sát, đến Đài phát thanh, dinh Đốc lý…

Khâm sai Nam Kỳ – Nguyễn Văn Sâm và Đổng lý văn phòng Phủ Khâm sai – Hồ Văn Ngà bị giữ tại buồng ngủ của họ tại dinh Khâm sai.

Riêng Ngân hàng Đông Dương do có nhiều quân Nhật nên ta không chiếm được, vì có chủ trương không xung đột với chúng lúc này nên anh em được lệnh rút lui.

Từ nửa đêm đến tờ mờ sáng, công nhân, viên chức, nhân dân nội thành và ngoại ô bắt đầu tập hợp theo đoàn, theo giới, trương cờ, băng khẩu hiệu, trang bị vũ khí thô sơ, tiến dần vào trung tâm thành phố.

Ủy ban khởi nghĩa đứng trước một vấn đề không đơn giản là số người tham gia khởi nghĩa có thể lên tới một triệu và nhiều hơn thế (bà con ở các tỉnh lân cận xa 30 – 40km cũng đi xe đò, xe ngựa đến). Vì vậy phải có kế hoạch giữ trật tự thật chu đáo, không cho địch lợi dụng để phá phách, khiêu khích.

Từ sáng sớm ngày 25/8, cả triệu quần chúng Sài Gòn – Chợ Lớn và các tỉnh lân cận ào ạt kéo vào thành phố, quyết tâm khởi nghĩa giành chính quyền.

Đoàn người hô vang như sấm dậy khẩu hiệu: “Việt Nam hoàn toàn độc lập!“, “Tất cả về tay Việt Minh!“, “Mặt trận Việt Minh muôn năm!“, “Đảng Cộng sản Việt Nam muôn năm!“, “Độc lập hay là chết!“.

Cờ đỏ sao vàng tràn ngập đường phố, bay phấp phới hiên ngang trên các công sở.

Quần chúng như một biển người kéo về dự mít tinh, hoan nghênh Ủy ban Nhân dân Nam Kỳ. Đoàn người xếp thành hàng ngũ suốt từ đại lộ No-rô-đôm đến Sở thú, từ sau Nhà thờ Đức Bà đến bót Giếng nước, trung tâm là lễ đài đã được dựng xong từ đêm 24/8.

Lễ đài chỉ trang hoàng bằng các khẩu hiệu cách mạng.

Đồng chí Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa báo cáo việc chiếm lĩnh xong các cơ quan chính quyền địch trong đêm vừa qua, nói về ý nghĩa quan trọng của cuộc biểu tình tuần hành vũ trang ngày hôm nay và ý nghĩa của cách mạng đã nổ ra thắng lợi chẳng những ở Sài Gòn mà cả ở Hà Nội, Huế và khắp nước Việt Nam.

Đồng chí cũng không quên nhắc lại những hy sinh to lớn, anh dũng của các thế hệ cha anh đi trước để có được ngày hôm nay.

Sau đó, cuộc biểu tình vũ trang bắt đầu, đi đầu là lá cờ mặt trận và cờ Đảng, đoàn biểu tình đi theo đường Ca-ti-nat (nay là đường Đồng Khởi) về trước dinh Đốc lý.

Tại đây, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đã tuyên đọc danh sách của Ủy ban hành chính lâm thời Nam Bộ.

Đồng chí Nguyễn Lưu, Ủy viên Ban Chấp hành Tổng Công đoàn Nam Bộ đọc bản hiệu triệu của Mặt trận Việt Minh. Đồng chí Nguyễn Văn Nguyễn đọc lời hiệu triệu của Xứ ủy Nam Bộ, kêu gọi đồng bào hết lòng ủng hộ chính quyền cách mạng, dân chủ của mình, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ nền độc lập vừa giành được.

Cuộc biểu tình chấm dứt trong tiếng nhạc Lên đàng Thanh niên hành khúc.

Cuộc khởi nghĩa đã thành công nhanh chóng, trọn vẹn và không đổ máu.

Báo chí tại Sài Gòn nhất loạt đăng bài tường thuật và bình luận sự kiện lịch sử này với tất cả niềm hân hoan tự hào của một dân tộc đứng lên làm cuộc cách mạng đổi đời. Đây là một cuộc thay đổi hết sức to lớn trong lịch sử của thành phố.

Trong hoàn cảnh chưa liên lạc được với Trung ương, lực lượng địch và các phe phái phản động còn đông, Xứ ủy Nam Kỳ đã có sự nhận định tình hình đúng đắn, nhạy bén, nêu cao tinh thần dám nghĩ và tự quyết đoán, vận dụng sáng tạo nghệ thuật nắm thời cơ cách mạng và tiến hành khởi nghĩa thắng lợi.

Nói về tầm quan trọng của cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Sài Gòn, tiếp theo các cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội, Huế, đồng chí Lê Duẩn đã khẳng định:Nhờ vậy, khởi nghĩa ở Sài Gòn và Nam Bộ tháng 8/1945 đã kịp thời hòa vào làn sóng Tổng khởi nghĩa của cả nước.

“Cách mạng tháng Tám là một cuộc Tổng khởi nghĩa kết hợp tài tình đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, một cuộc nổi dậy đồng loạt ở cả thành thị lẫn nông thôn mà đòn quyết định là các cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn”.

e) Tại các địa phương khác trong cả nước:

Sau khi Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở một số trung tâm lớn trong cả nước, cách mạng tháng Tám có những bước nhảy vọt, từ những cuộc khởi nghĩa từng phần chuyển lên Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền trong cả nước.

Bão táp cách mạng cuồn cuộn dâng lên.

Toàn thể Đảng viên Cộng sản, chiến sĩ Việt Minh và nhân dân cả nước tỏ rõ ý chí quyết tâm và tinh thần dũng cảm chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, đúng như lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập“.

Khắp các địa phương trong cả nước đều diễn ra các cuộc khởi nghĩa giành chính quyền.

Tại Quảng Ngãi, ngày14/8, lệnh khởi nghĩa được ban hành, khởi nghĩa từng phần đã thắng lợi ở hầu khắp các địa phương dọc quốc lộ 1 từ Đức Phổ đến Bình Sơn, đảo Lý Sơn và châu Ba Tơ; ngày 16/8, lực lượng cách mạng đã chiếm được dinh Tỉnh trưởng và làm chủ các công sở ở thị xã; ngày 27/8, quân Nhật rút khỏi thị xã, hoàn thành việc giành chính quyền.

Tại Bắc Giang, ngày 1/6, huyện Hiệp Hòa giành được chính quyền; ngày 16/7, chiếm phủ Yên Thế; ngày 19/7, chiếm được phủ Lục Ngạn; ngày 20/7, huyện Yên Dũng giành chính quyền; ngày 18/8, tỉnh lỵ Bắc Giang (Phủ Lạng Thương) giành chính quyền; ngày 19/8, châu Yên Dũng giành chính quyền.

Tại Hải Dương, ngày 17/8, huyện Cẩm Giàng giành chính quyền; ngày 18/8, tỉnh lỵ Hải Dương giành chính quyền; ngày 20/8, tất cả các huyện lỵ đều thuộc quyền kiểm soát của lực lượng cách mạng.

Tại Hà Tĩnh, ngày 17/8, các huyện Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Can Lộc giành được chính quyền; ngày18/8, tỉnh lỵ Hà Tĩnh và các huyện Kỳ Anh, Đức Thọ giành chính quyền; ngày 19/8, các huyện Hương Sơn, Nghi Xuân nổi dậy; ngày 21/8, huyện cuối cùng là Hương Khê, giành được chính quyền.

Tại Quảng Nam, ngày 18/8, giành chính quyền ở thị xã Hội An, Tam Kỳ, Điện Bàn, Quế Sơn; ngày 22/8, giành chính quyền ở Hòa Vang; ngày 26/8, giành chính quyền ở Đà Nẵng.

Tại Thái Bình, ngày 19/8, khởi nghĩa giành chính quyền tại thị xã Thái Bình và các chuyện Quỳnh Côi, Tiên Hưng, Phụ Dực; ngày 20/8, giành chính quyền ở Duyên Hà, Thụy Anh; ngày 21/8 ở Hưng Nhân, phủ Kiến Xương; ngày 22/8 ở Vũ Tiên và phủ Tiền Hải; ngày 25/8, huyện Thư Trì giành được chính quyền.

Tại Khánh Hòa, ngày 16/8,huyện Vạn Ninh giành được chính quyền sớm nhất; ngày 17/8 là huyện Diên Khánh; ngày 19/8 tại huyện Vĩnh Xương và thị xã Nha Trang; huyện Cam Ranh giành chính quyền muộn nhất tỉnh vào ngày 22/8.

Tại Thanh Hóa, ngày 19/8 các huyện Thiệu Hóa, Thọ Xuân, Cẩm Thủy giành được chính quyền; ngày 20/8 giành chính quyền ở thị xã Thanh Hóa; ngày 21/8 ở huyện Tĩnh Gia, Nông Cống.

Sáu huyện miền núi là Quan Hóa, Bá Thước, Lang Chánh, Ngọc Lặc, Như Xuân, Thường Xuân chưa có cơ sở cách mạng nhưng chính quyền địch hoàn toàn tan rã.

Tại Bắc Ninh, ngày 17/8, huyện Tiên Du giành chính quyền thắng lợi; ngày 18/8 huyện Lang Tài, Võ Giàng; ngày 19/8 huyện Yên Phong; ngày 20/8 thị xã Bắc Ninh và huyện Thuận Thành giành chính quyền; ngày 21/8 huyện Văn Giang; ngày 22/8 huyện Quế Dương.

Tại Ninh Bình, ngày 17/8 huyện Gia Viễn giành chính quyền, tiếp đó là thị trấn Nho Quan; ngày 20/8 thị xã Ninh Bình và huyện Gia Viễn giành được chính quyền; ngày 21/8 huyện Yên Mô, Kim Sơn giành chính quyền.

Tại Sơn Tây, ngày 17/8 giành chính quyền ở huyện Quốc Oai, ngày 18/8 ở huyện Thạch Thất (Phúc Thọ); thị xã Sơn Tây giành được chính quyền ngày 20/8. Ngày 21/8 ở Tùng Thiện, ngày 22/8 ở Quảng Oai, ngày 25/8 ở Bất Bạt.

Tại Yên Bái, các cuộc khởi nghĩa từng phần diễn ra từ đầu tháng 7 đến giữa tháng 8/1945, địch chỉ còn kiểm soát được tỉnh lỵ; ngày 18/8 lực lượng cách mạng tiến vào thị xã; ngày 20/8 giành được chính quyền tỉnh.

Tại Bắc Kạn, đến tháng 8/1945, phần lớn Bắc Kạn đã được giải phóng, quân Nhật chỉ còn chiếm giữ thị xã và một vài thị trấn phủ lỵ; ngày 19/8 Phủ Thông giải phóng; ngày 20/8 quân Nhật rút khỏi thị xã; ngày 21/8 chính quyền về tay nhân dân.

Tại Nam Định, ngày 17/8, giành chính quyền ở huyện Trực Ninh; ngày 18/8 huyện Nam Trực; ngày 20/8 huyện Ý Yên, Vụ Bản, Nghĩa Hưng, Xuân Trường; ngày 21/8 thành phố Nam Định và huyện Mỹ Lộc giành được chính quyền.

Tại Nghệ An, ngày 18/8, huyện Quỳnh Lưu giành được chính quyền; ngày 19/8 huyện Hưng Nguyên; ngày 21/8, thị xã Vinh giành chính quyền thắng lợi; ngày 22/8 Nghĩa Đàn; ngày 23/8 Anh Sơn, Thanh Chương, Nam Đàn; ngày 25/8 Nghi Lộc, Yên Thành; ngày 26/8 các huyện Con Cuông, Vĩnh Hòa, Tương Dương, Quỳ Châu giành được chính quyền.

Tại Ninh Thuận, ngày 21/8, khởi nghĩa giành chính quyền ở thị xã Phan Rang và Bảo Tháp, sau đó các huyện, tổng trong tỉnh giành chính quyền.

Tại Phúc Yên, ngày 19/8, thị xã Phúc Yên và các huyện Kim Anh, Đa Phúc… tiến hành khởi nghĩa; ngày 21/8 giành được chính quyền ở tỉnh lỵ.

Tại Hà Nam, ngày 20/8, khởi nghĩa thắng lợi tại các huyện lỵ Duy Tiên, Lý Nhân, Kim Bảng; ngày 22/8 khởi nghĩa giành chính quyền ở phủ Bình Lục, Lạc Thủy; ngày 24/8 tại thị xã Phủ Lý, ngụy quyền đầu hàng và trao chính quyền cho cách mạng.

Tại Quảng Yên, ngày 24/8, lực lượng cách mạng nhanh chóng làm chủ thị xã và các huyện lỵ bởi vì bộ máy chính quyền địch ở đây đã cơ bản tan rã từ tháng 7 năm 1945.

Tại Đắc Lắc, ngày 17/8, khởi nghĩa nổ ra ở đồn điền Ca-đa rồi nhanh chóng lan rộng ra toàn tỉnh; ngày 20/8 lực lượng cách mạng đã cơ bản làm chủ thị xã Buôn Ma Thuột nhưng ngày 24/8 mới chính thức phát động khởi nghĩa giành chính quyền.

Tại Phú Yên, ngày 20/8, quần chúng nhân dân ở thị xã Sông Cầu nổi dậy khởi nghĩa; ngày 24/8 khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở tỉnh lỵ; ngày 25/8, các huyện lỵ Đồng Xuân, Tuy An, Tuy Hòa khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi.

Tại Gò Công, ngày 23/8, trước khí thế cách mạng của quần chúng, tỉnh trưởng Gò Công tự trao chính quyền cho Ủy ban dân tộc giải phóng; ngày 24/8 chính quyền cách mạng được thành lập.

Tại Bình Thuận, trước sức ép của cách mạng, chính quyền địch hoàn toàn tan rã; từ ngày 23 đến 25/8, toàn bộ chính quyền cấp tỉnh thuộc về cách mạng, sau khi thị xã Phan Thiết giành chính quyền thắng lợi, các huyện lỵ Tuy Phong, Hòa Đa, Phan Lý giành chính quyền; ngày 29/8 huyện cuối cùng giành chính quyền là Hàm Tân.

Tại Long Xuyên, ngày 24/8, thị trấn Chợ Mới khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi; ngày 25/8 giành chính quyền tại thị xã Long Xuyên.

Tại Vĩnh Long, ngày 25/8, thị xã Vĩnh Long và quận Tam Bình giành được chính quyền, ngày 26/8 giành chính quyền ở quận Trà Ôn; ngày 27/8 ở chợ Bắc; ngày 28/8, Ủy ban Nhân dân tỉnh được thành lập.

Tại Thủ Dầu Một, ngày 24/8, khởi nghĩa giành chính quyền diễn ra ở thị trấn Bến Cát, Hớn Quảng, Bà Rà, Tân Uyên, Nhà máy xe lửa Dĩ An và một số đồn điền lớn; ngày 25/8 quần chúng làm chủ thị xã Lộc Ninh, chính quyền cách mạng thành lập.Tại Bà Rịa, ngày 25/8 giành được chính quyền ở tỉnh lỵ, Ủy ban Nhân dân lâm thời tỉnh được thành lập.

Tại Bến Tre, ngày 25/8, lực lượng cách mạng làm chủ thị xã, ngay đêm đó, các quận trong tỉnh đều nổi dậy giành chính quyền.

Tại Trà Vinh, ngày 25/8, thị xã Trà Vinh và các huyện lỵ Cầu Ngang, Trà Cú, Tiểu Cần lần lượt khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.

Tại Tây Ninh, đêm 25/8, lực lượng cách mạng khởi nghĩa giành chính quyền tại thị xã và các quận lỵ khác.

Tại Sa Đéc, sáng 25/8, thị xã Sa Đéc và quận lỵ Cao Lãnh khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.

Tại Lạng Sơn, đến tháng 8/1945, hầu hết các vùng nông thôn của hai tỉnh và hai châu lỵ, hai huyện đã được giải phóng, ngày 24/8 lực lượng vũ trang tiến vào thị xã, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy giành chính quyền vào ngày 25/8.Tại Kon Tum, ngày 25/8, lực lượng vũ trang từ Gia Lai kéo sang phối hợp với quần chúng nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền ở thị xã.

Tại Phú Thọ, ngày 15/8, huyện Phù Ninh giành chính quyền; ngày 17/8 Cẩm Khê, Thanh Ba, Đoan Hùng; ngày 18/8, Yên Lập, Tam Nông; ngày 20/8, Lâm Thao, Hạc Trì, Việt Trì; ngày 22/8 Thanh Thủy; ngày 25/8 thị xã Phú Thọ giành được chính quyền.

Tại Sơn La, tháng 7/1945 Nghĩa Lộ là châu lỵ đầu tiên được giải phóng; ngày 22/7 Phù Yên; ngày 22/8 các huyện Mường La, Thuận Châu, Mường Thanh giành được chính quyền; ngày 25/8, tỉnh lỵ Sơn La khởi nghĩa giành chính quyền; tháng 10/1945, châu lỵ Mộc Châu mới giành được chính quyền cách mạng.

Tại Cần Thơ, ngày 26/8, 20 vạn nhân dân thị xã và các vùng lân cận họp mít tinh, Ủy ban dân tộc ra mắt nhân dân và tuyên bố chính quyền về tay cách mạng.

Tại Châu Đốc, ngày 22/8, thị trấn Hồng Ngự giành được chính quyền, ngày 24/8 quận Tân Châu, chiều 26/8 nhân dân thị xã Châu Đốc nổi dậy giành chính quyền, ngày 27/8, huyện Tịnh Biên và Tri Tôn khởi nghĩa giành thắng lợi.

Tại Biên Hòa, sau khi tham dự khởi nghĩa giành chính quyền ở thành phố Sài Gòn (25/8), lực lượng cách mạng của Biên Hòa kéo về giành chính quyền tại thị xã đến chiều 26/8 thì giành thắng lợi.

Tại Hòn Gai, ngày 26/8, lực lượng vũ trang kết hợp với các đơn vị vũ trang của chiến khu Trần Hưng Đạo tấn công và làm chủ thị xã, chính quyền cách mạng được thành lập.

Tại Rạch Giá, ngày 27/8, 60.000 quần chúng nhân dân từ các vùng nông thôn và nhân dân thị xã được vũ trang nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền, sau đó các quận, huyện trong tỉnh lần lượt giành được chính quyền.

Tại Đồng Nai thượng, ngày 28/8, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi tại thị xã Di Linh.

Tại Hà Tiên, ngày 28/8, khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi tại thị xã.

Như vậy, trong vòng nửa tháng (từ 14 đến 28/8) cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong phạm vi cả nước đã căn bản hoàn thành.

Chỉ còn một số tỉnh lỵ do những điều kiện khách quan nên chưa giành được chính quyền: thị xã Vĩnh Yên bị lực lượng Quốc dân đảng chiếm giữ, các tỉnh lỵ Hà Giang, Lào Cai, Móng Cái bị quân đội Tưởng Giới Thạch chiếm đóng, tỉnh lỵ Lai Châu bị tàn quân Pháp từ Lào quay về chiếm giữ.

* Tài liệu tham khảo:

– Đảng Cộng sản Việt Nam, “Văn kiện Đảng toàn tập” – Tập 7 (1940-1945), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2000.

“Năm 1945 – Những sự kiện lịch sử trọng đại”, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội – 2010.

ĐIỂM BÁO MẠNG

ĐẠI GIA CẮM SIÊU XE FERRARI VAY 5.000 USD: NGAN HÀNG HỚ NẶNG

TGT / VNN 13-6-2016

người đàn ông giàu có, đại gia, tiền gửi xe,nhà đầu tư, tài sản thế chấp, vay nợ, lãi suất, nhân viên ngân hàng, siêu xe

Đôi khi cuộc sống như một ván cờ, bạn phải luôn luôn có những sáng kiến về những bước di chuyển tiếp theo. Câu chuyện thú vị dưới đây sẽ cho bạn thấy người giàu luôn có những ý tưởng đi trước thời đại như thế nào.

Câu chuyện nói về cái kết bất ngờ của một người đàn ông giàu có đi vay tiền từ ngân hàng hơn 100 triệu đồng. Ngân hàng đã yêu cầu phải thế chấp tài sản và ông đã dùng chiếc xe Ferrari trị giá khoảng 5,5 tỷ đồng) của mình. Câu chuyện cụ thể như sau:

“Một người đàn ông tên là Bubba,sống ở Texas đang cần vay một khoản tiền nên đã đến một ngân hàng ở New York. Ông nói với nhân viên ngân hàng rằng mình sẽ đi đến Paris trong 2 tuần để dự hội thảo và cần vay 5000 USD.
Sự việc này đã khiến nhiều nhân viên ngân hàng cảm thấy khôi hài vì chiếc xe Ferrari của người đàn ông có trị giá lên tới 250.000 USD. Ông đã dùng một chiếc xe siêu đắt chỉ để vay 5000 USD. Sau đó, ngân hàng đã đưa chiếc xe của Bubba đến nhà để xe của ngân hàng.Nhân viên ngân hàng cho biết, Bubba cần có tài sản thế chấp để được vay, vì vậy Bubba đã giao chìa khóa chiếc xe Ferrari còn khá mới cho phía ngân hàng. Sau khi kiểm tra xe, ngân hàng đã đồng ý giữ lại chiếc xe như vật thế chấp và tính lãi suất cho khoản vay của Bubba.

Hai tuần sau, người đàn ông trở lại, trả 5000 USD và lãi suất 23.07 USD.

Nhân viên cho vay nói: “Thưa ông, chúng tôi rất vui vì được làm việc với ông nhưng chúng tôi có chút thắc mắc.

Khi ông rời đi, chúng tôi đã tìm hiểu về ông và phát hiện ông là một nhà đầu tư, một tỷ phú trong lĩnh vực bất động sản. Chúng tôi thắc mắc tại sao ông lại phải vay 5000 USD?”.

Người đàn ông mỉm cười rồi đưa ra câu trả lời bất ngờ: “Tôi có thể đỗ xe ở đâu khác trong thành phố New York này trong 2 tuần chỉ với 23.07 USD và nó vẫn còn ở đó khi tôi trở về chứ?”.

Câu chuyện này có kết thúc khiến cho nhiều người bất ngờ và nhân viên ngân hàng “ngã ngửa”, bởi người đàn ông giàu có đã có sáng kiến giúp tiết kiệm được chi phí gửi xe trong vòng 2 tuần một cách vô cùng thông minh, nhờ đi vay tiền lẻ của ngân hàng.

Điều đặc biệt ở đây là, không ít người cho rằng đối với một tỉ phú, người đàn ông này cho thể vung tiền thoải mái mà không cần suy nghĩ, tính toán, nhất là với khoản tiền gửi xe rất nhỏ.

Thế nhưng, để có thể thành công và có cuộc sống hưng thịnh, bạn cần phải thông minh và chăm chỉ làm việc. Không có sự thành công nào mà không cần sự chăm chỉ, sáng tạo, nhanh nhạy và có kỹ năng làm việc.

Quả thật, những người giàu, giỏi giang luôn có nhiều ý tưởng đi trước thời đại. Người đàn ông này rất giỏi khi đã một công mà đạt được đôi ba việc: Thứ nhất, có chỗ gửi xe siêu an toàn mà chỉ tốn phí rất rẻ, chẳng phai lo về bãi đậu xe hay bất cứ nhân viên giữ xe nào làm hại tới nó.

Thứ hai, ông ấy còn có trong tay 5000 USD để làm nhiều việc nhỏ nhặt mà đôi khi nó còn mang lại cho những nguồn thu bất ngờ (Chẳng hạn nếu ông đi mua bán, đầu tư, cho vay lại,..) thì chẳng phải ông ta quá có lợi hay sao.

Đừng bao giờ bó buộc suy nghĩ của mình là đi vay tiền, mượn tiền là nghèo hèn, sợ người khác xem thường. Để có thể thành công và có cuộc sống hưng thịnh thì phải suy nghĩ thấu đáo.

Đừng ngại người ta nghĩ gì, làm việc mình cho là đúng thì không có gì để xấu hổ. Tới khi bạn thành công thì giây phút bạn đi vay đó là cái đánh giá năng lực của bạn.

Do đó, khác xa với tưởng tượng của nhiều người, các tỷ phú, triệu phú lại là những người có lối sống giản dị bậc nhất: Mark Zuckerberg – ông chủ Facebook ngày nào cũng mặc áo phông xám đi làm hay nhà sáng lập Apple Steve Jobs với chiếc áo thun cổ lọ huyền thoại…

Kiểu chi tiêu vung tay quá trán như thể không có ngày mai là điều hoàn toàn xa lạ với họ.

Đối với những người giàu có, họ thường nghĩ rằng tiết kiệm là cực kỳ quan trọng. “Tiết kiệm tiền là rất quan trọng cho sự thành công về tài chính”: 88% người giàu và 52% người nghèo người đồng ý như vậy.

Thomas Corley – tác quả cuốn sách “Những thói quen giàu có” từng nói: “Sự giàu có không chỉ phụ thuộc vào việc làm ra rất nhiều tiền mà còn phụ thuộc rất nhiều vào sự tiết kiệm và tích lũy của cải.

Nhiều người trong số những người tôi nghiên cứu giàu có không phải vì họ làm ra rất nhiều tiền mà vì họ tiết kiệm được rất nhiều”, Thomas Corley nói thêm.

Vì vậy, Thomas Corley khuyên mọi người nên thấm nhuần nguyên tắc 80/20: Tiết kiệm 20% thu nhập, và chỉ nên tiêu 80%.

Điều quan trọng là hãy biết tiếp tục duy trì cách suy nghĩ và lối sống tiết kiệm, biết tính toán trong chi tiêu như nhà tỷ phú bất động sản kể trên. Điều đó không có nghĩa là chịu khổ hoặc không tận hưởng số tiền của bạn.

Đó là chiến thuật tồn tại, và là cách giúp bạn sống tốt trong những lúc lâm vào hoàn cảnh xấu nhất.

Không những thế, người đàn ông trên còn rất sáng tạo và có tư duy khác biệt. Nhiều người giàu có, thành đạt tin rằng: “Sáng tạo là rất quan trọng cho sự thành công về tài chính”.

Trong khi, hầu hết những người giàu có tin vào khả năng sáng tạo có ảnh hưởng tích cực đến thành công thì đa phần người nghèo lại nghĩ rằng là “tài năng trí tuệ” mới là điều quan trọng.

Người giàu có cũng tin rằng sự giàu có thường đến tình cờ. “Nếu bạn nhìn vào số liệu thống kê của tôi, bạn sẽ thấy rằng có rất nhiều người giàu có từng là là sinh viên trung bình.

Vì vậy, có nhiều cách dẫn đến sự giàu có chứ không chỉ phụ thuộc vào thông minh” – Thomas Corley nói.

Câu chuyện kể trên còn mang lại cho những người làm kinh doanh bài học đắt giá, đó là đừng nhìn khách hàng bằng con mắt phân biệt đối xử, hãy nhiệt tình và công bằng dù họ giàu hay nghèo.

Bởi lẽ, người lái chiếc xe Mercedes-Benz giá 4 tỷ nhưng họ có thể vay ngân hàng tới 20 tỷ, họ nghèo đấy nhưng tỏ vẻ thôi. Lấy chiếc xe ra làm niềm tin để đi vay nhiều chỗ.

Ngược lại, một người đi chiếc xe số còm, nhưng chỉ vì họ đang đầu tư bất động sản có trị giá hàng tỷ đồng. Họ chỉ đang sống tiết kiệm để có tiền đầu tư bất động sản thêm thôi.

Hay như nhà tỷ phú kể trên, phải vay ngân hàng 5000USD để đi công tác, khiến nhiều người nghi ngờ về sự giàu có của ông, cho đến khi biết được “kế sách” thông minh đến bất ngờ ấy.

Lời khuyên rút ra ở đây là: Đừng nhìn vào con người mà hãy xem xét sự việc khi đánh giá mọi chuyện.

Theo Thế giới trẻ

Older Posts »

Danh mục

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.