Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Mười 1, 2016

20161001. BÀN VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TRONG LUẬN ÁN TIẾN SĨ

ĐIỂM BÁO MẠNG

BÀN VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TRONG LUẬN ÁN TIẾN SĨ

NGÔ THẾ BÍNH 

Kết quả hình ảnh cho phương pháp nghiên cứu khoa học

 Đặt vấn đề:  Trong TT số 5/2012/ TT BGD ĐT 15/2/2012 Về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Quy chế đào tạo trình độ Tiến sĩ,  ban hành kèm theo thông tư số 10/2009/ TT BGD ĐT 17/5/2009 của Bộ trưởng Bộ GDĐT [1] thì tại Điều 30 (chương V- Luận án tiên sĩ) đã cụ thể hóa hơn các yêu cầu về chất lượng, nội dung và kết cấu của luận án tiến sĩ (LATS). Sau TT trên, một số trường và cơ sở đào tạo đã chủ động tạo ra quy chế riêng nhưng chủ yếu vẫn bám sát nội dung quy chế của Bộ GDĐT đặc biệt những điều có liên quan đến nội dung và kết cấu luận án.  Tuy nhiên trên thực tế vẫn còn khó khăn nhất định cho cả NCS lẫn người hướng dẫn về xây dựng nội dung và kết cấu luận văn sao cho đảm bảo những yêu cầu của Quy chế và phù hợp với từng chuyên ngành. Một trong những vấn đề khó khăn nhất là trình bày phương pháp nghiên cứu (PPNC). Trong khi chờ đợi sự sửa đổi quy chế hiện hành theo dự kiến của Bộ GDĐT [2], người viết bài này xin được trao đổi với NCS chuyên ngành Quản lý Kinh tế về: Định nghĩa PPNC, Những yếu tố cấu thành PPNC, Vai trò của PPNC trong LATS, Viết PPNC của LATS . Mong nhận được ý kiến hồi âm và bổ khuyết.

  Định nghĩa của PPNC trong LATS

  Theo từ điển Từ Hán Việt [3] thì phương pháp (方 ) là “lề lối, cách thức phải theo để suy nghĩ hành động nhằm đạt kết quả tốt”. Ta có thể ví dụ: Một người cần di chuyển từ địa điểm A đến địa điểm  B. Người đó có thể chọn một trong 5 con đường và một trong 3 phương tiện : xe buýt, taxi, xe máy. Như vậy phương pháp để người đó đi từ A đến B là tổng thể 2 yếu tố: đường (lề lối) và phương tiện (cách thức) với ít nhất  5×3=15 phương án kết hợp độc lập  mà chủ thể hành động di chuyển có thể lựa chọn.  Trong ví dụ này lề lốicách thức đều mang tính chất vật thể dễ nhận dạng, nhưng PPNC trong LATS có nghĩa rộng và trìu tượng hơn. Hơn nữa phương pháp không bắt buộc ‘phải theo’ mà có sự lựa chọn của chủ thể ‘suy nghĩ, hành động’ miễn sao ‘đạt kết quả tốt’ trong những điều kiện cụ thể!

   Theo tôi PPNC trong LATS cần được định nghĩa là hệ thống  yếu tố làm cơ sở cho những nhận xét và kết luận khoa học của luận án. Với định nghĩa này các yếu tố không phải là tập hợp lộn xộn mà có quan hệ tương tác phục vụ mục đích chung của luận án. Nhận xét và kết luận khoa học cần được hiểu là giúp ích cho việc tìm kiếm chân lý mới như khái niệm, bản chất, vai trò, quy luật của hiện tượng sự vật …có liên quan đến đề tài luận án.

  Nhân đây cũng cần phân biệt phương phápphương pháp luận mà trong luận án NCS hay nhầm lẫn. Phương pháp luận là lý luận về phương pháp, là hệ thống các quan điểm, các nguyên tắc chỉ đạo con người tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp trong nhận thức và thực tiễn (Theo sách “Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Marx – Lenin”). Nói cách khác, phương pháp luận là một môn khoa học về phương pháp. Phương pháp luận nghiên cứu là  khoa học phân nhánh chuyên sâu dùng trong hoạt động nghiên cứu khoa học của con người, trong đó có hoạt động làm LATS. Hiện nay phương pháp luận NCKH đã trở thành môn học bắt buộc dùng cho các lớp sau đại học và đã có nhiều giáo trình, trong đó giáo trình tiêu biểu là của PGS.TS Vũ Cao Đàm [4]-

   Những yếu tố cấu thành PPNC trong LATS

  Không thể nêu ra đầy đủ, chính xác các yếu tố cho mọi chuyên ngành khoa học, người viết xin được nêu ra các yếu tố chủ yếu áp dụng cho chuyên ngành Quản lý Kinh tế:   

  Quan điểm: Đó là ‘chỗ đứng’ để nhận xét và đưa ra  kết luận. Ví dụ khi đánh giá hiệu quả của một dự án, NCS có thể đứng trên quan điểm của nhà đầu tư hoặc nhà nước hoặc cả hai. Chú ý rằng vói định nghĩa trên quan điểm có tính chủ quan, phiến diện, nên không thể tùy tiện đưa ra quan điểm chỉ phản ánh lợi ích nhóm xấu.

  Giả thuyết:  Đó là những giải thích sơ bộ bản chất của hiện tượng sự vật có liên quan đến đề tài luận án, đòi hỏi phải được chứng minh hay phủ định. Có ý kiến cho rằng giả thuyết chỉ cần trong PPNC của LA chuyên ngành KHTN nhưng theo Engels, đã khẳng định trong Biện chứng tự nhiên: “Nghiên cứu nào cũng phải có giả thuyết. Giả thuyết chẳng qua là sự giải thích sơ bộ bản chất của sự vật”. Còn Mendeleev thì: ‘Giả thuyết có thể đúng hay sai nhưng dù sai cũng còn tốt hơn không có giả thuyết’[4]. Tôi nghĩ: Giả thuyết trong lĩnh vực quản lý kinh tế hầu như đã có sẵn trong nhiều tài liệu liên quan đến chế độ chính sách của Đảng và Nhà Nước; các công trình đã công bố trước; các giải pháp của doanh nghiệp và các tài liệu kinh nghiệm  khác… Đây là ‘kho’giả thuyết mà NCS có thể tìm kiếm đỡ mất công “mầy mò” tự đề ra giả thuyết. Có những giả thuyết mà việc khẳng định hay phủ định nó có giá trị rất cao về mặt khoa học cũng như thực tiễn. Ví dụ: “Kinh tế nhà nước có vai trò quyết định trong việc giữ vững định hướng XHCN, ổn định và phát triển kinh tế, chính trị, xã hội đất nước” [5]; Cổ phần hóa sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp nhà nước; Các giải pháp kinh tế có vai trò tích cực hơn các giải pháp giáo dục, hành chính trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm chi phí, giảm tổn thất tài nguyên; Thang lương công nhân mỏ có hệ số gián cách cao sẽ có tác dụng kích thích tăng năng suất lao động hơn thang lương có hệ số gián cách thấp, v.v…

  Cần phân biệt 2 loại giả thuyết: giả thuyết đề tài và giả thuyết nhiệm vụ. Giả thuyết đề tài là giả thuyết có quan hệ mật thiết đến tiêu đề (tittle) của LA. Ví dụ với đề tài “Nghiên cứu tác động của các giải pháp kinh tế đến giảm tổn thất than tại các mỏ than hầm lò Quảng Ninh”  thì rõ ràng phải có giả thuyết về vai trò của các giải pháp kinh tế, như là xuất phát điểm đặt đề tài nghiên cứu. Giả thuyết nhiệm vụ là giả thuyết dùng làm cơ sở giải quyết những nhiệm vụ cụ thể (mục tiêu nghiên cứu). Ví dụ: Với nhiệm vụ đánh giá tác động của Tiền cấp quyền khai thác đến chống tổn thất tài nguyên phải thống kê được tương quan giữa tỷ lệ tổn thất và giá trị tiền cấp quyền khai thác. Nhưng trong xử lý thống kê đã thường thừa nhận một giả thuyết là số liệu thu được từ các mỏ tại các thời điểm là những đại lượng ngẫu nhiên phân bố xác suất theo quy luật chuẩn (gọi tắt là phân bố chuẩn). Nếu không phải là phân bố chuẩn thì các thuật toán của phân tích tương quan không áp dụng được! Trong trường hợp này giả thuyết về phân phối chuẩn là giả thuyết nhiệm vụ.

  Cũng cần phân biệt giả thuyết và giả thiết. Giả thiết là điều kiện giả định (không thật, lý tưởng, ổn định) để nêu giả thuyết. Ví dụ vởi giả thuyết về vai trò tích cực của các giải pháp kinh tế trong giảm tổn thất than đã phải giả thiết các mỏ nghiên cứu là tương đồng về công nghệ khai thác, quy mô và tổ chức sản xuất.

  Chỉ tiêu: Chỉ tiêu là công cụ lượng hóa khái niệm nào đó phục vụ cho việc phân tích các hiện tượng sự vật có liên quan đến đề tài LA. Cấu trúc của chỉ tiêu gồm: tên gọi chỉ tiêu (vắn tắt khái niệm); Công thức tính; đơn vị tính. Ví dụ: Chỉ tiêu tỷ lệ tổn thất than trong khai thác hầm lò có công thức:

              Km =  100 Qm/ Qc ,     %                                                 (1)

Trong đó: Km–  Hệ số tổn thất, %

               Qm – Trữ lượng than trong cân đối bị mất trong quá trình khai thác với công nghệ khai thác nhất định, Tấn

                  Qc – Trữ lượng cân đối, Tấn.

Trong lý thuyết có nhiều chỉ tiêu phản ánh khái niệm “tổn thất” đòi hỏi NCS phải lựa chọn. Ngoài chỉ tiêu phản ánh khái niệm ‘tổn thất’ NCS phải đưa ra những chỉ tiêu phản ánh các nhân tố ảnh hưởng đến tổn thất như điều kiện mỏ-địa chất, công nghệ khai thác, các giải pháp kinh tế, các giải pháp hành chính, các giải pháp giáo dục.

  Thu thập và xử lý dữ liệu: Đây là yếu tố tạo ra ‘vật liệu đầu vào’ của những phân tích, nhận xét và kết luận, bảo đảm tính tin cậy và thuyết phục.  Dữ liệu là những là những thông tin cho trước mang hình thức chữ hay số; gốc hay thứ cấp  mà NCS phải thu thập và xử lý. Thu thập có nhiều cách: đọc tài liệu (trên mạng, trong thư viện); điều tra (khảo sát, phỏng vấn). Xử lý là biến các dữ liệu  thu thập mang tính cá biệt, riêng lẻ thành nhóm theo những tiêu thức nhất định, cho phép nhận xét khái quát mức độ và xu hướng phát triển của hiện tượng và sự vật theo không gian hoặc thời gian. Hình thức của kết quả xử lý là các bảng, biểu đồ hay biểu thức toán học. Chú ý rằng quy luật trong lĩnh vực kinh tế không mang tính chặt chẽ như các lĩnh vực khoa học tự nhiên, nếu kết quả xử lý tốt cũng có thể tạm gọi là quy luật.

 Phương tiện xử lý thông tin hiện đại:  Đây là yếu tố không thể thiếu khi mà khối lượng thông tin phải xử lý trong LATS ngày nay đòi hỏi lớn để cho kết quả tin cậy cao, trong khi quỹ thời gian nghiên cứu có hạn. Sở hữu máy tính hiện nay đối với NCS không còn là vấn đề! Nhưng một LATS  chỉ huy động máy tính giống như ‘máy chữ’ để ‘gõ’ văn bản thì chưa được xếp vào LATS áp dụng phương pháp xử lý thông tin hiện đại. NCS phải giải trình kết quả xử lý dữ liệu về phần mềm có sẵn hoặc tự xây dựng.

Vai trò của PPNC trong LATS

   Theo quy chế đào tạo TS hiện hành của Bộ GDĐT [1] thì “Luận án tiến sĩ phải là một công trình nghiên cứu khoa học sáng tạo của chính nghiên cứu sinh, có đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực nghiên cứu hoặc giải pháp mới có giá trị trong việc phát triển, gia tăng tri thức khoa học của lĩnh vực nghiên cứu, giải quyết sáng tạo các vấn đề của ngành khoa học hay thực tiễn kinh tế – xã hội.”; ‘ Luận án tiến sĩ có khối lượng không quá 150 trang A4, không kể phụ lục, trong đó có ít nhất 50% số trang trình bày kết quả nghiên cứu và biện luận của riêng nghiên cứu sinh’ – Rõ ràng tính mới, tính độc lập, tính sáng tạo nếu có được không thể tách rời các yếu tố PPNC trong luận án.

  Gần đây trong các cuộc hội thảo LATS tôi thấy  một vài NCS thường đối diện với ‘sự cố’ trùng đề tài theo nghĩa hầu hết các ‘từ khóa’ gần giống với các công trình đã công bố trước mà hiện nay có thể dễ dàng phát hiện trên mạng. Nhưng bản thân NCS không thể biết các công trình đã công bố có mục đích, đối tượng, nhiệm vụ và sử dụng những yếu tố PPNC gì để chững minh cho tính độc lập của LA mình. Do đó hội thảo chỉ tập trung vào sửa đổi câu chữ của đề tài. Tôi nghĩ: Mục đích cuối cùng của đào tạo trình độ tiến sĩ là tạo ra cán bộ có trình độ NCKH nhất định, đủ khả năng nghiên cứu những vấn đề không chỉ đặt ra một lần bởi LATS mà trong hoạt động NCKH tiếp tục về sau. Vì vậy cái cần ‘gặt hái’ nhất đối với NCS chính là PPNC và cơ sở đào tạo cũng nên đòi hỏi NCS ‘không phải là nghiên cứu cái gì mà bằng PPNC nào ?’

  Như trên đã trình bày, PPNC là hệ thống các yếu tố mà NCS có thể chủ động lựa chọn để đạt kết quả tốt  nhất, đồng thời tạo ra tính độc lập sáng tạo. Giả sử một đề tài được cho là trùng lặp chỉ cần có 2 trong số 5 yếu tố đã trình bày trên thì ít nhất sẽ có 10 phương án PPNC độc lập, tính theo công thức sau:

                                  C52 = 5!/ 2! (5-2)!  =10 phương án                                               (2)

Cũng cần chú ý rằng tính độc lập sáng tạo của LATS đ ươc cụ thể hóa bằng quy định trên 50% số trang chỉ mang tính hình thức và ngày nay có thể dùng những phần mêm kiểm soát ‘đạo văn’ để phát hiện (Ví dụ: Plagiarisma), nhưng tôi không tin phần mềm đó có thể đánh giá được tính độc lập sáng tạo về PPNC của LATS.

Viết PPNC trong LATS theo quy chế của Bộ GDĐT:

Theo [1] thì PPNC không cần nêu ở phần mở đầu, đồng thời đòi hỏi được trình bày tại phần tổng quan về vấn đề nghiên cứu, cũng như được trình bày tại phần nội dung của LATS (trong cơ sở lý luận ). Điều này gây ra lúng túng cho NCS . Theo tôi PPNC trong mỗi chỗ có chức năng riêng:

– PPNC tại phần mở đầu có chức năng giới thiệu chung cho luận án, được trình bày vắn tắt. Tuy không yêu cầu nhưng nên trình bày;

– PPNC trong phần tổng quan có chức năng là đối tượng của NCS trong bình luận PPNC các công trình nghiên cứu có trước, giúp ích cho việc lựa chọn PPNC của NCS;

– PPNC trong phần nội dung LA có chức năng cơ sở cho các nhận xét, kết luận mà NCS đã lựa chọn. Vì vậy để hợp lý nên trình bày PPNC trong nội dung (chương) Cơ sở lý luận của đề tài.

Tài liệu tham khảo:

1. Thông tư 05/2012/TT-BGDĐT sửa đổi Quy chế đào tạo trình độ tiến sĩ

2. Sẽ sửa Quy chế đào tạo tiến sỹ – 27-04-2016 | Giáo dục | Báo điện tử …

3. Lại Cao Nguyện (2006)-Từ điển Từ Hán Việt. NXB KHXH

4. Book – Vu Cao Dam – Phuong phap luan NCKH … – e-Learning System

5.  Đảng CSVN (2001)- Nghị quyết hội nghị lần thứ ba Ban CHTƯ ĐẢNG khóa IX về tiếp tục sắp sếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.

ĐIỂM BÁO MẠNG

ĐÂU LÀ TẾ BÀO GỐC CỦA XÃ HỘI ‘NHÓM LỢI ÍCH’

XUÂN DƯƠNG/ GD 30-9-2016

Tranh biếm phòng chống tham nhũng trên tuoitre.vn.

(GDVN) – Muốn tiêu diệt “xã hội nhóm lợi ích” thì phải tiêu diệt các “tế bào” tạo nên xã hội đó. Liệu có cơ chế nào hữu hiệu để cách ly quan trường và thương trường?

Trước đây, có nhiều ý kiến, rằng ở phương Tây khi giàu có người ta chuyển sang làm chính trị, kiểu như tỷ phú Donald Trump ra tranh cử tổng thống Mỹ, nước mình ngược lại, không ít người nhảy vào quan trường để lo “vườn-ao-chuồng” cho bản thân, con cháu.

Lo xa đề phòng lúchạ cánhbất đắc dĩ chẳng bao giờ thừa, còn nếu mà “hạ cánh an toàn” thì càng tốt!

Nhận định đó bây giờ không còn đúng nữa, bây giờ “ta” chẳng khác gì “Tây”, sau khi làm doanh nhân kiếm cả đống tiền cất trong két, người ta nhảy ùm một cái là thành Phó Chủ tịch tỉnh mà Trịnh Xuân Thanh là một ví dụ.

Dẫu sao thì ông nguyên Phó Chủ tịch tỉnh Hậu Giang cũng chỉ là một con sâu trong tập đoàn sâu mà một vị nguyên cán bộ cao cấp bên tuyên giáo gọi lànhóm lợi ích độc quyền kinh tế – chính trị”.

Khi trở thành “nhóm lợi ích” kết hợp kinh tế và chính trị, kết hợp doanh nghiệp và quan trường thì khả năng chi phối của nó là không có giới hạn, đó là sự lũng đoạn Nhà nước, bẻ cong pháp luật, đứng trên pháp luật và các nền tảng đạo đức xã hội.

Dân gian truyền miệng câu nói: “miệng nhà quan có gang có thép, đồ nhà khó vừa nhọ vừa thâm”. Ngày xưa tìm dẫn chứng minh họa cho câu miệng nhà quan có gang có thép không phải là quá khó, ngày nay thì quá dễ.
Mồm dân bị nhiễm độc thì lâu nay ai chả biết, từ thực phẩm đến thuốc men, đến cả không khí đều phải qua đó mà vào phổi, vào dạ dày; chỉ những mồm “có gang có thép” như ông quan nọ thì mới không bị “nhiễm độc”?Đó là chuyện vị quan nho nhỏ cấp phó thị xã Kỳ Anh, sau vụ Formosa đầu độc biển đã mắng mỏ truyền thông và người dân, rằng “biển nhiễm độc từ cái mồm của các bạn”?

Đó là chuyện ông Phó Chủ tịch tỉnh Nghệ An bảo đề xuất của Chủ tịch Hà Tĩnh chuyển trạm thu phí BOT cầu Bến Thủy  là “vớ vẩn”,  là “liên quan gì đến Hà Tĩnh”?

Mức “phí” ở đây cao hơn nhiều nơi khác không biết có phải do cầu này dùng toàn “thép” tốt hay nó liên quan đến Cienco4, một doanh nghiệp đã cổ phần hóa và (có thể) là sân sau của ai đó?Cầu Bến Thủy được xây bằng tiền ngân sách – tức là tiền thuế của dân, thế nhưng không hiểu sao hai năm trước tỉnh Nghệ An đã cho ghép cây cầu này với “đường tránh thành phố” để thu phíBOT.

Nói “Nghệ An cho ghép cây cầu này vào với đường tránh thành phố” có lẽ không hoàn toàn chính xác, vì dù sao cũng phải có ý kiến Bộ Giao thông, Bộ Tài chính, rồi còn hàng loạt đơn vị liên quan, có điều các văn bản cho phép (nếu có) thì dân làm sao biết được?

Thế nên dân chỉ có thể “minh bạch” đóng phí không thiếu một đồng dù đi trên cây cầu do mình bỏ tiền xây, dù không lạm vào đoạn đường BOT tí gì.

Chuyện ăn nói của doanh nhân như Bầu Đệ, ông chủ Tôn Hoa Sen, Hiệu trưởng Đại học tư thục Thành Tây hay Phó Tổng Giám đốc Công ty Trách nhiệm Hữu hạn một thành viên Đường sắt Hà Nội thì miễn bàn vì dù sao họ cũng là người kinh doanh, đã kinh doanh thì chẳng lẽ lại không dính tí “chợ búa”?

Điều đáng nói là dư luận hơi “choáng” sau phát ngôn của ông Phó Chủ tịch Nghệ An, Lê Ngọc Hoa với ông Chủ tịch Hà Tĩnh.

Một bước nhảy từ doanh nghiệp sang Phó Chủ tịch tỉnh đã khiến vị thế của ông trở nên khác lạ.

Ông ăn nói có “gang có thép” hơn có phải vì ông đường đường là Phó Chủ tịch tỉnh “to” nhất cả nước, to những 16.494 km vuông, còn Hà Tĩnh diện tích chỉ hơn 5.000 km vuông, chỉ là “muỗi” so với địa bàn mà ông Lê Ngọc Hoa tham gia quản lý?

Được biết năm 2013, ngân sách trung ương phải chi bổ sung cho Nghệ An tới 10.969 tỷ đồng (chỉ đứng sau Thanh Hóa 14.427 tỷ).

Cứ nghĩ lãnh đạo một tỉnh phải thường xuyên xin cứu trợ thì ngôn từ phải mềm mỏng, thế nhưng ông Phó Chủ tịch Nghệ An lại khác, bởi tỉnh có thể nghèo chứ ông và gia đình chắc chắn không cần “bổ sung, hỗ trợ” từ bất kỳ nguồn nào!

Sau khi ông Hoa rời bỏ Cienco4 về làm Phó Chủ tịch Nghệ An, báo An ninh Tiền tệ và Truyền thông [1] cho biết:

Vợ ông Lê Ngọc Hoa là bà Trương Thị Tâm hiện giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị, đồng thời là một cổ đông lớn của Cienco 4.

Tính đến cuối năm 2015, bà Tâm đang nắm giữ 9.586.870 cổ phần – tương đương tỉ lệ 13,32%, ông Lê Ngọc Hoa cũng sở hữu 126.360 cổ phần; em vợ ông – ông Trương Hữu Thìn có 10.240 cổ phần tại đây”.

Tại thời điểm cổ phần hóa Cienco4, giá trị một cổ phần là 14.062 đồng.

Vậy thì khối tài sản của vợ chồng ông Phó Chủ tịch Nghệ An chỉ riêng tại Cienco4 đã ngót nghét 140 tỷ (chính xác là 136,587 tỷ đồng), đấy là chưa nói giá trị tăng thêm theo thời gian vì nghe nói Cienco4 làm ăn khá thuận lợi, đặc biệt là các vụ BOT giao thông.

Lại được biết thêm một điều nữa, Cienco 4 là doanh nghiệp sở hữu trạm thu phí cầu Bến Thủy, phải chăng đó chính là nguyên nhân khiến ông Lê Ngọc Hoa “tức hộ” Cienco4, khiến ông phải bảo “cái này Hà Tĩnh vớ vẩn”?

Mà không chừng lãnh đạo Hà Tĩnh “vớ vẩn” thật!

Đáng lẽ trước khi kiến nghị với các cấp có thẩm quyền phải biết cái trạm thu phí ấy do ai quản lý, nó liên quan đến những ai, nó mang lại tiền tỷ cho ai, đằng này lại tồ tồ kiến nghị lên tít tận cấp trên, bị “mắng” còn oan ức nỗi gì?

Mới là doanh nhân như Bầu Đệ, ngay giữa cuộc họp đã chỉ tay mắng Giám đốc Sở Thông tin Thanh Hóa “đừng có hỗn”, thế thì “quan doanh nhân” mắng “quan dân sự” có gì mà báo chí phải chộn rộn?

Đến đây thì vấn đề không liên quan đến Hà Tĩnh mà liên quan đến báo chí, ông Hoa “khẳng định không nói Hà Tĩnh hay ông Khánh vớ vẩn”, nếu sự thật đúng như ông “khẳng định” thì rõ ràng tin tức mà báo chí đưa thuộc dạng “đưa tin sai sự thật, gây hậu quả nghiêm trọng”, còn nói theo cách lãnh đạo Thanh Hóa (trước thông tin lan truyền trên mạng xã hội) là “bêu xấu, bôi nhọ các lãnh đạo tỉnh”.Mới đây ông Lê Ngọc Hoa đã có cải chính, rằng: “có thể trong lúc nói chuyện trên điện thoại, phóng viên nghe nhầm một từ ngữ nào đấy. Tôi khẳng định, mình không nói Hà Tĩnh hay ông Khánh vớ vẩn”! [2]

Vậy ông Lê Ngọc Hoa, với cương vị Phó Chủ tịch tỉnh của mình cũng nên học tập lãnh đạo tỉnh bạn, như báo Nông nghiệp Việt Nam tường thuật:

Ban Thường vụ tỉnh uỷ Thanh Hoá cũng đề nghị Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông quan tâm, chỉ đạo các cơ quan báo chí thông tin khách quan, trung thực, phản ánh đúng bản chất sự việc và kiên quyết không đăng các bài viết nhằm mục đích bêu xấu, bôi nhọ các lãnh đạo tỉnh Thanh Hoá mà không có căn cứ, không có cơ sở”. [3]

Còn nếu ngộ nhỡ phóng viên đã “trót” ghi âm lại cuộc nói chuyện với ông Hoa thì cũng nên công khai đoạn băng ghi âm đó để khỏi mất thời giờ của cơ quan chức năng, và cũng để nhắc nhở ai đó, rằng sở dĩ “miệng nhà quan có gang có thép” cũng là bởi vì “lưỡi không xương nhiều đường lắt léo”.

Từng có lúc chúng ta định nghĩa “gia đình là tế bào xã hội”, nói cách khác, mọi xã hội đều được cấu thành từ gia đình.

Chúng ta đang sống trong một xã hội tồn tại rất nhiều “nhóm lợi ích”, cỡ nhỏ như “nhóm lợi ích ngân hàng”, “nhóm lợi ích bất động sản”… to lớn hơn thì có “nhóm lợi ích độc quyền kinh tế – chính trị”, “nhóm lợi ích bán nước, hại dân”…

Tổng hợp sự việc xảy ra hàng chục năm qua cho thấy, các nhóm lợi ích này đều được hình thành từ một nhóm lợi ích cơ bản mà ta tạm gọi là “nhóm lợi ích tế bào”.

Tế bào của xã hội “nhóm lợi ích” chính là “nhóm lợi ích Quan – Doanh”.

Nguồn năng lượng nuôi sống tế bào này là sự kết hợp của hai thành phần: “quan” tức là quan chức chính quyền, chính trị và “doanh” là doanh nhân có mối liên kết gia đình, dòng tộc với “quan”.

Vợ chồng vị lãnh đạo cao nhất cấp thành phố ở tỉnh Cà Mau trong 22 tháng đăng ký 14 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. [4] Một lãnh đạo tỉnh sở hữu gần trăm héc ta cao su khi đương chức hay vợ chồng lãnh đạo tỉnh sở hữu gần 10 triệu cổ phần ở doanh nghiệp… là những minh chứng không thể phủ nhận về vai trò của “tế bào” trong xã hội “nhóm lợi ích”.

Chuyện ngược lại cũng không hiếm.Dưới sự “bảo trợ” của “quan chồng”, các bà vợ trở thành đại cổ đông, đại gia, và nhiều thứ “đại” khác ví dụ đại diện, đại biểu…

Các gia đình “quan – doanh” có bóc lột sức lao động của công nhân, nông dân và các tầng lớp bình dân không?

Câu trả lời là “không có”, “không” là vì họ không bóc lột kiểu “cổ điển” tức là bóc lột giá trị thặng dư, “có” là vì họ vét từng đồng xu của bất kỳ ai có thể vét chứ không chỉ người nghèo.

Đối tượng đầu tiên mà “quan – doanh” nhắm tới là “ngân sách”, ngân sách dành cho Giáo dục, Y tế, xóa đói giảm nghèo, xây dựng hạ tầng, đầu tư phát triển… đều được “quan – doanh” chăm bẵm từ khi xây dựng phương án đến khi thực hiện.

Các doanh nghiệp sân sau của “quan – doanh” luôn biết trước thông tin và thường là người chiến thắng trong các cuộc đấu thầu đầy rẫy “quân xanh, quân đỏ”.

Thất thoát trong xây dựng mấy chục phần trăm là thất thoát ngân sách, người ta “bóc lột” ngân sách chứ không trực tiếp móc túi người đóng thuế.

Biếm họa về tham nhũng trên laodong.com.vn

Đối tượng tiếp theo mà “quan – doanh” nhắm tới là “chính sách”.Thất thu ngân sách Nhà nước góp phần làm bội thu ngân sách các gia đình “quan – doanh” là thực tế hiển nhiên không cần chứng minh.

Thông qua sự thiếu minh bạch, thông qua các mối quan hệ gia đình, thân hữu, đôi khi dựa vào những quyết định duy ý chí… để hình thành quyết định đầu tư, để vạch ra định hướng…

Một khi tiếp cận được thông tin chính sách, tác động điều khiển bộ phận hoạch định, các gia đình “quan – doanh” dễ dàng bao thầu tất cả.

Trở thành lãnh đạo một doanh nghiệp Nhà nước đang chuẩn bị cổ phần hóa nhưSabeco, hay đã cổ phần hóa như Cienco4 đương nhiên sẽ được mua một số cổ phần ưu đãi, kết hợp với tiềm lực gia đình, việc mua thêm cổ phần để nắm quyền chi phối không phải là chuyện quá khó.

Cái khó là làm sao ngồi vào hội đồng quản trị thì đã có “gia đình” chuẩn bị!

Nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng từng nói: “Thủ tục hành chính với dân giờ cay nghiệt, độc ác lắm”. Sự “cay nghiệt, độc ác” thể hiện qua các loại “phí” mà “phí sử dụng đường bộ” như trường hợp cầu Bến Thủy chỉ là một trong rất nhiều ví dụ.
Nguồn năng lượng nuôi sống xã hội bị “tế bào quan doanh” thu hút về mình không trắng trợn, man rợ theo kiểu tư bản lũng đoạn.Vì là “tế bào” nên “quan – doanh” không xuất hiện trước con mắt “trần tục”, chỉ có thể thấy nó dưới lăng kính minh bạch, công lý.

Làm được điều đó bởi vì nó núp bóng kinh tế thị trường có định hướng, núp bóng các chủ trương, chính sách được pháp luật bảo hộ.

Liệu ai có thể khẳng định, rằng tiền chảy vào két của doanh nhân thông qua các hoạt động kinh doanh không minh bạch (đấu thầu thuốc chữa bệnh, đấu giá tài sản công, BOT…) không phải là tài sản của những quan chức chính quyền trong gia đình họ?

Công nhận “sự trong sạch” của những đồng tiền ấy tức là công nhận một kiểu bóc lột mới của đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước, tức là công nhận sự giả dối khi người ta khẳng định tài sản không mang tên mình, tức là công nhận một tầng lớp cường hào ác bá mới, còn “độc ác, man rợ hơn cả địa chủ, tư bản ngày xưa”.

Khi thương trường là chiến trường, ai có thể khẳng định, rằng một quan chức sẽ không hậu thuẫn cho bố, mẹ, vợ, chồng, con, cháu…  trong các thương vụ làm ăn?

Muốn tiêu diệt “xã hội nhóm lợi ích” thì phải tiêu diệt các “tế bào” tạo nên xã hội đó.

Liệu có cơ chế nào hữu hiệu để cách ly quan trường và thương trường?

Không diệt được “tế bào gốc” thì đừng mong tiêu diệt được xã hội “nhóm lợi ích”.

Tài liệu tham khảo:

[1] http://antt.vn/vo-pho-chu-tich-nghe-an-lam-sep-cienco4-nam-giu-13-co-phieu-0121728.html

[2] http://www.nguoiduatin.vn/pho-chu-tich-nghe-an-keu-oan-ve-phat-ngon-vo-van-a300339.html

[3] http://nongnghiep.vn/thanh-hoa-de-nghi-thu-hoi-ten-mien-mot-so-bao-dang-sai-su-that-vu-bi-thu-co-bo-nhi-post175611.html

[4] http://giadinhphapluat.vn/mot-can-bo-22-thang-dang-ky-14-giay-chung-nhan-quyen-su-dung-dat-p38981.html

 

 

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Chín 29, 2016

20160929. ÔNG DŨNG SẼ CHO KINH NGHIỆM GÌ TỪ VỤ BAUXITE ?

ĐIỂM BÁO MẠNG

NHÌN LẠI NHÂN VẬT NGUYỄN TẤN DŨNG: BÀI HỌC NÀO TỪ VỤ BAUXITE? 

THẢO VY/ BVN 29-9-2016

Nhìn lại nhân vật Nguyễn Tấn Dũng: Bài học nào từ vụ Bauxite?

Kết quả hình ảnh cho bauxite

“Ngày 22/9, báo VietNamNet đăng tin “Nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng làm giảng viên lớp bồi dưỡng cán bộ TP.HCM”. Đây là thông tin không chính xác”. [http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/chinh-tri/329467/dinh-chinh.html]

Tuy nhiên theo tài liệu mà phóng viên trang Việt Nam Thời Báo của Hội Nhà báo độc lập Việt Nam có được, thì trong lịch học có tên của ông Nguyễn Tấn Dũng trên cương vị “nguyên thủ tướng”.

400 học viên là các quan chức cấp cao nhất trong bộ máy quản lý của TP.HCM sẽ phải theo học một khóa gọi là “nghiên cứu, học tập” tại Học viện Cán bộ TP.HCM. Ông Nguyễn Tấn Dũng sẽ đứng lớp trong bốn buổi sáng từ ngày thứ ba 11-10 đến thứ sáu 14-10. Ông sẽ truyền dạy môn có tên là “Kinh nghiệm trong quản lý nhà nước”.

Trong thời gian từ ngày 27-9 đến 30-11-2016, dự kiến có 400 cán bộ lãnh đạo, quản lý các cơ quan chính quyền, cơ quan Đảng trú đóng ở TP.HCM, được chia làm 4 lớp, sẽ cùng nhau nghiên cứu, học tập 15 chuyên đề tập trung vào các nội dung: Những quan điểm, chủ trương, chính sách mới về công tác dân vận của Đảng và Nhà nước CSVN; vận dụng và phát triển sáng tạo Tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới đất nước; kinh nghiệm trong quản lý nhà nước; thông tin kinh tế vĩ mô; quản trị chính quyền địa phương trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu…

Dự án bauxite: cặp đôi hoàn hảo Dũng – Hoàng

Ngày 29-4-2009, trên cương vị Thủ tướng, ông Dũng ký ban hành công văn 650/TTg-KTN, gửi các Bộ: Công Thương, Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Công an, Giao thông vận tải, Khoa học và Công nghệ, Thông tin và Truyền thông; Ủy ban nhân dân các tỉnh: Đắk Nông, Lâm Đồng, Gia Lai, Kon Tum, Bình Phước, Bình Thuận, Cao Bằng, Lạng Sơn; Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV).

Theo đó, ông Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng được giao các đầu việc cụ thể như sau (trích):

(1) Rà soát lại quy hoạch bauxite trên cơ sở cập nhật tình hình và dự báo mới nhất về tác động của cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế toàn cầu và đề xuất điều chỉnh Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng bauxite giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025 và lập Báo cáo Đánh giá môi trường chiến lược (ĐCM), trình duyệt theo quy định hiện hành.

(2) Chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương liên quan thẩm định thiết kế kỹ thuật hồ bùn đỏ của dự án Tân Rai và Nhân Cơ trên cơ sở trình của TKV, bảo đảm an toàn lâu dài đối với môi trường.

(3) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra, tính toán, đánh giá lại hiệu quả dự án alumine Nhân Cơ, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

(4) Phối hợp với Bộ Giao thông vận tải chỉ đạo Tập đoàn TKV lập phương án vận tải sản phẩm đối với các dự án Tân Rai và Nhân Cơ tối ưu nhất để triển khai thực hiện khi dự án đi vào hoạt động. (5) Phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ giám sát và đánh giá hiệu quả việc chuyển giao và ứng dụng công nghệ đối với các dự án nêu trên.

(6) Phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban Tuyên giáo Trung ương đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền chủ trương của Đảng và Chính phủ về phát triển ngành công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản bauxite.

(7) Chuẩn bị báo cáo về tình hình thực hiện các dự án khai thác và chế biến bauxite ra Hội nghị Trung ương tới.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại công văn này cũng yêu cầu “Chủ đầu tư (Tập đoàn TKV) triển khai các dự án Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Đắk Nông) bảo đảm tiến độ, chất lượng và hiệu quả kinh tế-tài chính”.

Gần một tháng sau đó, ngày 22-5-2009, thừa ủy quyền của Thủ tướng, Bộ trưởng Công thương Vũ Huy Hoàng đã ký Báo cáo số 91/BC-CP của Chính phủ gửi Quốc hội về việc triển khai các dự án bauxite gửi tới các đại biểu Quốc hội. Một số tình tiết nêu trong báo cáo cho thấy dự án bauxite đã quyết định thực hiện, việc báo cáo ra Quốc hội chỉ là một hình thức mang tính thủ tục; các tình tiết đó như sau (trích):

(1) Chủ trương lập dự án bô-xít – alumin Nhân Cơ đã được thông qua tại Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 01 tháng 11 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch bô-xít. Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý chủ trương nâng công suất nhà máy alumin Nhân Cơ lên 600.000 tấn/năm (công văn số 2728/VPCP-HTQT ngày 02 tháng 5 năm 2008).

(2) Tại thông báo 245 của Bộ Chính trị đã kết luận: “Chủ trương thăm dò, khai thác, chế biến bô-xít là chủ trương nhất quán từ Đại hội IX và Đại hội X của Đảng đến nay. Triển khai các Nghị quyết Đại hội, trong 2 nhiệm kỳ, Bộ Chính trị đã nhiều lần bàn và ra các Nghị quyết, kết luận để lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng ngành công nghiệp bô-xít, alumin, nhôm, phục vụ phát triển kinh tế đất nước nói chung, góp phần phát triển kinh tế – xã hội Tây Nguyên nói riêng”.

(3) Về việc Quy hoạch bô-xít không phải trình Quốc hội thông qua chủ trương đã được làm rõ tại Hội thảo khoa học ngày 09 tháng 4 năm 2009 như sau: Theo quy định tại Nghị quyết số 66/QH 11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 của Quốc hội khóa 11 (Nghị quyết 66), chỉ có các dự án, công trình quan trọng quốc gia thì Chính phủ phải trình Quốc hội xem xét, quyết định chủ trương đầu tư. Quy hoạch bô-xít cũng như nhiều quy hoạch khác (quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội các vùng, địa phương, quy hoạch các ngành kinh tế – kỹ thuật như ngành điện, dầu khí, khoáng sản, thép v.v…) không phải là dự án đầu tư, vì vậy không chịu sự điều chỉnh của Nghị quyết 66. Theo luật pháp hiện hành, thẩm quyền phê duyệt các quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội vùng, quy hoạch phát triển ngành là Thủ tướng Chính phủ.

(4) Trung Quốc có kinh nghiệm, có công nghệ sản xuất alumin (kể cả đối với quặng gipxit là loại quặng khó xử lý hơn) và là một trong các nhà sản xuất alumin-nhôm hàng đầu thế giới hiện nay. Sản phẩm alumin và nhôm sản xuất theo công nghệ thực tế đang áp dụng có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Như vậy, công nghệ Trung Quốc đã được kiểm chứng qua thực tế và có thể áp dụng cho các dự án ở Việt Nam.

(5) Thông báo số 245-TB/TW ngày 24 tháng 4 năm 2009 của Bộ Chính trị xác định: “Tây Nguyên là khu vực nhạy cảm, cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề an ninh, quốc phòng cho cả trước mắt và lâu dài.”… Đến nay, chưa có một quy định hoặc quyết định cụ thể nào của Quốc hội và Chính phủ về “đưa Tây Nguyên vào địa bàn đặc biệt quan trọng đối với quốc gia về quốc phòng, an ninh” và điều chỉnh bởi Nghị quyết 66. Bởi vì nếu như vậy, thì được hiểu là tất cả các dự án ở Tây Nguyên, không trừ một dự án nào, không phụ thuộc vào quy mô, tính chất cũng sẽ phải trình ra Quốc hội để thông qua chủ trương đầu tư.

Ông Dũng và ông Hoàng đã bỏ ngoài tai mọi phản biện

Tính đến thời điểm này, dự án bauxite đã lộ rất rõ những thua lỗ và liên tiếp xảy ra các sự cố.

Sáng 23-7-2016, sự cố đường ống Nhà máy Alumin Nhân Cơ (do nhà thầu Chalieco, Trung Quốc phụ trách) khiến hóa chất kiềm tràn ra bên ngoài, một phần kiềm thẩm thấu xuống lòng đất trong phạm vi 600m2, phần còn lại chảy theo đường ống đổ về suối Đắk Dao. Khi thấy cá trên suối Đắk Dao chết, nhiều người dân, trong đó có cả trẻ em đã lội xuống dòng suối này vớt cá về ăn. Ông Phan Diệu Anh, một trong những người phát hiện sự việc đầu tiên cho biết: “Khi đó, dòng nước có nhiều biểu hiện lạ so với bình thường, nước đục, có màu sẫm đen, trên bề mặt nổi váng loang lổ…; Tiếp xúc thấy có chất nhờn như nước bọt xà bông. Sau khoảng 10 phút tiếp xúc với nước, chân tôi bị ngứa, da khô cứng, căng ra; Những vùng da non bị đau rát, có chỗ rộp lên như bỏng nước sôi”.

Trao đổi với báo chí, PGS. TS. Nguyễn Văn Phổ, Viện Công nghệ địa chất và Khoáng sản, (Hội Địa chất Việt Nam) cho biết, nếu không cẩn trọng trong khai thác bauxite ở Nhân Cơ sẽ có nguy cơ thảm họa môi trường giống Formosa ở Tây Nguyên. PGS. TS. Nguyễn Văn Phổ bày tỏ lo lắng khi mới đây Nhà máy Alumin Nhân Cơ vỡ ống xút và tràn ra ngoài: “Quả thực đây là điều báo động cực kỳ nguy hiểm đối với quá trình sản xuất alumin ở khu vực Nhân Cơ. Về nguy hại lâu dài sẽ vô cùng khủng khiếp”.

Theo PGS. Phổ, ngay Trung Quốc cũng đã cấm hơn 100 nhà máy sản xuất nhôm theo hình thức chiết quặng bauxite. “Tây Nguyên là khu vực nằm ở vị trí đầu nguồn các con sông, suối chảy về Nam Trung bộ, Nam bộ. Nếu để xảy ra ô nhiễm môi trường liên quan đến bauxite thì hậu họa sẽ khôn lường. Công nghệ xử lý bùn đỏ trên thế giới chưa nước nào chế ngự được xút. Nếu mà vỡ ra thì nguy hại toàn vùng, ảnh hưởng đến dòng chảy, môi trường sống của sinh vật ở các dòng sông, con suối trong khu vực… Tôi nghĩ ở góc độ tác hại môi trường chẳng khác gì Formosa”, PGS. Phổ lo ngại.

Đầu tháng 3-2013, trước tuyên bố của Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng về trữ lượng bauxite của Việt Nam là 10-11 tỉ tấn, thì lập tức đã vấp sự phản ứng mạnh từ giới chuyên môn.

PGS.TS. Nguyễn Khắc Vinh, Chủ tịch Tổng hội Địa chất Việt Nam, nguyên Viện trưởng Viện Địa chất và Khoáng sản, nói rằng trữ lượng bauxite mà Bộ trưởng nói đến chỉ là tài nguyên, còn muốn mở ra ngành công nghiệp bauxite – nhôm thì phải khoan thăm dò chi tiết, tính toán nhiều yếu tố chứ không thể căn cứ vào dự báo tài nguyên để làm luận chứng kinh tế cho dự án bauxite Tây Nguyên.

“Hơn nữa, cho đến nay, trên các tài liệu đã công bố, Việt Nam chỉ có 6,9 tỉ tấn tài nguyên bauxite, còn Mỹ nhận định trữ lượng bauxite của Việt Nam chỉ có 2,1 tỉ tấn. Tuy nhiên, khi thăm dò chi tiết, trữ lượng có thể thấp hơn nữa. Trong khi trữ lượng bauxite của cả thế giới chỉ có 38 tỉ tấn. Lâu nay, Việt Nam hay dùng khái niệm trữ lượng là không chính xác, thậm chí còn nói “vống” trữ lượng lên để gây phấn khởi”. PGS.TS. Vinh nói.

PGS.TS. Nguyễn Khắc Vinh đã “tạt gáo nước lạnh”: Về bauxite, nếu nhìn ở góc độ kinh tế và khoa học thì lỗ nặng vì thị trường thế giới không lớn. Đây lại là lĩnh vực mới, phải đầu tư số tiền khổng lồ, trong khi giá bauxite rất rẻ (khoảng 35 USD/tấn) nên không phải là sản phẩm có giá trị kinh tế cao.

Mỗi năm, thế giới chỉ sử dụng 200 triệu tấn và với trữ lượng 38 tỉ tấn thì 100 năm nữa, thế giới mới sử dụng hết, điều này cho thấy nhu cầu về bauxite của toàn cầu là không nhiều. Vì vậy, nếu Việt Nam khai thác nhiều cũng chẳng bán được cho ai. Hiện nay, Trung Quốc gần như là khách hàng mua bauxite duy nhất của Việt Nam vì nhu cầu họ lớn nhưng trữ lượng có hạn.

Công bằng mà nói, nếu như không có sự gật đầu của ông Tổng Bí thư thì chắc chắn ‘có ăn gan trời’, ông Nguyễn Tấn Dũng cũng không dám mạnh miệng quyết định về một dự án mà ai cũng thấy thua lỗ rõ ràng.

Tuy nhiên mọi góp ý về dự án bauxite này đều được xem là “ngoài luồng”, vì sau 3 năm “yên vị” ghế thủ tướng, ông Nguyễn Tấn Dũng đã không chấp nhận các lời chê trách, các phản biện về những chính sách của ông, bằng Quyết định 97/2009/QĐ-TTg được ông ký ngày 24 tháng 7 năm 2009; trong đó ở điều 2 mục 2 đã nhấn mạnh: nếu có ý kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước cần gửi ý kiến đó cho cơ quan Đảng, Nhà nước có thẩm quyền, không được công bố công khai với danh nghĩa hoặc gắn với danh nghĩa của tổ chức khoa học và công nghệ.

T.V.

Nguồn: http://www.ijavn.org/2016/09/vntb-nhin-lai-nhan-vat-nguyen-tan-dung.html

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Chín 26, 2016

20160926. CHÍNH SỰ CHƯA KIỂM CHỨNG

ĐIỂM BÁO MẠNG

PHÁT PHÁO HIỆU “SỜ” TIẾP ĐÉN ĐINH LA THĂNG ĐÃ NỔ ?

HUY ĐỨC/ FB HĐ/ BVB 26-9-2016

Thanh – Thuận, cho dù tội trạng tày đình cũng chỉ là kẻ thừa hành. PVC chưa phải là mất mát đau nhất ở PVN dưới thời Đinh La Thăng; di sản của ông ta sau 5 năm ở đây chỉ có thể nói là “tan hoang”. Nếu các cơ quan pháp luật muốn làm tới nơi thì quy mô của vụ án không chỉ “xảy ra ở PVC” mà là ở PVN, vấn đề không phải là Thuận hay Thanh mà là Thăng.

Cho đến trước khi bị C46 triệu ra Hà Nội, Vũ Đức Thuận vẫn nương náu trong biệt thự Trần Quốc Thảo. Rất lạ là báo chí chỉ đặt câu hỏi, ai đã “làm công tác cán bộ” cho Trịnh Xuân Thanh mà không nói gì về “quy trình” Đinh La Thăng dàn xếp cho đồng phạm của Thanh, Vũ Đức Thuận. Vì sao Thuận, một kẻ mà dấu hiệu phạm tội đã rõ từ năm 2013, vẫn được Đinh La Thăng đưa về làm Chánh văn phòng Bộ Giao thông, rồi kéo vào Sài Gòn làm trợ lý.

Đàn Em
Xây lắp là ngành mà Đinh La Thăng nắm gần như ngay lập tức sau khi về làm Chủ tịch tập đoàn Dầu khí (PVN), 10-2006, và biến nó trở thành một thứ công ty xây dựng như thời Sông Đà.
Thoạt đầu, người được Đinh La Thăng đưa về làm Tổng giám đốc công ty Xây lắp Dầu khí (PVC) là “Diệu Đen” – đồng hương Nam Định, từng làm ở Sông Đà – thay thế “Hưng Địa Chủ”, một người được đào tạo và có kinh nghiệm trong ngành.
Nhưng, ở thời điểm ấy PVN đang có trong tay một lượng vốn khổng lồ. Một người giỏi điếu đóm không thể triển khai bài toán lớn để “giải ngân” từng ấy tiền bạc. Năm 2007, Đinh La Thăng đưa Trịnh Xuân Thanh từ Sông Hồng về thay thế “Diệu Đen” làm Chủ tịch kiêm TGĐ PVC. Năm 2008, khi Thuận gặp khó khăn ở Sudico (Sông Đà), Thăng lại đưa về làm phó rồi năm sau lên TGĐ.
Dự Án
Ngay sau khi Trịnh Xuân Thanh (2007) và Vũ Đức Thuận (2008) kiểm soát được PVC, Đinh La Thăng bắt đầu sử dụng hàng chục nghìn tỷ của PVN ồ ạt đầu tư cho các dự án: từ nhiệt điện, sợi polyester, ethanol… đến sân golf, khách sạn, văn phòng, trụ sở… Rất nhiều công trình được quyết định đầu tư vội vã, bất chấp pháp luật.
Có những công trình lớn, ngoài “chuyên môn” như Ethanol Phú Thọ (1.700 tỷ, đội giá lên 2.400 tỷ), như Sợi Đình Vũ (đội giá từ 324,8 triệu lên 363,5 triệu USD) nhưng đã được Đinh La Thăng cho phê duyệt dự án mà không thẩm định tính khả thi, không lấy ý kiến cơ quan quản lý có thẩm quyền (Bộ Công Nghiệp lúc đó).
Hành vi cố ý của Đinh La Thăng khi quyết định đầu tư những công trình này không chỉ làm thất thoát lớn trong quá trình xây dựng mà cả hai vừa xây xong đã phải đắp chiếu vì nếu sản xuất sẽ làm lỗ cho PVN mỗi năm hàng nghìn tỷ (năm 2014, Sợi Đình Vũ lỗ 1.085 tỷ).
Trảm Tướng
Đinh La Thăng đi đến đâu cũng làm “nức lòng nhân dân” bằng các vụ “trảm tướng”. Ít ai biết được đằng sau những quyết định ầm ĩ đó là gì.
Trước khi chuẩn bị ồ ạt xây cất, Đinh La Thăng đã chuẩn bị “cơ sở pháp lý” cho Thanh – Thuận bằng Nghị quyết 133 của Đảng ủy Tập đoàn, “Phát huy nội lực, ưu tiên sử dụng dịch vụ trong ngành”.
Hầu hết những dự án của PVN, Đinh La Thăng đều buộc các chủ đầu tư (các đơn vị thành viên của PVN) phải “ưu tiên sử dụng dịch vụ” của nhà thầu PVC. Mặc dù Thuận và Thanh thường đưa ra mức dự toán cao hơn rất nhiều so với giá trị thực tế, Thăng vẫn gây áp lực để các chủ đầu tư (công ty con của PVN) chấp nhận và thường phải ứng trước vốn lên đến hơn 80% giá trị hợp đồng cho Thanh – Thuận.
Nhiều chủ đầu tư đã bị “trảm” vì không chịu vâng theo những điều kiện phi lý này.
Chi phí để Thanh – Thuận xây phần thô của tòa nhà PVFC lên tới 350 tỷ trong khi trước đó, khách sạn Petrosetco Sông Trà (Nhờ bên ngoài nắm cổ phần lớn hơn PVN nên không để Thăng ép giao thầu cho PVC) có cùng diện tích, cùng điều kiện xây dựng, đã hoàn thành nội thất, chỉ hết 69 tỷ.
Tòa nhà PVGas, đường Nguyễn Hữu Thọ, Nhà Bè, theo đánh giá của giới chuyên môn và theo thị trường, cả tiền xây dựng và đất, chỉ khoảng 350 tỷ đồng. PVGas đã phải quyết toán cho Thanh – Thuận lên tới 900 tỷ. Trong thời gian xây dựng tòa nhà này (2008-2010) hai tổng giám đốc của PVGas (Trần Văn Vĩnh và Nguyễn Việt Anh) đã bị Đinh La Thăng cách chức.
Có thể chỉ ra hàng loạt ví dụ tương tự khác ở những công trình như khách sạn Lam Kinh, khách sạn dầu khí Thái Bình, Trung tâm thương mại Cà Mau…
Ngoài Trần Văn Vĩnh, Nguyễn Việt Anh còn nhiều “tướng” khác bị “trảm” với lý do tương tự, trong đó có các ông: Trịnh Thanh Bình, TGĐ Đạm Phú Mỹ; Đinh Văn Ngọc, TGĐ Bình Sơn và Lương Khoa Trường, TGĐ DMC…
PVC được nói là lỗ 3.300 tỷ, đúng ra là lỗ 4.100 tỷ vì đã sử dụng hết 800 tỷ trong quỹ dự phòng. Nhưng con số thất thoát còn phải tính đến cả ở những công trình bị kê giá (như vài ví dụ vừa nêu) mà cơ quan điều tra hoàn toàn có thể làm rõ bằng cách trưng cầu giám định.
“Thiên Tài”
Tuy trong khoảng từ 2008-2010, PVC hạch toán là “hiệu quả” nhưng những khoản lỗ nhìn thấy vào giữa 2012 chỉ là phần “bục ra” và là hậu quả của cung cách Thanh – Thuận ngay từ khi họ nắm PVC. Trong xây dựng, nếu các nhà thầu được ứng tới 80-90% vốn như PVC (chưa kể giá trị đầu tư được kê cao lên) mà làm lỗ được thì phải nói là… thiên tài. Nhưng Thuận – Thanh vẫn làm được.
Nhân danh “phát huy nội lực”, Đinh La Thăng đã chỉ định và giao cho PVC thầu các dự án của Tập đoàn. Nhưng Thanh – Thuận chỉ là những anh “cò”. Vừa nhận thầu của Tập Đoàn là PVC liền giao toàn bộ quyền tổng thầu với các hình thức khác nhau cho các công ty con hoặc các công ty không hề là con cái gì của PVC cả.
Nhân danh “nâng cao năng lực thiết bị thi công”, PVC đã bỏ ra 424,84 tỷ đồng để mua sắm máy móc. Thiết bị mua về, thay vì được PVC khai thác sử dụng, thì toàn bộ lại được chuyển cho các công ty con dưới dạng bù trừ công nợ, góp vốn… Các công ty con nhận những thiết bị này về cũng hoặc không sử dụng, hoặc chỉ sử dụng cho một công trình rồi bỏ đó.
Không chỉ áp dụng chính sách chỉ định thầu cho các công ty con, Thanh – Thuận đã cho rất nhiều nhà thầu phụ không dính dáng gì tới PVC hưởng “nội lực” của ngành dầu khí.
Đầu năm 2012, trong số 8.620 tỷ đồng ký với các nhà thầu phụ, có tới 3.572 tỷ (41,43%) được PVC “giao thầu” cho các công ty ngoài ngành. Nhiều nhà thầu phụ được ứng vốn cao hơn vốn mà PVC được ứng từ chủ đầu tư với số tiền lên đến 753 tỷ. Các nhà thầu còn được “ứng ngoài hợp đồng” lên tới 775 tỷ.
Dòng Tiền
Không phải công ty con nào cũng “sổ sách” như PVC-ME để ta có thể giải thích vì sao Thuận – Thanh lại hào phóng với các công ty con, nhà thầu phụ như thế. Và, nhờ nó, chúng ta biết được “dòng tiền”.
PVC-ME là một công ty có số lỗ vào năm 2012 lên đến 576 tỷ đồng và đang “cân đối âm” 714 tỷ. Ngoài những cách quen thuộc như khai khống hồ sơ rút tiền, PVC-ME có một sáng kiến rất hay đó là cho các đối tác hoặc chỉ huy trưởng công trường ký tạm ứng rồi… không nhận tiền. Có người “để lại” 2, 3 tỷ, có đối tác “để lại” 4 tỷ. Tổng số tiền “để lại” cho quỹ đen chung này lên tới 80,768 tỷ.
Trong “sổ đen”, có những khoản chi nho nhỏ, kiểu như “Học tập tấm gương HCM” 5 triệu; “Đi sở KHĐT” 5 triệu rồi “Gửi anh Hải lái xe” 211 triệu; “Mua bộ đồ đánh golf cho sếp” 350 triệu… Có rất nhiều khoản chi mỗi lần từ 1 đến gần 4 tỷ không rõ làm gì. Chỉ trong năm 2011, lái xe riêng của TGĐ đã thanh toán các khoản tiếp khách hết 1,126 tỷ đồng và tiền tiếp khách của PVC-ME hết 9,89 tỷ.
Trong “sổ” có ghi những bữa nhậu 4-5 trăm triệu, chúng rất dễ làm ta liên tưởng đến “Bộ trưởng Ballentine “. Và, không rõ tính toán ra sao mà trong ngày 15-8-2011 có tới 4 lần rút tiền “sinh nhật bố sếp Thanh”(418 triệu + 50 triệu + 80 triệu).
Những khoản chi tiền tỷ chi chít trong sổ đen mà theo ngày tháng thì nằm trong khoảng trước và sau Đại hội XI. Cấp tập hơn là những khoản chi vào giai đoạn từ sau Đại hội cho đến khi hình thành Chính phủ mới, kéo dài tới tháng 9-2011, thời điểm Đinh La Thăng chuẩn bị rời PVN qua Bộ Giao thông.
Đây cũng chính là giai đoạn Thanh – Thuận sử dụng tới 1.081 tỷ vốn xây dựng nhà máy nhiệt điện Thái Bình II ứng cho các nhà thầu không liên quan tới công trình này “sử dụng vào những mục đích khác”(đến nay vẫn còn 700 tỷ chưa thu hồi được).
Trịnh Văn Thảo, TGĐ PVC-ME đã bỏ trốn từ 2012. Thanh đang bị truy nã. Nhưng không chỉ có Thuận, rất nhiều nhân vật thông thạo đường đi của những “dòng tiền” dầu khí như: Duy, Sợi Đình Vũ; Hoàng, PVC-IC; Trung PVC-SG… vẫn còn đi lại trước mặt cơ quan điều tra.
Khi làm Chủ tịch PVN, Đinh La Thăng không chỉ tiếp nhận một giai đoạn vẫn rất thịnh vượng của ngành (giá dầu lúc ông ta rời PVN vẫn trên 100 USD/thùng) mà còn tiếp quản từ tay người tiền nhiệm khoảng 5 tỷ USD vốn liếng.
Thanh – Thuận, cho dù tội trạng tày đình cũng chỉ là kẻ thừa hành. PVC chưa phải là mất mát đau nhất ở PVN dưới thời Đinh La Thăng; di sản của ông ta sau 5 năm ở đây chỉ có thể nói là “tan hoang”.
Nếu các cơ quan pháp luật muốn làm tới nơi thì quy mô của vụ án không chỉ “xảy ra ở PVC” mà là ở PVN, vấn đề không phải là Thuận hay Thanh mà là Thăng.
Huy Đức/(FB. Huy Đức)

LIỆU TRẦN ĐẠI QUANG CÓ DÁM ĐÁNH PHỦ ĐẦU TBT TRỌNG HAY KHÔNG?

NGUYỄN TRỌNG DÂN/ DLB 25-9-2016

A. Tại sao cần đề cập đến vai tṛ TC II?

Việt Nam dồn dập nhiều sự kiện sau ĐH đảng lần thứ 12: Hai ông tướng đứng đầu quân đội là bộ trưởng QP Phùng Quang Thanh và tham mưu trưởng Đỗ Bá Tỵ bị tước hết mọi uy quyền cùng một lúc. TL QKII là tướng Lê Xuân Duy bất ngờ qua đời với nhiều nghi vấn là bị đầu độc liệt gan. Cả ba cán đầu tỉnh Yên Bái thuộc QK II, trong đó có cả bí thư Phạm Duy Cường bị bắn chết ngay tại trụ sở giữa ban ngày. Đó là chưa kể những sự kiện ngoại giao xảy ra liên tục trong một thời rất ngắn chừng sáu tháng trở lại đây từ việc Ấn Độ cho mượn tiền mua hỏa tiễn đến việc tân bộ trưởng QP là chính ủy Lịch sang thăm Trung Cộng mở đường cho thủ tướng “mát-de” Phúc sang kư kết nhượng bộ thêm về kinh tế; báo hiệu Việt Nam sẽ c̣n tiếp tục nhập siêu từ Trung Cộng nhiều hơn nữa.

Phân tích thật hư của bao nhiêu đó sự kiện xảy ra mà không mô tả càng rơ càng tốt vai tṛ của Tổng Cục II (TC II), một bộ phận của quân đội chuyên về t́nh báo và ám sát, hiện đang nằm dưới quyền điều khiển trực tiếp của TBT Trọng th́ là một sự thiếu sót rất lớn.

B. Những can dự của TC II đối với tranh chấp nội bộ đảng ở quá khứ:

Nghị định 96/CP thành lập TC II do thủ tướng Vơ Văn Kiệt kư vào ngày 11 tháng 9 năm 1997 dựa trên Pháp Lệnh t́nh báo do chủ tịch QH lúc bấy giờ là Nông Đức Mạnh cho thông qua. Thật là một sự trùng hợp không ngờ, tháng Chín ngày 11 (9-11) là ngày tưởng niệm các nạn nhân tử nạn v́ khủng bố ở Hoa Kỳ th́ cũng là ngày kỷ niệm thành lập TC II. Nghị định này được kư do sự hậu thuẫn ngầm của thượng tướng Lê Khả Phiêu, nhằm thu lượm tin tức để khống chế vây cánh TBT Đỗ Mười nhằm giúp Phiêu có thể lên làm TBT đảng ba tháng sau đó thông qua hội nghị TƯ đảng lần thứ tư. Phiêu lên làm TBT không phải thông qua ĐH đảng mà thông qua hội nghị TƯ. Như vậy, Phiêu đă dùng TC II làm một cuộc chỉnh lư, đảo chánh một cách ngoạn mục. Xin lưu ư là sau ĐH đảng lần VII vào 1996, Đổ Mười vẫn bám ghế TBT không nhả cho đến măi một năm sau, Phiêu mới đủ khả năng hất văng nổi Đổ Mười.

Từ đó, Phiêu nắm chặt TC II như là một công cụ cần thiết để duy tŕ quyền lực TBT của ḿnh, dùng TC II theo dơi hù dọa gieo rắc sợ hăi lên các ủy viên TƯ đảng. Sợ hăi hay không th́ chưa biết những bất măn gia tăng khiến Nông Đức Mạnh chớp thời cơ, thuyết phục TC II x́ ra tin tức bôi xấu, bảo Lê Khả Phiêu có cô vợ trẻ không chính thức người Hoa có tên là Trương Mỹ Vân. Phiêu bị mang tiếng là rơi bẫy mỹ nhân kế của t́nh báo Trung Nam Hải để rồi phải kư đất nhượng đảo một cách vô lư cho Trung Cộng, nhất là kư kết san nhượng vịnh Bắc Bộ với giá 2 tỷ Mỹ kim.

Tuy nhiên trên thực tế, Phiêu chống lại vây cánh thân Mỹ của chủ tịch nước Trần Đức Lương, thủ tướng Phan Văn Khải và đă làm bọn này bể mặt nặng nề ngay trước mặt tổng thống Clinton khi ông viếng thăm Việt Nam vào năm 2000. Phiêu không chịu đồng ư một cách rất bất lịch sự những ǵ bọn Khải, Lương hứa hẹn trước với Hoa Kỳ để có thể mời được tổng thống Clinton sang thăm cho nở mày nở mặt. Sau khi tổng thống Clinton ra về, Khải và Lương hết sức căm giận Phiêu nên t́m đủ mọi cách mua chuộc lôi kéo thuyết phục tướng Đặng Vũ Chính, cục trưởng TC II, phản lại Phiêu, đồng ḷng với bọn Khải, Lương truất phế Phiêu. TC II phản Phiêu nên một mặt vừa tung tin bôi nhọ triệt hạ Phiêu thẳng tay. Mặt khác, báo cho các ủy viên TƯ đảng là hủy bỏ mọi chương tŕnh theo dơi khống chế các ủy viên do Phiêu tiến hành trước đây. Bị chỉ trích tấn công tứ bề, TC II lại làm phản bất tuân mệnh lệnh, không chịu khống chế các ủy viên TƯ đảng cho ḿnh nữa, Phiêu bị mất chân đứng quyền lực nên rớt đài khỏi chức TBT ở ĐH đảng lần thứ IX một cách thê thảm dù Khải và Lương vẫn ngồi lại chức vị sau đại hội đó.

Sau khi Phiêu bị hất và Nông Đức Mạnh lên làm TBT thế Phiêu vào năm 2001 th́ ai ai trong TƯ đảng đều đồng ư là duy tŕ TC II là cần thiết nhưng để TC II đe dọa theo dơi các ủy viên TƯ đảng là điều cấm kỵ nên TC II từ này phải nằm dưới sự quản lư của bộ QP, không thể bay nhảy vào TƯ tự tung tự tác như trước nữa, cũng như TBT không được quyền dùng TC II để khống chế ác nhân vật ở TƯ nữa.

Vào năm 2002, một năm sau khi đă lấy được ghế TBT, Mạnh cho tướng Chính về hưu và đề cử con rể của tướng Chính là tướng Nguyễn Chí Vịnh lên thay. Mạnh làm như vậy vừa khiến Chính rất an tâm mà về hưu, vừa làm mọi người trong TƯ đảng ai cũng an tâm v́ Vịnh sẽ được tập thể quyết định sai đâu đánh đấy. TC II không c̣n là đặc quyền của TBT nữa và không c̣n là tổ chức dí súng hù dọa các ủy viên TƯ đảng nữa. Nghĩa là, TC II của Vịnh từ nay sẽ tuân theo mọi quyết định sau cùng của Thường vụ Quân ủy TƯ, một “tập thể” thường thường bao gồm TBT, thủ tướng, bộ trưởng QP, chủ nhiệm Tổng Cục Chính Trị, và các thứ trưởng QP.

Năm 2004, Thủ tướng Khải phong Vịnh lên làm Trung Tướng. Nhiều lời đồn cho rằng Khải thưởng công Vịnh v́ Vịnh có công sai quân ra dàn xếp cho con trai của Khải thoát khỏi sự truy sát của các băng đảng gốc Hoa ở Đông Nam Á và Ma Cao một cách êm thắm. Ngoài ra, nhiều tin đồn Vịnh cũng như TC II đứng ra đảm nhận trách nhiệm chuyển tiền ra ngoại quốc cho giới chóp bu như Khải hay Mạnh hay Trần Đức Lương nên được thưởng công. Tin đồn đúng hay sai được phần nào hay không chưa biết, nhưng trên thực tế, ĐCSVN cần phong Vịnh làm trung tướng để Vịnh có thêm uy quyền điều khiển TC II lan rộng ra nhiều quốc gia khác để thu thập tin tức t́nh báo về QP trước bối cảnh Việt Nam hội nhập vào thế giới ngày một sâu rộng hơn và t́nh h́nh biển Đông đang bắt đầu manh nha căng thẳng, quân đội đang cần vũ khí mới.

Từ năm 2005 đến 2006, quyền uy của thủ tướng Khải bị yếu hẳn đi và bị phó thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từ từ lấn át lấy hết quyền hành. Đó là chưa kể vụ án tham nhũng PMU 18 thuộc bộ Giao Thông Vận Tải vào năm 2006 khiến Khải bó tay hết đường chống đỡ mà phải nghỉ hưu giữa nhiệm kỳ. Khải thiếu kinh nghiệm ngoại giao nên chuyến đi lần đầu tiên của một thủ tướng CS thăm Hoa Kỳ vào năm 2005 bị đổ vỡ hoàn toàn, chính phủ Bush không ưa Khải, cho Khải là dốt nát không thể bàn bạc được ǵ dù Khải đă được giới công ty dầu hỏa Mỹ cũng như giới kỹ nghệ xe hơi hết ḷng nâng đỡ trợ giúp. Khải đi từ Mỹ về với hai bàn tay trắng mà không đạt được thỏa thuận ǵ đáng kể. Điều này khiến phó thủ tướng Dũng thúc ép bộ Công An, cục An Ninh của tướng Hưởng phản pháo bôi xấu Khải để Khải hiểu rơ phải từ chức để được an thân.

C. “Châu về hợp phố”:

Sự nhu ḿ và an phận của Mạnh về mặt nội bộ tạo ra cơ hội ngàn vàng cho Nguyễn Tấn Dũng thâu tóm quyền lực. Đơn giản là Mạnh biết cách giảm bớt xung khắc trong đảng nhưng lại không biết cách để các đảng viên làm giàu, trong đó có cả Mạnh. Dũng được Hoa Kỳ hỗ trợ tài chánh từ FDI, đến các khoản cho vay không hoàn lại khiến đảng viên tha hồ mà đục khoét. Chủ trương của Dũng là nắm chặt bộ Công An để dẹp mọi chống đối lật đổ đảng cũng như dùng công an đè bẹp khống chế những ai phản lại ḿnh bên trong đảng nên vai tṛ của TC II từ từ bị đi vào lăng quên, kinh phí bị hạn hẹp so với các tập đoàn kinh tế hay các bộ ngành khác. TC II hoàn toàn bị dồn, Dũng dồn ép phải chịu sự điều khiển của bộ QP, không thể ra ngoài khuôn khổ và Dũng nâng đỡ các tướng lănh công an tối đa khiến con đường đi vào bộ Chính Trị của tướng Vịnh gần như mỗi lúc mỗi khó hơn trong khi các tướng công an núp bóng Dũng ồ ạt thăng lon đi vào TƯ.

Dũng tăng ngân sách cho bộ CA phát triển mạnh, lực lượng CA cơ động thiện chiến ngày càng đông, đó là chưa kể ngành t́nh báo CA cũng được mở rộng. Dưới thời Dũng làm thủ tướng, quân đội Việt Nam bị tụt hậu nghiêm trọng trong khi bộ CA được trang bị mọi vũ khí, phương tiện tối tân để đảm bảo khả năng trấn áp duy tŕ vai tṛ lănh đạo chính trị của đảng mà Dũng đang làm thủ tướng nắm hết binh quyền. Vai tṛ chính trị của TC II từ năm 2006 đến 2008 hoàn toàn mờ nhạt trong khi cục t́nh báo của bộ CA, do thượng tướng CA Nguyễn Văn Hưởng nắm, lại được thủ tướng Dũng trọng dụng trở nên nổi đ́nh nổi đám, được ca ngợi như là “làm ăn hiệu quả” trong việc bắt bớ những người đấu tranh cho Dân Chủ.

TC II bắt đầu bất măn với thủ tướng Dũng một cách ngấm ngầm từ đó v́ không c̣n được trọng dụng như trước nữa. Nguyễn Chí Vịnh không chống đối ra mặt v́ biết thủ tướng Dũng thế rất mạnh, do Dũng là người đi “kiếm chén cơm” về cho toàn đảng, ai ai trong TƯ đảng cũng cần dựa vào Dũng để làm giàu.

Thế nhưng từ năm 2008 trở đi, Vịnh bắt đầu có cơ hội tiến thân khi vị tổng thống tân cử Obama của Hoa Kỳ tuyên bố Đông Nam Á là trọng tâm của chính sách đối ngoại dẫn đến sự nổi giận của Trung Cộng khiến bộ QP của Cộng đảng lúng túng về mặt đối ngoại cũng như đối sách ứng phó – Tướng Vịnh tỏ ra có khả năng giao tiếp trong lănh vực QP với các nước lân bang như Úc hay Singapore khiến TBT Mạnh tin cẩn cất nhắc lên làm thứ trưởng bộ QP cho trọng trách giao tiếp đối ngoại của Vịnh được dễ dàng.

Điều này làm cục t́nh báo an ninh của tướng Hưởng ghen tỵ nên bôi xấu Nguyễn Chí Vịnh tối đa. Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng dù sao cũng đă ngồi ở TƯ từ khóa IX năm 2001 nên không muốn tướng Vịnh tép riêu yếu thế qua mặt ḿnh, đảm đang đối ngoại QP. Từ năm 2009 trở đi, tức là năm tướng Vịnh được phong làm thứ trưởng bộ QP đặc trách đối ngoại, tướng Hưởng giật dây cho hàng loạt các tay chân của ḿnh lên tiếng tố cáo tướng Vịnh, chẳng hạn như thư tố cáo của trung tá Vũ Minh Trí, hay vụ tướng Giáp tố cáo tướng Vịnh, gây áp lực cho TBT Mạnh. Đó là chưa kể pháo dội trong dư luận liên tục của Bùi Tín lên án Vịnh là tay sai gián điệp của Trung Cộng. Vịnh im lặng núp bóng bộ QP và biện minh rằng mọi quyết định hành động của ḿnh đều đi theo chỉ thị “tập thể” của UB Quân ủy TƯ. Vịnh tự nhận ḿnh là thiên lôi, sai đâu đi đó mà thôi nên tướng Hưởng đuối lư, chẳng làm ǵ được Vịnh.

Một điều bất ngờ hơn nữa là phía Hoa Kỳ đột nhiên chê bai tướng Hưởng ra mặt, cho là Hưởng yếu kém về mặt đối ngoại khiến thủ tướng Dũng phát hoảng cho Hưởng về hưu vào năm 2013 và giữ bên cạnh ḿnh làm cố vấn an ninh. Hưởng bực ḿnh chỉ trích Hoa Kỳ không chịu bênh vực Việt Nam công khai mạnh mẽ hơn nữa trước sự lấn hiếp của Trung Cộng tại biển Đông. Hoa Kỳ lại đi khen tướng CA Tô Lâm hơn tướng Hưởng theo như đài BBC loan báo trên đường link

http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam/2011/09/110905_more_wikileaks_general_huong.shtml.

Thế là tự nhiên Vịnh thoát khỏi búa ŕu dư luận của Hưởng giật dây do Hưởng phải về hưu, mất hết uy quyền.

Nguyễn Phú Trọng trở thành TBT vào tháng Giêng năm 2011 rấp tâm muốn loại Dũng ra khỏi TƯ cho bằng được dù kín đáo che đậy. Trọng lật đật phong Vịnh lên làm thượng tướng vào tháng 12 cùng năm thông qua bộ QP một cách rất khéo khiến Dũng không nghi ngờ do Dũng coi thường TBT Trọng, cho là Trọng c̣n quá yếu.

Thế là “châu về hợp phố”, TC II lại từng bước nằm trong bàn tay của TBT như buổi ban đầu thời Lê Khả Phiêu. Do có đến tám năm làm cục trưởng TC II nên toàn bộ TC II đến giờ này vẫn là nghe theo lệnh của Vịnh. Trọng có được Vịnh cung cấp tin t́nh báo đời tư các ủy viên nên từng bước, rào đón uy hiếp các uy viên, dẫn đến cô lập thanh thế của Dũng từ từ.

D. Sai lầm của thủ tướng Dũng:

Từ ĐH đảng lần thứ 10, sai lầm thứ nhất của Dũng khi dồn nỗ lực lo đối phó với vây cánh của Hồ Đức Việt, trưởng ban tổ chức TƯ, t́m đủ cách đề ông này bị hất văng ra khỏi TƯ mà quên nh́n đến Trọng, đang làm Chủ Tịch QH, nghị gật lù khù. Dũng cần phải loại Trọng ngay từ đầu. Khi trở thành TBT, Trọng đă từng bước có tính toán liên kết với TCII, liên kết với Trương Tấn Sang, chặt từ từ bớt thế lực của Dũng ở dàn bí thư tỉnh, dàn đảng ủy khối CA, đảng ủy ở các tập đoàn kinh tế, ngân hàng, ban tuyên giáo, cũng như cô lập tướng CA Lê Hồng Anh, ngồi ở chức bí thư để kèm kẹp Trọng giùm cho Dũng. Lê Hồng Anh làm sao mà đối phó lại Trọng cho nổi!

Sai lầm thứ nh́ là Dũng quá coi trọng bộ CA nên để xổng TC II lọt vào tay Trọng một cách dễ dàng. Nhờ có TC II trong tay, Trọng lần hồi khống chế lôi kéo được các tướng lănh trong quân đội bất măn Dũng do ăn chia quyền lợi kinh tế không đồng đều. Trọng cũng dùng Nguyễn Chí Vịnh kéo dài tiến tŕnh mở cửa Cam Ranh để đường lối hợp tác quân sự giữa Hoa Kỳ và Việt Nam bị tŕ trệ, chậm chạp khiến Trọng có đủ thời giờ t́m thêm hậu thuẫn từ Bắc Kinh về tiền tài để mua chuộc các ủy viên TƯ khác trong đảng phản Dũng. Cũng giống như TBT Phiêu, Trọng dùng TC II để củng cố thế lực nhưng kín đáo và có tính toán hơn hẳn Phiêu. Dũng có thừa tiền nuôi TC II nhưng do quá khứ tai tiếng của TC II thời Lê Khả Phiêu nên Dũng bỏ lửng TC II cho QP quản lư. Do đó, TC II từng bước ngả vào TBT Trọng để có thêm quyền lực.

Điều sai lầm quan trọng nhất của thủ tướng Dũng là ông ta không có một kế hoạch cụ thể nào trong việc lật hay triệt tiêu Nguyễn Phú Trọng hoàn toàn. Dũng chỉ lo chống đỡ sự tấn công của Trọng trong ôn ḥa để duy tŕ sự thống nhất trong đảng mong cùng nhau thụ hưởng uy quyền tiền tài trong khi Trọng th́ t́m đủ cách loại Dũng bằng mọi giá. Đơn giản là v́ Dũng quá tin vào sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ mà quên đi “nước xa không chữa được lửa gần,” Trung Cộng ngày càng tung tài lực hậu thuẫn TBT Trọng công khai khiến vây cánh của Dũng bị đuối dần do mải lo chống đỡ hơn là phản công.

Nay Dũng bị hất văng ra khỏi bộ chính trị là hoàn cảnh quá thuận lợi để TC II hoành hành trở lại. Bộ CA bao lâu nay được Dũng cưng chiều sẽ là mục tiêu thanh toán hàng đầu của TC II trong cuộc đấu đá dành quyền lực. Đương nhiên, tham vọng này không nằm ngoài chủ ư của TBT Trọng.

E. Nguyên nhân đối đầu giữa Trần Đại Quang và Tổng Cục II:

Khi bộ trưởng CA Trần Đại Quang viếng thăm TC II vào tháng 12 năm 2014 th́ mọi người thấy ngay nỗ lực muốn dàn ḥa giữa bộ CA và TC II, xóa bỏ hay cố t́nh làm giảm dần những căng thẳng xích mích trước đó. Mức độ dàn ḥa sâu đến đâu chưa biết, nhưng mở đường cho Trần Đại Quang lôi kéo tăng thêm ảnh hưởng của riêng ḿnh đối với TC II. Ông Quang yêu cầu TC II phải hợp tác chặt chẽ hơn nữa với bộ CA. Quang né tránh sai lầm của thủ tướng Dũng trước đó và t́m đủ cách lôi kéo TC II ra khỏi ảnh hưởng của bộ QP và hổ trợ Quang trong tương lai.

Khi bộ trưởng QP Phùng Quang Thanh thất lễ với bộ trưởng QP Hoa Kỳ là ông Carter buộc thủ tướng Dũng phải ra tay dạy cho Thanh một bài học, nhờ tướng Đỗ Bá Tỵ ra lệnh giam lỏng và tước hết binh quyền của Thanh vào tháng Sáu năm 2015 th́ TC II phản đối và TBT Trọng đă gọi Trung Cộng ra mặt ép Dũng buông tay. Sau vụ này rồi, TC II biết rơ nếu Dũng ngồi lại sau ĐH đảng lần thứ 12 th́ TC II hết đường sống nên tung hết lực khống chế thuyết phục các ủy viên bỏ phiếu truất phế Dũng để hưởng tài lực mua chuộc bởi Trung Cộng.

Tướng Tỵ nghe theo lời thủ tướng Dũng thi hành vụ giam lỏng này nhưng bất thành khiến ông ta bị hất văng ra khỏi bộ QP.

Bộ trưởng CA Trần Đại Quang biết đây là cơ hội ngàn vàng để khiến Phùng Quang Thanh không thể nào ḍm ngó chức Chủ tịch nước được nữa nên gật đầu cộng tác với TBT Trọng và Trương Tấn sang cứu Phùng Quang Thanh ra khỏi sự giam lỏng. Quang đưa lính đến bộ QP giải cứu Thanh khiến Tỵ bị hỏng gị. Tuy nhiên, để mua chuộc và giảm bất măn của các tướng tá quốc pḥng theo chân tướng Tỵ, Quang hứa hẹn tăng cường mua vũ khí hiện đại như các tướng lănh mong muốn để đối phó với Trung Cộng. Quang cũng ráng bao che khiến dàn tướng tá theo chân Đỗ Bá Tỵ c̣n nguyên tại chức, chỉ có mỗi ḿnh tướng Tỵ là bị hất văng ra khỏi bộ QP nhưng vẫn c̣n là ủy viên TƯ đảng. Điều này khiến TC II lo ngại v́ sợ tướng Tỵ sau này nếu có cơ hội có binh quyền trở lại sẽ bóp nát TC II trong chớp mắt.

Cho đến giờ phút này, vụ điều tra án mạng ở Yên Bái đă ch́m xuồng. Không thanh toán các nạn nhân tại nhà riêng mà đi vào thẳng trụ sở tỉnh thanh toán là tác phong của bên quân đội, không phải tác phong thanh toán của cục an ninh thuộc bộ Công An. Thanh toán giữa ban ngày ban mặt tại trụ sở tỉnh sắp có cuộc họp người đi qua đi lại đông đúc chứng tỏ các sát thủ không hề sợ bị truy tố hay sợ có người biết. Đây cũng không phải là tác phong thanh toán của giới giang hồ buôn lậu gỗ như Cộng đảng tung tin đồn. Cho nên mọi nghi vấn khi điều tra vụ thanh toán tại Yên Bái bắt buộc sẽ phải dồn vào TC II hoặc bộ TLQK II. Tuy nhiên, bộ TLQK II dù có bất đồng hay ghét bí thư Cường ra mặt th́ cũng không thể tùy tiện đi bắn một uy viên TƯ đảng ngay trụ sở. Như vậy, chỉ c̣n lại có TC II là nghi phạm lớn nhất bởi v́ TC II có đầy đủ khả năng ám sát và có sự hậu thuẫn trực tiếp của TBT. Cục 11 của TC II có thể là cục đảm nhiệm vụ thanh toán này. Cục 11 của TC II chuyên về trách nhiệm nhổ mọi cái gai nguy hiểm cho TƯ đảng hay cho TBT.

Phía bên CA Trần Đại Quang đúng ra đă có thể hư hửng đẩy người của ḿnh vào ngồi ghế của ông Cường cho thêm thanh thế ở QK II sau khi lực lượng CA của Tô Lâm ồ ạt kéo lên Yên Bái dàn xếp sự việc nhưng TBT Trọng có lẽ đă đoán được tham vọng của ông Quang ngay từ đầu nên đưa ra một người vô thưởng vô phạt như bà Trà ra làm bí thư. Điều này khiến cho mọi người dễ dàng nhận thấy Trần Đại Quang đă trở thành nỗi lo sợ và là cái gai trong mắt TBT Trọng. Chỉ đúng một tháng sau vụ Yên Bái, TBT Trọng trở thành TBT đầu tiên ngồi trong đảng ủy bộ CA để xét việc. Rơ ràng, Chủ tịch nước tướng CA Trần Đại Quang hiểu rằng tính mạng ḿnh đang bị TC II đe dọa và Quang có khả năng thuyết phục được TC II phản Trọng hay không th́ cần thời gian để kiểm chứng. Hoặc là nếu Quang ỷ ḿnh nắm cục An ninh trong bộ CA cũng đủ mạnh để phá vỡ sự kiểm soát của TBT Trọng đối với ḿnh th́ đương nhiên, bộ CA sẽ phải đương đầu bắn nhau đ́ đùng với TC II, một điều rất dễ xảy ra trong nay mai ở Hà Nội.

Bất luận là có vụ bộ CA bao che để ông phó chủ tịch tỉnh Hậu Giang Trịnh Xuân Thanh trốn thoát hay không th́ TBT Trọng vẫn t́m cách không chế bộ CA lư do ông Quang đang có xu hướng thực hiện lời hứa của ḿnh đối với bên quân đội, đó là mua thêm vũ khí để pḥng chống Trung Cộng làm TBT Trọng rất khó xử trước chủ tịch Trung Cộng Tập Cận B́nh. Hơn nữa, tàn dư vây cánh tham nhũng của thủ tướng Dũng ồ ạt núp bóng Quang th́ TBT Trọng không thể nào để yên.

Không cần Trương Tấn Sang tự là Tư Sâu viết bài than thở để nhắc nhở nền chính trị Việt Nam lắm trăn trở đa đoan để kêu gọi đoàn kết, Trần Đại Quang không ngu dại ǵ chọn con đường nhịn nhau để cùng sống như thủ tướng Dũng lầm lỡ trước kia nữa v́ với sự can dự và hậu thuẫn sâu rộng của chủ tịch Trung Cộng Tập Cận B́nh, TBT Trọng sẽ không dại ǵ mà nhường hay chịu chia sẻ quyền lực của vây cánh ḿnh cho bất cứ vây cánh nào khác trong đảng để cùng nhau hưởng tài lộc uy quyền. Phe TBT Trọng muốn gom trọn! Trần Đại Quang biết rơ điều đó và chắc chắn, Quang cần phải ở tư thế sẵn sàng phản công. Trần Đại Quang đang cố lôi kéo quân đội về phía ḿnh, cố ḥa giải những bất đồng giữa bộ CA và các tướng lănh bộ QP. Khó khăn ở một chổ là, mọi động tĩnh bên bộ QP, TC II đều ngăn cản. Trần Đại Quang cần tướng Đỗ Bá Tỵ trở lại bộ QP để thảm sát người của TC II, bẻ găy uy quyền của TBT Trọng càng sớm càng tốt!

Viên đạn của bên nào bay ra nhanh hơn, của TC II hay của bộ CA th́ cần thời gian để trả lời, nhưng chắc chắc, sự hiện diện của bộ trưởng CA Trung Cộng Quách Thanh Côn ngay vào thời điểm này tại Hà Nội khiến Trần Đại Quang biết rơ là ḿnh không c̣n nhiều th́ giờ để chuẩn bị cho cuộc phản kích thẳng vào TC II hay TBT Trọng nữa. Có lẽ, ngoài Nguyễn Tấn Dũng ra, ngay cả Trần Đại Quang cũng không phải là đối thủ của TBT Trọng về khả năng đấu đá dành quyền lực. Hơn nữa, liệu Trần Đại Quang có dám đánh phủ đầu TBT Trọng hay không?

25.9.2016

CÓ CẦN HOẢNG HỐT KHI NGUYỄN TRỌNG NẮM QUYỀN CÔNG AN ?

BÙI QUANG VƠM/ DLB 24-9-2016

Sáng 21-9, Hà Nội công bố Quyết định của Bộ Chính trị Khóa XII về việc chỉ định Đảng ủy Công an Trung ương nhiệm kỳ 2015-2020.

Tại buổi lễ, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Phạm Minh Chính đã công bố Quyết định của Bộ Chính trị về việc chỉ định Đảng ủy Công an Trung ương nhiệm kỳ 2015-2020, gồm 16 người; Ban thường vụ Đảng ủy gồm 7 người, trong đó có 3 Lãnh đạo Đảng, Nhà nước là: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trần Đại Quang và Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc.

Nhiều người hoảng hốt. Ông Trọng đương kiêm bí thư Quân uỷ trung ương, bây giờ nhảy vào thường vụ đảng uỷ bộ Công an. Có phải sắp đại loạn đến nơi không?

Bình tĩnh một chút sẽ thấy đây là phản ứng trực tiếp đối phó chuyện chạy trốn của Trịnh Xuân Thanh.

Việc khẳng định chính quyền đảng trị phi dân chủ, không còn là chuyện phải tranh luận, nhưng chỉ vì không thể chấp nhận chế độ mà lẫn lộn khái niệm đạo đức, đến mức bênh vực kẻ cắp, thì sẽ không còn công lý nữa.

Nếu tôi gọi Trịnh Xuân Thanh là một tên ăn cắp, sẽ có ai phản đối?

Tất nhiên, hắn không ăn cắp của đảng, đảng không có gì để hắn ăn cắp. Hắn ăn cắp của dân. Trong con số 3.300 tỷ đồng thất thóat thua lỗ, có một phần vào túi hắn. Đó là mồ hôi, nước mắt, thậm chí là xương máu cuả 3 triệu người dân lương thiện làm ra trong một năm.

Hắn có thể bây giờ chống lại đảng của hắn, nhưng hắn chống ai, thì hắn vẫn là thằng ăn cắp. Hắn ăn cắp của dân, thì dù hắn có trốn thoát vòng tay của tổ chức đảng của hắn, hắn không và sẽ không bao giờ chạy thóat khỏi lưới trời.

Hắn lách được kẽ hở của đảng luật, một thứ pháp luật vận hành bằng chỉ thị của lãnh đạo đảng, vọt được sang Đức hay đâu đó, bên ngoài Việt Nam. Nhưng khốn nạn cho hắn, ngoài Việt Nam, thì luật đảng không còn giá trị. Hắn sẽ không có lối thoát nữa. Sớm hay muộn thì hắn cũng bị bắt.

Hắn đang cố tình lập lờ đánh lận, bịt mắt thiên hạ bằng hoả mù chống đảng, để lách luật chính trị. Hắn trở thành một thằng ăn cắp có hạng là nhờ đảng của hắn. Hắn lên lon, lên chức là nhờ hắn biết đường tận tụy với đảng. Hắn có cơ hội để ăn cắp của dân, vì nhờ có đảng, hắn có địa vị, có quyền lực, và bởi vì đảng cuả hắn trao vào tay hắn một khối tài sản khổng lồ nhưng không có chủ nhân, gọi là tài sản quốc dân, tài sản thuộc sở hữu nhà nước. Nếu hắn không ăn cắp thì mới là một thằng ngu. Có cái chỗ nào có tài sản thuộc sỡ hữu nhà nước mà không có bọn ăn cắp có thẻ đảng. Vấn đề không phải là bắt thằng ăn cắp, mà việc cần trước hết là không để có cái gì vô chủ trước mặt bọn sẵn sằng ăn cắp ấy.

Nhưng của ăn cắp dù có nhiều cũng không thể vô hạn, và không thể đủ để chia khắp. Và nguyên nhân chính hắn bị đảng của hắn truy lùng bắt bớ, chính là trong đảng của hắn, hắn chỉ cung phụng được có một phần. Những kẻ đang tổ chức truy lùng hắn là những kẻ nằm ngoài số đó.

Bây giờ trốn được ra nước ngoài, hắn đang tìm cách tạo dựng cho hắn một hồ sơ chính trị. Hắn chống đảng của hắn vì hắn yêu nước, vì hắn không chịu được chế độ độc tài đảng trị. Hắn không chịu được hành vi đè lên luật pháp của chính ngài tổng bí thư đảng. Hắn không là thằng ăn cắp tiền của, hắn chống đảng vì một cuộc đấu tranh vì một nền dân chủ thật sự cho tổ quốc yêu dấu của hắn. Hắn phải được xem là nạn nhân chính trị. Bên cạnh cái biệt thự giá 5 triệu Euro, hắn sẽ còn được hưởng trợ cấp tị nạn. Hắn sẽ xin được quy chế đoàn tụ gia đình để đưa nốt những người còn lại. Hắn sẽ trở thành một lãnh tụ phong trào dân chủ cho Việt Nam.

Ông Trọng, trước hết không nằm trong nhóm những kẻ có phần ăn chia cái thất thoát 3.300 tỷ đồng đó. Có thể thấy, những kẻ xúm quanh ông Trọng hiện là những người này. Ông Đinh Thế Huynh, thợ cạo giấy, chuyên nghề lý luận, ông Tô Lâm, nguyên thứ trưởng Công An phụ trách An ninh đối ngọai, Trần Quốc Vượng, nguyên viện trưởng Kiểm sát tối cao, Trương Hoà Bình, Chánh án Toà án tối cao, Ngô Xuân Lịch, tướng mà làm bí thư…toàn những nhân vật chức vụ rất cao, nhưng không có phần chia trên chiếc bánh ăn cắp, mà chỉ tử tế thì có chút ít quà cáp.

Không nói tới chuyện khác, chỉ riêng cái bánh 3.300 tỷ này, lần theo con đường nào cũng dẫn tới chỗ Đinh La Thăng và Nguyễn Tấn Dũng. Ông Thăng là cấp trên trực tiếp của Trịnh Xuân Thanh và Vũ Đức Thuận, hai tên nhúng bùn trực tiếp, với chuyên môn nguyên là một kế toán trưởng, chưa biết chừng chính Đinh La Thăng mới là kẻ chủ mưu ăn cắp. Chính vì vậy mà xong chuyện, Trịnh Xuân Thanh lẩn như trạch, lánh thật xa, lặn thật sâu.

Nhưng ông Thăng sơ hở ở chỗ ông Thuận, tác giả Kami nói, ông Thuận này là tay hòm chìa khoá của ông Thăng, nghĩa là không được phép xa ông Thăng nưả bước. Chạy lòng vòng, nhưng khi ông Thăng được ông Dũng giao chức bộ trưởng giao thông, thì Vũ Đức Thuận về làm chánh văn phòng Bộ. Đầu tháng ba, ông Thăng vào làm bí thư Sài Gòn, thì lập tức Vũ Đức Thuận bỏ mặc Văn phòng bộ, lang thang vào Sài gòn chờ cho đến khi ông Thăng thu xếp khả dĩ yên vị, mới bổ nhiệm ông này thành phó chánh văn phòng đảng uỷ. Việc thu xếp này kéo hơi dài, thể hiện ông Thăng không hề làm chủ địa bàn và bộc lộ hoàn toàn bộ mặt thật của Đinh La Thăng.

Có thể dễ dàng đoán nhận ra, Đinh La Thăng là giải pháp thoả thuận giữa Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Phú Trọng, trả giá cho việc chấp nhận rút lui của ông Dũng trước đại hội XII.

Sài Gòn là khát vọng nung nấu của Nguyễn Tấn Dũng, vưà để trả hận Lê Thanh Hải, vừa nắm nguồn tấc đất tấc vàng, trong đó có kể đến con vịt đẻ trứng vàng trong tay Lê Thanh Hải là tập đoàn gốc Hoa Vạn Thịnh Phát. Ông Thăng làm ầm ĩ báo chí, trảm tướng, chỉ là để ra oai, phát tín hiệu dụ hàng đối với Vạn Thịnh Phát. Sự kiện khu ngã tư Nguyễn Huệ vào tay Vạn Thịnh Phát vưà rồi báo hiệu kết thúc cuộc mặc cả, và Vạn Thịnh Phát đã đầu quân cho ông Dũng và Thăng.

Nhưng việc khởi phát tiếng súng tấn công này cùng một lúc với việc ban hành ban hành văn bản số 13-TB/TW Thông báo Kết luận của Ban Bí thư về việc xác định tuổi của đảng viên có thể là một sai lầm nữa của ông Trọng. Ông không thể cùng lúc cáng đáng cả ông Dũng lẫn ông Quang. Đây có thể là sự nôn nóng quá sức của ông Đinh Thế Huynh, vì có thể thời hạn giữa nhiệm kỳ đã đến quá gần. Buộc phải vừa bắn vưà dọn ngai.

Nhưng nếu vì bị ép qúa, ông Quang sẽ lại quay lại với ông Dũng. Nếu phải đánh trận như vậy, ông Trọng và ông Huynh tất thất bại, chế độ sẽ sụp đổ. Ông Dũng chỉ có tiền và đội ngũ những tên ăn cắp sẽ không làm chủ được tình hình. Quân đội sẽ lợi dụng khoảng trống, và một chế độ quân phiệt do Tập đoàn 319 tài trợ sẽ được thiết lập. Cha con Phùng Quang Thanh có thể quay trở lại.

Nếu lực lượng quần chúng chưa sẵn sàng, khung kết cấu nền dân chủ chưa có, thì Việt Nam buộc phải đi qua một thời kỳ quân phiệt, tương tự như những gì từng xảy ra tại Mianmar, lịch sử Việt nam sẽ lại phải dừng lại ít nhất hai mươi năm nữa.

Nghiêm trọng, nhưng dư luận mải miết săn tìm Trịnh Xuân Thanh. Cái tội này có phần do Gió gây ra. Gió là chuyển động không khí từ chỗ áp suất khí quyển cao sang chỗ có áp suất thấp. Mà áp suất khí quyển thì giống như hiệu ứng cánh bướm, nói rằng, một con bướm vỗ cánh tại Bắc Kinh có thể gây ra bão ở New York. Nhưng khi Trịnh Xuân Thanh bị bắt, mà chắc chắn bị bắt, thì Gió có thể cũng tắt.

24.09.2016

ĐIỂM BÁO MẠNG

LÃNH ĐẠO VIỆT NAM VÀ MẠNG XÃ HỘI

BBC/ BVB 21-9-2016

Ông Triệu Tài Vinh Bí thư Tỉnh ủy Hà Giang và ông Trịnh Văn Chiến, Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa

Đồng thời, cư dân mạng cũng chia sẻ cáo buộc rằng tám người thân của Bí thư Tỉnh ủy Hà Giang Triệu Tài Vinh giữ vị trí chủ chốt trong các cơ quan của tỉnh.Cuối tuần qua mạng xã hội ở Việt Nam lan truyền thông tin bí thư Thanh Hóa Trịnh Văn Chiến có con riêng và cung cấp tài sản “nhiều chục tỉ đồng” cho một viên chức sở xây dựng Thanh Hóa. Phản ứng của các bí thư Hà Giang, Thanh Hóa trước thông tin trên mạng xã hội được nhà hoạt động và các trí thức đánh giá là “rất nhanh” và “đáng mừng”.

Rất nhanh sau đó, cả ông bí thư Thanh Hóa và Hà Giang đều có trả lời trên báo chí tại Việt Nam về sự việc liên quan đến họ.
Thông thường, các lãnh đạo tại Việt Nam hiếm khi trả lời các tin đồn hoặc thông tin từ mạng xã hội.
Ông Hoàng Văn Dũng, nhà hoạt động của nhóm Con Đường Việt Nam nhận định các vị trên “đã phản ứng rất nhanh với mạng xã hội” và cho rằng “tức là người ta rất quan tâm”.
“Tôi cho rằng cộng đồng mạng có sức mạnh. Chắc chắn là thế, bởi vì những sự kiện nào bên tuyên giáo chỉ định không được đăng thì dù mạng xã hội có lên tiếng đến mấy thì nó cũng chỉ nằm trên mạng xã hội. Chứ còn những sự kiện như ông Triệu Tài Vinh hay ông bí thư Thanh Hóa thì không nằm trong sự kiểm duyệt của Ban tuyên giáo thì người ta sẽ phải phản ứng ngay lập tức,” ông Dũng nói.
Nhóm Con đường Việt Nam là một trong những trang lan truyền thông tin về bí thư tỉnh Hà Giang có nhiều người nhà làm quan chức.
 
Chưa rõ ảnh hưởng
Tuy nhiên, ông Dũng không lạc quan về việc các thông tin này có ảnh hưởng thực sự hay không. Ông nói với BBC: “Ảnh hưởng hay không còn phụ thuộc vào nội bộ người ta. Nội bộ họ đã thống nhất với nhau, hay gọi là thân mến nhau, cùng phe nhau thì rất khó để có ảnh hưởng gì. Nếu họ không cùng phe và có những vấn đề nội bộ thì đây là cơ hội để người ta tìm cách thay đổi nội bộ.”
“Một số độc giả cảm thấy điều đó là bình thường vì không như thế mới lạ. Một bộ phận nhỏ thì thấy bất ngờ vì cho rằng đó là thêm một lần minh chứng nữa chất lượng cán bộ trong Đảng có rất nhiều vấn đề trục trặc đằng sau về tình ái, tài sản, các quan hệ mang tính chất họ hàng của quan chức.”
Nhà hoạt động này nhận định các vụ việc “là ví dụ cho thấy Đảng đang độc quyền lãnh đạo và đang có rất nhiều vấn đề đằng sau.”
Nhà hoạt động Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Blogger Mẹ Nấm) nhận định sự việc là “dấu hiệu tích cực”.
“Các thông tin trên mạng xã hội có ảnh hưởng đến đời sống và nó buộc các quan chức không thể giữ im lặng, cũng không thể phớt lờ như đã cư xử suốt hàng chục năm qua,” bà Quỳnh nói.
“Nhưng cách phản ứng ngược lại nó cho thấy thay vì chọn một phương thức là công bố hoặc minh bạch thông tin. Thì cách mà ông bí thư tỉnh ủy tỉnh Thanh Hóa chọn là bịt miệng. Ông yêu cầu thu hồi tên miền và xử lý các trang thông tin vi phạm. Hướng xử lý này vẫn chưa vượt qua khỏi cái suy nghĩ có thể kiểm soát được mạng xã hội và thông tin”
“Tôi không nghĩ cách phản ứng của ông Bí thư tỉnh Thanh Hóa là cách hay, minh bạch. Phản ứng của ông bí thư Hà Giang cho người ta thấy một vấn đề sâu hơn. Đó là nếu đúng quy trình thì bí thư không đồng ý bổ nhiệm thì sẽ không có ai đồng ý bổ nhiệm được người nhà ông ấy làm ở các vị trí giữ chức vụ trong cùng một tỉnh,” nhà hoạt động này bình luận về phản ứng của hai lãnh đạo tỉnh.
Nhà văn Nguyên Ngọc, một trong những trí thức nổi tiếng tại Việt Nam nói với BBC ông cho rằng sự phản ứng của các bí thư là “điều đáng mừng”.
Tranh cãi về gia đình bí thư tỉnh Hà Giang bắt đầu từ trên mạng
Ông nói: “Tiếng nói của dân chúng, đặc biệt trong thời của chúng ta, mạng xã hội, không ai ngăn nó được cả.”
“Người ta phản ứng với những hiện tượng xấu trong xã hội, đặc biệt là trong những người có trách nhiệm lãnh đạo. Đã đến lúc thông tin đó giờ lan rộng lắm.”
“Người ta không chỉ đọc trên báo chí. Thậm chí theo tôi biết những người có điều kiện không quan tâm đến báo chí công khai hàng ngày nhiều. Ở đấy chẳng có thông tin gì đáng để mà đọc cả. Và người ta đọc trên mạng xã hội nhiều. Áp lực đó buộc quan chức phải tìm cách trả lời và thanh minh. Nó chứng tỏ rằng mặc dầu sự xiết chặt trở lại nhưng không gian tự do vẫn đang dần được nống ra [mở rộng ra].”
 
Cơ hội để nhà báo lên tiếng?
Trong hai vụ việc tin đồn này, các tờ báo tại Việt Nam trở thành nơi “thanh minh” và lên tiếng của hai bí thư tỉnh ủy. Nhiều tờ báo trích lời ông Trịnh Văn Chiến và ông Triệu Tài Vinh về những vấn đề họ bị cư dân mạng nhắc đến.
“Điều này làm cho những nhà báo chính thống có thể nói về tin đồn một cách chính thức trên mặt báo,” nhà hoạt động Như Quỳnh nói.
“Việc tung một tin đồn từ một trang không rõ, rồi toàn bộ báo chí phải chạy đi xác minh tin đồn, rồi có công văn về tin đồn. Nó cho thấy một nỗ lực dập tắt đám cháy, nhưng đám cháy ấy sẽ lan ra các tỉnh thành khác không sớm hoặc muộn.”
Bà Như Quỳnh gọi đây là “cơ hội xác minh một tin đồn trên trang báo chính thống”.
“Là một nhà hoạt động tôi lại thấy rằng bất cứ thông tin nào có dấu hiệu sai phạm, đặc biệt là sai phạm tham nhũng, lạm quyền suốt mấy chục năm qua, được đưa ra đều tốt hết. Thứ nhất là tốt cho nhận thức người dân. Thứ hai là rồi sẽ phải thay đổi chứ không thể giữ mãi cơ chế ấy được nếu người dân phát hiện được thông tin và lên tiếng. ”
Nhà văn Nguyên Ngọc nói báo công khai tại Việt Nam “rất đáng buồn”.
“Nếu tình hình vẫn tiếp tục phát triển như thế, đến lúc báo chí công khai sẽ phải tìm đến cách khác. Và thực ra với sự o ép mà chúng ta biết, ngay trên báo chí công khai một số nhà báo vẫn tìm cách này cách khác để nói đến một mức độ nào đó để biểu lộ ý kiến của người ta, hoặc tình hình xã hội ở mức độ nào đó trên báo chí công khai.”
“Xã hội vừa bị siết chặt trở lại, thậm chí các mảng tự do, thậm chí những mảng tự do ngay trên báo chí công khai cũng được nống ra dần dần từng chút một. Tất nhiên là ít hơn rất nhiều và khó khăn hơn rất nhiều. ”
“Tôi biết có rất nhiều nhà báo còn có lương tâm. Họ buộc phải giữ cái diễn đàn đó. Họ phải giữ gìn, nhưng vẫn tìm cách này cách khác để phản ánh dư luận xã hội, ” nhà văn, nhà nghiên cứu Nguyên Ngọc bình luận.
Ông Nguyên Ngọc nhắc đến trải nghiệm của chính bản thân: “Vừa rồi tôi có nói một số ý kiến về những điều đáng lo ở Tây Nguyên. Một số báo công khai cũng tìm cách đưa lại ý kiến đó. Cách đây vài năm thậm chí họ không dám nhắc đến tên tôi đâu. Vẫn còn những người làm báo có lương tâm trong tình trạng o ép, để họ đưa thông tin đến người đọc.”
Nhà văn Nguyên Ngọc thừa nhận thông tin “đấu đá nội bộ” là rất nhiều nhưng vẫn “đưa tác động tốt”
“Khi các phe phái đánh nhau, thì có một điều là nó phơi thông tin đó ra cho mọi người. Độc giả bây giờ tinh lắm. Người ta thấy các thế lực đánh nhau thế nào. Nhân dân biết được là rất tốt. ”
“Họ [người dân] biết như thế và họ mất lòng tin đi. Họ không còn tin những thế lực đó nữa. Khi những thế lực đó tìm cách mị dân, dụ dỗ họ. Tôi thấy vậy cũng được. Còn tình trạng thông tin đấu đá nội bộ mình không thể nói là không có. Cái tốt, xấu ở chỗ nào cũng có.”
“Cuộc giằng co này còn kéo dài lắm,” ông Nguyên Ngọc bình luận về những gì đang diễn ra.
(BBC)
TRUYỀN THÔNG MẠNG ĐANG ĐI TRƯỚC BÁO CHÍ
QUỐC PHƯƠNG/ BBC 24-9-2016
Tiến sỹ Khuất Thu Hồng

Tiến sỹ Khuất Thu Hồng cho rằng truyền thông mạng đang phát huy được sức mạnh giám sát và phản biện của mình và ngày càng phát triển rộng rãi.

Truyền thông mạng xã hội, truyền thông ‘lề dân’ hay ‘lề trái’ đang ‘đi trước’ báo chí chính thống của nhà nước và loại hình truyền thông này thực sự đang phát huy được sức mạnh ‘giám sát, phản biện’, theo ý kiến của chuyên gia và khách mời Bàn tròn trực tuyến của BBC.

Trao đổi với Bàn tròn thứ Năm về chủ đề ‘Truyền thông dân và phản ứng quan’ hôm 22/9/2016, Tiến sỹ Khuất Thu Hồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội (ISDS) từ Hà Nội, nói:

“Mạng xã hội ngày nay đang ngày càng trở thành một kênh thông tin để cho các vị lãnh đạo, các cơ quan thực thi công vụ, những cơ quan công quyền của nhà nước tham khảo, nó càng ngày càng trở nên một kênh thông tin để tham khảo và hành động.

“Việc hai vị bí thư ở hai tỉnh phải có phản hồi ngay lại dư luận ở trên mạng xã hội bắt đầu phản ánh việc các vị hành động, cũng như chuyện Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có phản hồi lại dư luận xã hội trên mạng về đoàn xe hộ tống của Thủ tướng đi vào Hội An cho thấy không chỉ là nghe…

“Tôi tin rằng từ trước đến bây giờ nguồn thông tin ở trên mạng vẫn được tham khảo, vẫn được nghiên cứu, có thể nói rất là kỹ, nhưng để phản hồi, để có những hành động, thì bắt đầu từ Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và tiếp đây là hai ông bí thư với tư cách là những vị lãnh đạo cấp cao.

“Ngoài ra, mạng xã hội cũng là nguồn thông tin mà tôi thấy hiện nay rất thú vị ở chỗ rằng những thông tin từ mạng xã hội lại đi trước báo chí và nó trở thành nguồn dinh dưỡng, hay nguồn cung cấp thức ăn rất phong phú cho báo chí.

“Nhiều khi báo chí lại đến sau mạng xã hội. Ví dụ như chuyện chở tử thi ở Sơn La chẳng hạn, có một ai đó chụp được một cái ảnh đưa lên và lúc đó báo chí đưa vào và mạng xã hội cũng lên tiếng rất là mạnh mẽ và cuối cùng chính quyền tỉnh Sơn La, Bệnh viện Lao ở tỉnh Sơn La và ngành y tế đã phải vào cuộc.

“Tôi thấy rằng mạng xã hội hiện nay thực sự đang phát huy được sức mạnh của nó, sức mạnh giám sát, sức mạnh phản biện, sức mạnh cung cấp thông tin và chia sẻ thông tin ngày càng rộng rãi hơn và tôi cũng xin chia sẻ với nhà báo Trương Duy Nhất cũng như chị Mạc Việt Hồng (khách mời tại Bàn tròn) rằng chính quyền, các nhà lãnh đạo đã bắt đầu có những phản hồi tích cực hơn với những thông tin từ mạng xã hội.

“Bằng chứng là việc hai ông Bí thư (Tỉnh ủy) phải thanh minh, rồi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có ý xin lỗi việc làm của đoàn xe hộ tống của ông, cho thấy rằng bây giờ không phải lúc người ta có thể bỏ qua mạng xã hội nữa rồi, mà phải sử dụng nó, đấy là một cách phản ứng rất thông minh, một cách phản ứng rất sáng suốt, tôi cho là như vậy,” Tiến sỹ Xã hội học Khuất Thu Hồng nói với BBC.

‘Chuyên nghiệp hơn nhiều’

Phóng viên Lan Phương của BBC cho rằng chất lượng của truyền thông mạng nói chung đã được nâng cao rất nhiều.

Phóng viên Lan Phương của BBC Việt ngữ từ Bangkok, trong tư cách khách mời, chia sẻ với Bàn tròn một nhận định về chất lượng của truyền thông mạng xã hội ở Việt Nam:

“Lý do mà các quan chức (Việt Nam) đã phản hồi rất nhanh trước sự kiện này cho thấy có một yếu tố mà chúng ta quên nhắc đến đó là trình độ của chính độc giả và những người tạo ra thông tin trên mạng đã tăng lên rất nhiều so với trước đây.

“Có thể lấy một ví dụ là trước đây chúng ta đọc thấy một tin trên mạng xã hội thì nó có thể chỉ là một vài cái hình, có rất nhiều cảm tính, bình luận, vì tôi nghĩ rằng người đọc và người tạo thông tin trên mạng xã hội thời điểm đó chắc chắn ban đầu không phải là những nhà báo chuyên nghiệp.

“Họ viết một cách bản năng, viết những cảm giác của họ và họ chưa thuyết phục được độc giả vào thời điểm đó, nhưng đến thời điểm này họ đã càng ngày càng chuyên nghiệp hơn.

“Ví dụ, khi một sự việc nào đó xảy ra thì họ bật máy và làm ‘live-stream’ (trực tiếp), sau đó họ gọi điện đến các cơ quan để xác minh, sau đó họ đối chiếu thông tin với những trang chính thức của chính phủ.

“Tôi lấy ví dụ việc ông Bí thư Hà Giang, ông Triệu Tài Vinh, có nhiều người thân làm các vị trí, thì các trang đó đã đi tìm thông tin của ông ở trên các trang chính thức của nhà nước, sau đó họ đối chiếu lại rồi mới đăng bài.

“Tức là họ có đi qua quá trình xử lý thông tin như nhà báo chúng tôi, họ không còn dừng lại ở mức mô tả thông tin nữa, họ đã xử lý thông tin. Rồi lấy ví dụ ông Nguyễn Xuân Phúc đi vào phố cổ, rất nhiều ý kiến nói là Thủ tướng ‘trăm công, nghìn việc’ nên không thể đi bộ vào được.

“Thế nhưng có những người đã đo khoảng cách con phố đó để nói rằng con phố đó rất là ngắn và lẽ ra để tỏ ra văn minh thì Thủ tướng có thể đi bộ vào. Thế tức là sự phản biện của cư dân mạng đã tăng trình độ, điều đó khiến cho nhà nước cảm thấy rằng không thể nào dừng ở mức độ im lặng được nữa.

“Và họ phản ứng lại, họ đang đối thoại với những thông tin ngày càng có uy tín hơn, chứ không phải là đối thoại như những cuộc tranh cãi lộn xộn ở ngoại chợ ngày trước nữa,” nhà báo Lan Phương nói với Tọa đàm.

Tác động xã hội

Nhà báo Mạc Việt Hồng
MAC VIET HONG

Nhà báo Mạc Việt Hồng cho rằng truyền thông mạng xã dù ở mô hình xã họi nào cũng đều có những tác động tích cực.

Từ Warsaw, thủ đô Ba Lan, nhà báo Mạc Việt Hồng bình luận với bàn tròn về vai trò và tác động xã hội của truyền thông mạng xã hội ở nước này, bà nói:

“Tôi nghĩ rằng mạng xã hội này đối với bất kỳ nước nào, tùy theo mô hình chính trị của mỗi nước có thể có những tác động khác nhau, nhưng ở bất kỳ mô hình xã hội nào thì nó đều có những tác động tích cực nhất định.

“Ở Ba Lan, người ta có quyền tự do hội họp, tự do biểu tình, có điều gì đó bất bình với chính phủ, gần đây nhất là cuộc 140 nghìn người kéo đi biểu tình, thì những cuộc biểu tình đó người ta đều hô hào trên mạng xã hội.

“Và cái đó mạng xã hội có thể biến thành các cuộc biểu tình, ở Việt Nam quyền biểu bình vẫn còn bị ngăn chặn, cho nên mạng xã hội ở một mặt nào đó chưa có một tác động trực tiếp như đối với ở Ba Lan mà chỉ sau một cuộc kêu gọi, chỉ sau một, hai, ba ngày, một trăm nghìn người có thể xuống đường ngay.

“Ở Việt Nam, vì những lý do mà ai cũng biết, chúng ta chưa thể có được những sự kiện như thế,” nhà báo Mạc Việt Hồng nói với BBC.

Cũng tại cuộc Tọa đàm, nhà báo Trương Duy Nhấtcho hay ông đánh giá cao hành động của các quan chức ở Việt Nam khi họ có phản hồi với mạng xã hội, ông nói:

“Tôi đánh giá cao sự phản ứng trả lời lại của phía các quan chức, bởi vì nếu anh không trả lời, anh tạo một hình ảnh xấu, hành vi xấu cho các quan chức đó.

“Ví dụ như Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc…, nếu mà ông không trả lời chuyện đó, thì nó tạo ra một hình ảnh rất xấu của Thủ tướng, nhưng khi ông chọn cách đối thoại như thế, thì ông lại lấy điểm rất nhanh và lấy điểm rất sáng trong cách nhìn của người dân, của bạn đọc.”

Nhân đây, blogger từ Đà Nẵng cũng đưa ra một bình luận mang tính so sánh giữa tính chất của truyền thông mạng xã hội và báo chí chính thống nhà nước qua một sự kiện thời sự là vụ xét xử phúc thẩm blogger Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và động sự:

“Ngày nay đang xét xử Ba Sàm, thì có một câu nhận định là báo chí chính thống toàn nói chuyện Ba Sàm, nhưng trang Ba Sàm thì toàn nói chuyện chính thống,” nhà báo Trương Duy Nhất nói với BBC.

Nhà báo, blogger Trương Duy Nhất

Nhà báo, blogger Trương Duy Nhất đánh giá cao hành động phản hồi mạng xã hội của các quan chức ở Việt Nam mới đây.
Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Chín 24, 2016

20160924. CHUYỆN BA SÀM LÀM BÁO

ĐIỂM BÁO MẠNG

CHÚT KỶ NIỆM NGHỀ BÁO VỚI VINH BA SÀM

VÕ VĂN TẠO/ BVN 24-9-2016

Chút kỷ niệm nghề báo với Vinh Ba Sàm

clip_image002

 Ảnh: Tác giả cùng Nghị sĩ và Tham tán Chính trị Sứ quán CHLB Đức trước Tòa án Hà Nội, trong vụ xử sơ thẩm Ba Sàm 23-3-2016

Do chỗ tuổi tác, Vinh thường gọi đùa tôi là “đại ca”. Lần từ Nha Trang nhắn tin nhờ Vinh mua hộ lẵng hoa và thùng bia Heineken mang đến tặng thanh niên can đảm Nguyễn Văn Phương (đọc tuyên ngôn biểu tình chống TQ bành trướng biển Đông) và trí thức Hà Nội liên hoan mừng Phương “tai qua nạn khỏi” (an ninh hủy lệnh triệu tập để điều tra), suốt ngày tối mắt tối mũi lo cập nhật thông tin, Vinh hồi âm vỏn vẹn: “Xin tuân lệnh!”.

Tuy vậy, với tôi, Vinh là một nhà báo lớn, nhà báo chuyên nghiệp, rất chân chính, tác nghiệp rất thận trọng, chính xác và sự thật luôn là tiêu chí số một.

Dạo cưỡng chế Văn Giang, cả nước sục sôi. Do có sự ngẫu nhiên trùng tên doanh nghiệp chủ đầu tư dự án Ecopark và Công ty chứng khoán Bản Việt của Nguyễn Thanh Phượng – con gái Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, rất nhiều người nhầm lẫn. Trong một bài bình luận gửi trang Ba Sàm, tôi cũng viết Ecopark là dự án sân sau của Thủ tướng. Vinh điện phản hồi, gay gắt phủ nhận thông tin trên. Tôi khá ngạc nhiên. Trước giờ, Vinh vẫn cực lực lên án Nguyễn Tấn Dũng là kẻ tham nhũng, phá hoại kinh tế Việt Nam tệ hại nhất, sắt đá, nham hiểm nhất đối với giới tranh đấu vì tự do, dân chủ, tiến bộ xã hội, vì sao lại kiên quyết phản bác? Vinh bảo, vì sự thật không phải Ecopark là của Nguyễn Thanh Phượng, Vinh có nguồn tin chính xác, đáng tin cậy 100%. Đơn giản vậy thôi. Sau này, nhiều người vỡ lẽ, sự thật Phượng không phải chủ dự án Ecopark.

Lần khác, Vinh điện khẩn thiết nhờ xác minh thông tin: có người mách Báo Sài Gòn giải phóng có đăng thông tin Nguyễn Thanh Phượng rút khỏi vai trò người đại diện pháp luật của Vietcapital Bank. Theo Vinh nhân định, đây có thể là hành vi tẩu thoát, trốn trách nhiệm một cách tinh vi láu cá của Nguyễn Thanh Phượng trước nguy cơ khả năng bị truy cứu hình sự. Do báo SGGP không dễ kiếm ở Hà Nội và Nha Trang, tôi mất khá nhiều thời gian lần mò, chụp ảnh được mẩu tin quảng cáo trên bản điện tử SGGP và mail cho Vinh, trang Ba Sàm mới chính thức loan tin.

Dịp vụ án Dương Chí Dũng – Vinalines, từ báo giới, rò rỉ thông tin có lệnh cấm các tờ báo in (báo giấy) đăng đích danh Thứ trưởng Công an Phạm Quý Ngọ dính líu (nhận hối lộ 500.000 USD và mật báo cho Dương Chí Dũng “tạm lánh”). Hầu như mọi báo in chỉ đăng mập mờ “một lãnh đạo cao cấp của Bộ Công an”. Có nguồn tin mách Vinh: có 2 tờ báo vẫn “cả gan xé rào” là Hà Nội mớiPháp luật TP HCMđăng đích danh Phạm Quý Ngọ. Vinh điện, nói đã cóHà Nội mới trong tay, nhờ xác minh Pháp luật TP HCM. Lúc đó, tôi đang ở Quảng Ngãi, chạy vòng quanh TP Quảng Ngãi, không tìm được Pháp luật TP HCM. Rốt cuộc, phải điện nhờ đồng nghiệp ở Tòa soạn Pháp luật TP HCM chụp ảnh bản tin, gửi gấp email cho tôi. Chuyển tiếp cho Vinh, năm phút sau, thông tin đặc biệt này được cập nhật trên Ba Sàm, kèm bản ảnh chụp.

Duy nhất có một lần, tôi “chê” Vinh. Số là, sau khi Vinh cùng bằng hữu Hà Nội viếng cụ Nguyễn Kiến Giang – nhà bất đồng chính kiến kỳ cựu hàng đầu. Ba Sàm đăng bản tin ngắn về tang lễ cụ. Đọc bản tin, có cảm giác Vinh rất hoan hỷ khi thấy tiếp theo đoàn viếng của các nhân sĩ trí thức trong Diễn đàn Xã hội dân sự là đoàn viếng của A83 – Cục An ninh chính trị nội bộ, Bộ Công an. Theo “hồn cốt” của bản tin, đây là dấu hiệu của chuyển biến tích cực, sáng sủa cho xu thế dân chủ hóa ở Việt Nam. Tôi bèn viết ngay bài phản biện, với nhan đề “Khi A83 viếng cụ Nguyễn Kiến Giang”. Bài báo kể lại câu chuyện hồi đầu thập niên 1980, tôi làm hướng dẫn viên tiếng Pháp của Công ty Du lịch tỉnh Phú Khánh. Trong một lần đưa du khách Ba Lan thăm thú Nha Trang, tôi hỏi về chuyện Bí thư thứ nhất Đảng cầm quyền Công nhân thống nhất Ba Lan – Đại tướng Yazulxki có đi lễ nhà thờ. Các du khách Ba Lan làm tôi sửng sốt: “Mày tưởng nó đi nhà thờ vì kính Chúa à? Nó đi để trực tiếp điều nghiên, nhằm phá tôn giáo đó thôi”. Email bài báo đến Vinh xong, tôi điện càm ràm: “Chú còn ngây thơ lắm, như anh 30 năm trước vậy”. Vinh cười hề hề, đăng Ba Sàm tắp lự.

V.V.T.

Tác giả gửi BVN

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Chín 23, 2016

20160923. BÀN VỀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC

ĐIỂM BÁO MẠNG

“CÓ NHỮNG NGƯỜI BÁN RẺ TỔ QUỐC VÌ QUYỀN LỢI CÁ NHÂN”

VŨ NGỌC HOÀNG/ TVN 22-9-2016

Kiểm soát quyền lực, Vũ Ngọc Hoàng, Liên Xô sụp đổ, Diễn biến hòa bình, Tham nhũng, Lợi ích nhóm

TS Vũ Ngọc Hoàng. Ảnh: Lê Anh Dũng

“Có những người lúc đầu khi chưa có quyền lực thì tốt, nhưng sau đó, khi đã có quyền lực trong tay thì dần dần trở nên hư hỏng, thành người xấu; thậm chí đến mức có thể phản bội nhân dân, bán rẻ Tổ quốc vì ngai vàng của cá nhân”.

LTS: Tuần Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết mới nhất của Tiến sĩ Vũ Ngọc Hoàng, nguyên phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, xung quanh một vấn đề mà ông luôn trăn trở – quyền lực và kiểm soát quyền lực.

Quyền lực như “con ngựa” bất kham, người không đủ nhân cách mà giao cho họ cầm cương thì nó sẽ tung phá, gây đổ ngã và làm chết cả người ngồi trên yên ngựa. Quyền lực là “con dao” hai lưỡi, có thể phục vụ cho đời và cũng có thể làm hại đất nước nếu rơi vào tay những kẻ bất tài, tham lam.

Năm 2011, Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề cập, dù là mới thoáng qua, việc kiểm soát quyền lực. Rất tiếc là chủ trương đó chưa được triển khai thực hiện cụ thể. Trước và trong Đại hội XII, Tổng Bí thư của Đảng ít nhất đã hai lần nhấn mạnh phải kiểm soát quyền lực.

Gần hai năm trước, trong bài “Tham vọng quyền lực và sự tha hóa”, tôi có viết ý kiến về kiểm soát quyền lực và trả lời phỏng vấn của báo chí về việc này. Thời gian gần đây một số tờ báo có đặt vấn đề phỏng vấn tôi yêu cầu nói tiếp ý kiến về kiểm soát quyền lực. Đó là lý do khiến tôi viết tiếp bài này trao đổi thêm để bạn đọc tham khảo.

Mặt tiêu cực của quyền lực

Câu hỏi trước tiên cần nói thêm là vì sao phải kiểm soát quyền lực? nếu không kiểm soát quyền lực thì sẽ thế nào?

Quyền lực vốn là của cộng đồng nhân dân, khởi đầu là thế, và mãi mãi cũng là thế, không phải của thần linh, không phải của bất kỳ cá nhân ai, của một gia đình trị hoặc một tộc họ nào; cũng không phải của bất kỳ một tổ chức nào khác.

Từ lâu Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức được và đã nhiều lần khẳng định trong các Nghị quyết rằng quyền lực thuộc về nhân dân. Nhân dân không trực tiếp nắm giữ tất cả, mà chỉ nắm giữ một số vấn đề then chốt (sẽ nói sau), còn lại là ủy quyền cho nhà nước quản lý và sử dụng quyền lực để bảo vệ và phục vụ nhân dân, kiến tạo một quốc gia phát triển.

Tuy nhiên, trong lịch sử, đã từng có không ít trường hợp những người (hoặc nhóm người) bằng các thủ đoạn chính trị đã cướp đoạt quyền lực của nhân dân, biến nhân dân thành đối tượng bị cai trị. Nhân dân sau khi ủy quyền thì mất quyền, còn người được ủy quyền thì dần dần bị quyền lực làm tha hóa. Họ sử dụng quyền lực không phải để bảo vệ và phục vụ nhân dân như mục đích ban đầu, mà để phục vụ lợi ích của cá nhân, gia đình, dòng họ, cho một nhóm người, họ quay lại ức hiếp nhân dân, biến nhân dân từ chủ nhân của quyền lực thành đối tượng bị chèn ép, bị ức hiếp, bị tước đoạt.

Ở bất kỳ đâu và bất kỳ lúc nào, quyền lực cũng luôn có hai mặt. Mặt tích cực, nó là công cụ hữu hiệu bậc nhất để tập hợp lực lượng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng một xã hội tốt đẹp, nếu như quyền lực ấy được trao cho những con người có nhân cách tốt.

Mặt tiêu cực, nó luôn làm tha hóa những con người và bộ máy sử dụng quyền lực nhưng lại yếu kém về nhân cách và không có cơ chế tốt để kiểm soát quyền lực. Sự tha hóa như vậy có từ trong bản chất tự nhiên của con người và quyền lực. Có những người lúc đầu (khi chưa có quyền lực) thì tốt, nhưng sau đó, khi đã có quyền lực trong tay thì dần dần trở nên hư hỏng, thành người xấu; thậm chí đến mức có thể phản bội nhân dân, bán rẻ Tổ quốc vì ngai vàng của cá nhân.

Cá biệt có những người thay đổi bản chất rất nhanh, chỉ sau một lần bỏ phiếu, họ gần như trở thành một người khác hẳn, từ dáng đi, cách nói, cách bắt tay. Họ khệnh khạng hơn, có vẻ “oai vệ” hơn, “bề trên” hơn. Khi người ta đến được đỉnh cao của “chiến thắng” trong quyền lực thì đấy là lúc người ta bắt đầu thua, mà trước tiên là thua chính mình.

Trên đỉnh cao của quyền lực ít ai nhìn thấy tai họa ẩn chứa vốn có từ bên trong quyền lực ấy, nếu không phải là người lãnh đạo có nhân cách lớn, minh triết uyên thâm, có khả năng vượt qua chính mình và ma lực cám dỗ của quyền lực, để tịnh tâm nhìn xa trông rộng. Khi đã có trong tay tất cả thì đấy cũng là lúc tự mình bắt đầu đánh mất dần.

Tha hóa quyền lực dẫn đến sụp đổ chế độ  

Việc kiểm soát quyền lực trước tiên là để bảo đảm cho quyền lực luôn thuộc về đúng chủ nhân của nó, tức là thuộc về nhân dân, được sử dụng đúng mục đích, không bị lợi dụng, lạm quyền. Khi quyền lực bị lạm dụng thì tất yếu sẽ tha hóa bộ máy cầm quyền, và cũng là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến tha hóa đạo đức xã hội.

Sự tha hóa quyền lực tất yếu sẽ dẫn đến sụp đổ chế độ chính trị. Nếu sự tha hóa ấy không dừng lại và lành mạnh hóa thì sụp đổ là không thể khác, chỉ còn là vấn đề thời gian. Sự sụp đổ ấy chính là tự đổ, không phải do ai phá và cũng không ai cản nổi.

Có những suy nghĩ rất ấu trĩ sai lầm khi cho rằng nắm cho chắc lực lượng vũ trang là có thể đẩy lùi sự sụp đổ. Không đâu! Liên Xô ngày trước cả quân đội và lực lượng an ninh KGB còn rất mạnh, bậc nhất thế giới, vậy mà đến một lúc, khi sự tha hóa đã đến ngưỡng, thì cả một chế độ được cho là thành trì ấy bỗng chốc đổ ào, đến mức không tưởng tượng được, không hiểu nổi.

Nhiều người đã giải thích rằng do địch phá bằng “diễn biến hòa bình”… Không phải như thế đâu! Đấy là cách giải thích miễn cưỡng, không có cơ sở khoa học, tự trấn an mình. Địch thì lúc nào mà chả phá ta? Do phá ta nên nó mới là địch. Địch mà không phá ta mới là chuyện lạ.

Phá là việc của địch, còn ngã đổ là chuyện của ta. Nếu cử đổ lỗi cho địch thì rồi chẳng biết cách nào mà sửa. Địch phá Liên Xô ư? Phá sao bằng thời kỳ trước đó, khi 14 nước đế quốc tập trung bao vây nhà nước nhân dân còn non trẻ, rồi nội chiến, rồi chủ nghĩa phát-xít đã tập trung cao độ lực lượng với nửa nghìn sư đoàn thiện chiến trong đại chiến thế giới lần thứ 2 để tiêu diệt Liên Xô, nhưng không tiêu diệt được.

Ngược lại, Liên Xô đã lớn mạnh thành một cường quốc hàng đầu thế giới. Sao bây giờ địch giỏi vậy, tài tình vậy, chẳng tốn một viên đạn mà Liên Xô vẫn đổ ào không cứu vãn được, cứ như một cơn đột quỵ dữ dội và bất ngờ. Địch mà giỏi như vậy thì thật đáng kính phục?

Những nhà tuyên truyền “ngây thơ” đã vô tình tâng bốc địch, vậy mà cứ tưởng thế mới là có lập trường địch – ta. Bản chất của vấn đề Liên Xô đổ là tự đổ, do tha hóa quyền lực mà đổ, do không thể tự đứng được nữa mà đổ, do thối nát mà đổ, chứ chẳng phải ai xô ngã được.

Kiểm soát quyền lực, Vũ Ngọc Hoàng, Liên Xô sụp đổ, Diễn biến hòa bình, Tham nhũng, Lợi ích nhóm

Có những người có quyền lực trong tay trở nên tha hóa. Ảnh minh họa: Shutterstock/Thanh niên

Đặc điểm chính trị quan trọng nhất của xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN) chân chính là quyền lực thật  sự và luôn luôn thuộc về nhân dân. Chỉ khi ấy mới có một nền chính trị thật sự tốt đẹp và bền vững.

Tham nhũng, lợi ích nhóm lan cả vào chốn thiêng liêng

Thực tế lịch sử nhân loại đã cho thấy: nhà nước của chủ nô, của vua và các tập đoàn phong kiến, nhà nước của quan lại tha hóa (như Liên Xô giai đoạn sau chẳng hạn) và nhà nước của tài phiệt (tư bản hoang dã thời kỳ đầu) cuối cùng đều phải ngã đổ và kết thúc. Chỉ có nhà nước của dân, thật sự của dân, thì mới bền vững lâu dài, vì dân là vạn đại.

Vì vậy, việc kiểm soát quyền lực vừa là giá trị nhân văn của một xã hội tiến bộ, phòng chống sự tha hóa của Nhà nước và xã hội, đồng thời là để thực hiện mục tiêu XHCN chân chính, để có được một nhà nước bền vững lâu dài phục vụ nhân dân.

Khi quyền lực không được kiểm soát thì mặt trái của nó chính là tác nhân quan trọng nhất làm tha hóa cán bộ, tha hóa những con người được trao quyền lực, rồi tha hóa cả bộ máy, làm cho bộ máy bị biến chất, không còn là nhà nước của dân, mà dần dần thành nhà nước phản bội nhân dân.

Trong bất kỳ điều kiện nào, sự tha hóa quyền lực ở cán bộ và các cơ quan lãnh đạo quản lý, đều là nguyên nhân lớn nhất làm cho đạo đức xã hội xuống cấp, văn hóa suy đồi, dân tộc bị mất dần sức mạnh nội sinh, xã hội trì trệ và quốc gia không thể hưng thịnh, không có đủ sức mạnh để bảo vệ Tổ quốc, mục tiêu XHCN tốt đẹp mà nhiều người đã từng mong ước cũng trở nên xa vời và mơ hồ.

Lịch sử nước ta đã từng có nhiều lần do tha hóa quyền lực mà dẫn đến mất nước. Hầu hết các triều đại phong kiến Việt Nam đã từng bị sụp đổ vì tha hóa quyền lực. Triều đại sau được dân chúng ủng hộ lên thay, rồi cũng tha hóa tương tự, lặp lại như cũ. Ngay cả những triều đại đã một thời rất huy hoàng, có công lao to lớn bậc nhất với lịch sử dân tộc nhưng sau đó cũng tha hóa và sụp đổ (như nhà Lý, nhà Trần, Hậu Lê và Tây Sơn chẳng hạn).

Nhiều năm qua lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta đã rất nhiều lần đề ra chủ trương và kêu gọi phải chống tham nhũng, chống “lợi ích nhóm” tiêu cực, cũng đã mất nhiều công sức cho công việc khó khăn và vất vả này, nhưng kết quả vẫn còn rất hạn chế. Tình hình tham nhũng, “lợi ích nhóm” chẳng những không dừng lại, mà đang còn khá phổ biến và phức tạp, gây nhức nhối xã hội, đau đầu các cơ quan lãnh đạo đất nước. 

Nó cứ lan rộng dần vào tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, của công việc quản lý và quản trị quốc gia, vào ngay trong các lĩnh vực mà trước đến nay thường được cho là trong sạch, thiêng liêng (như lĩnh vực dạy người, cứu người, an ninh quốc gia, nắm cán cân công lý để bảo vệ sự nghiêm minh, kể cả cơ quan ở cấp cao, cả nhà thờ, chùa chiền, cả lĩnh vực làm từ thiện, nhân đạo, chính sách đền ơn đáp nghĩa…).

Điều đó có nguyên nhân trực tiếp quan trọng nhất là chưa làm tốt việc kiểm soát quyền lực, nói thẳng và mạnh hơn là quyền lực về cơ bản chưa được kiểm soát, từ đó dẫn đến tha hóa cán bộ và các tổ chức trong bộ máy lãnh đạo quản lý.

Vũ Ngọc Hoàng

*Tiêu đề, các tiêu đề phụ của bài viết do Tuần Việt Nam đặt.

“NHIỀU VIỆC BỊ LẤY CỚ LÀ ‘NHẠY CẢM’ ĐỂ KHÔNG MINH BẠCH THÔNG TIN”

VŨ NGỌC HOÀNG/ TVN 23-9-2016

Kiểm soát quyền lực, Vũ Ngọc Hoàng, Tham nhũng, Lợi ích nhóm, Tự do ngôn luận, Con ông cháu cha, Tam quyền phân lập

Ông Vũ Ngọc Hoàng. Ảnh: Nhật Minh/ Vnexpress

“Ở Việt Nam còn rất nhiều việc chưa được minh bạch, kể cả việc nhỏ và việc lớn, kể cả những chủ trương, quyết định và những vụ việc tiêu cực, tham nhũng, sai lầm. Nhiều việc được cho là “nhạy cảm” để lấy cớ đó  không minh bạch thông tin.

LTS: Tuần Việt Nam trân trọng giới thiệu Phần 2 bài viết mới nhất của Tiến sĩ Vũ Ngọc Hoàng, nguyên Phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, xung quanh một vấn đề mà ông luôn trăn trở – quyền lực và kiểm soát quyền lực.

Trong phần 1, tôi đã nói về lý do phải kiểm soát quyền lực. Trong phần 2 này, tôi xin góp bàn về quyền lực cần được kiểm soát như thế nào, bằng cách nào?

Bảo đảm việc lập hiến là của toàn dân (thông qua cử tri toàn quốc), nhân dân phải trực tiếp quyết định những vấn đề cơ bản của Hiến pháp (chứ không phải là nhân dân góp ý để Quốc hội xem xét). Phải trưng cầu dân ý đối với những vấn đề quan trọng của đất nước. Tiến tới Chủ tịch nước phải do nhân dân trực tiếp bầu (chứ không phải Quốc hội).Trước tiên phải thấm nhuần sâu sắc quan điểm quyền lực tối cao thuộc về nhân dân. Lời ấy không phải là hô khẩu hiệu, mà phải được thấm sâu trong hệ thống chính trị và trong cộng đồng nhân dân. Mọi người phải ý thức rõ ràng và đầy đủ về quan điểm ấy, thường xuyên thể hiện bằng hành động thực tế.

Kiểm soát bằng chính quyền lực Nhà nước

Tiếp theo, quyền lực phải được kiểm soát bằng chính quyền lực Nhà nước, quy định trong Hiến pháp và các luật liên quan về cơ cấu và chức năng, nhiệm vụ của bộ máy nhà nước, trong đó có sự phân quyền giữa ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp, các nhánh ấy độc lập tương đối với nhau, giám sát chéo và điều chỉnh lẫn nhau, nhằm hạn chế sai lầm, hoặc khi có sai lầm thì được phát hiện và điều chỉnh, khắc phục sớm nhất.

Nói chung, các nhà nước phong kiến chưa giải quyết được việc kiểm soát quyền lực, mặc dù có lúc đã có một số quy định tiến bộ, manh nha của kiểm soát quyền lực. Luật lệ của triều đình có những quy định cấm các quan không được làm.

Một số triều đại đã từng có các quan ngự sử ghi chép trung thực, khách quan mọi việc liên quan đến các quyết định và ứng xử của nhà vua, của triều đình để lịch sử đánh giá, phán xét công, tội. Vua cũng không được kiểm duyệt các ghi chép này. Có các gián quan để can gián vua không làm việc sai; có trống để thần dân kêu oan; có “quan tòa” liêm chính để phán xử đúng sai…

Tuy nhiên, về cơ bản vẫn chưa giải quyết được vấn đề kiểm soát quyền lực. Nguyên nhân là do quyền lực tập trung vào tay vua và hoàng tộc, vua bảo chết thì phải chết, ý vua là ý trời, ý vua là pháp luật, còn nhân dân chỉ là đối tượng bị cai trị, không có quyền tự do, kể cả quyền sống, trái ý vua thì tùy theo mức độ và sự nóng giận của vua mà bị trị tội, kể cả tru di tam tộc.

Thời kỳ đầu của chế độ tư bản cũng vậy, quyền lực tập trung vào tay những người giàu có và cũng không được kiểm soát. Khi chế độ tư bản phát triển đến một mức độ nhất định, đáng kể, có những bước tiến quan trọng về dân chủ xã hội, cộng với sự phát triển của các hệ tư tưởng, nhất là lĩnh vực triết học, làm thay đổi nhận thức và tư duy chính trị, thì quyền lực mới được kiểm soát đáng kể, và ngày nay vẫn đang phải tiếp tục hoàn thiện.

Phương pháp tiếp cận của nước ta lâu nay đối với vấn đề này chưa phải đã tốt, quyền lực nhìn chung chưa được kiểm soát chặt chẽ, thậm chí không ít trường hợp hầu như không có kiểm soát, và trên thực tế, việc lạm dụng quyền lực đã rất nhiều. Chính nó đã tạo nên sự tha hóa đến độ rất phức tạp.

Gần đây Tổng Bí thư nói nhiều lần về việc kiểm soát quyền lực. Chúng ta có thể không dùng cụm từ “Tam quyền phân lập”, không tiếp thu theo kiểu bê nguyên, rập khuôn máy móc mô hình này của các nước phương Tây, vì mỗi quốc gia có đặc điểm văn hóa và ở giai đoạn phát triển khác nhau. Nhưng riêng về vấn đề kiểm soát quyền lực trong đó thì rất nên nghiên cứu một cách thật nghiêm túc.

Đồng thời với việc phân quyền một cách khoa học giữa ba nhánh nói trên, còn có sự phân công và kiểm soát lẫn nhau giữa các bộ phận trong cùng một nhánh, nhất là hành pháp và tư pháp.

Thật sự tạo điều kiện để nhân dân hạnh phúc

Tiếp theo, kiểm soát quyền lực thông qua việc thực thi rộng rãi quyền dân chủ; kể cả hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện và dân chủ tham dự; thông qua chế độ tranh cử, đề bạt và miễn nhiệm cán bộ; minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình của các tổ chức và cá nhân được giao quyền lực; sự giám sát của công luận, của nhân dân; tự do tư tưởng và tự do ngôn luận để thể hiện chính kiến của những con người tham gia làm chủ đất nước.

Trong đó, cần phát huy tốt vai trò của xã hội dân sự lành mạnh. Ở đây, cần hiểu cho đúng xã hội dân sự với tư cách là các tổ chức và phong trào lành mạnh, hợp pháp, do nhân dân tự giác và tự nguyện lập ra. Nó không phải là một hình thái kinh tế – xã hội nào mà là một bộ phận hợp thành của xã hội hiện tại; không phải là tổ chức của nhà nước mà ngân sách phải cấp kinh phí và cũng không phải là đơn vị kinh tế hoạt động vì mục đích lợi nhuận.

Các tổ chức này ra đời và tồn tại nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng xã hội; nó là phương thức rất quan trọng để thực thi quyền dân chủ của nhân dân. Nó đã từng tồn tại và đang tồn tại trong xã hội Việt Nam truyền thống trước đây và trong xã hội Việt Nam hiện tại, tất nhiên là chưa hoàn chỉnh, chưa hiện đại.

Nhân dân có quyền chất vấn, yêu cầu cơ quan nhà nước phải giải trình; có quyền phản đối những việc làm mà nhân dân cho là sai trái; có quyền yêu cầu cán bộ từ chức hoặc bị cách chức… Các cơ quan nhà nước phải có trách nhiệm lắng nghe, điều tra xác minh, tiếp thu, trả lời, giải trình, không được ngăn cản cấm đoán nhân dân thể hiện chính kiến một cách ôn hòa.

Phải khuyến khích công luận lên tiếng phê phán, phản đối những việc sai trái (kể cả của lãnh đạo) để tăng sức đề kháng của cơ thể xã hội. Ở đâu và khi nào mà công luận bị hạn chế, ngăn cản thì ở đó và lúc ấy cơ thể xã hội đang giảm sức đề kháng (đến một lúc bệnh nặng dần, trở thành liệt kháng – đó chính là căn bệnh HIV chết người).

Trong một xã hội tiến bộ, việc minh bạch thông tin có vị trí rất quan trọng, mọi người dân đều có quyền tiếp cận thông tin, không ai được bưng bít thông tin, giống như “ánh sáng ban ngày” thay cho “đêm tối”, để cái xấu, cái ác không còn nơi ẩn nấp, phải lộ rõ nguyên hình. Lâu nay ở Việt Nam ta còn rất nhiều việc chưa được minh bạch, kể cả việc nhỏ và việc lớn, kể cả những chủ trương, quyết định và những vụ việc tiêu cực, tham nhũng, sai lầm.

Chính sự không minh bạch này đã làm cho nhân dân nghi ngờ, mất lòng tin. Nghi ngờ dung túng, bao che, cùng “lợi ích nhóm”. Nhiều việc được cho là “nhạy cảm” để lấy cớ đó mà không minh bạch thông tin. Chính việc không minh bạch ấy đã làm hạn chế hiệu quả của cuộc chiến chống tham nhũng và “lợi ích nhóm”, nếu như không muốn nói rằng nó cản trở các công việc ấy.

Một nhà nước của dân, cớ sao không báo cáo đầy đủ cho nhân dân biết? Nếu lãnh đạo không có ai dính dáng gì tiêu cực trong đó thì tại sao lại sợ minh bạch? Muốn minh bạch thông tin thì lãnh đạo Đảng và Nhà nước phải mở rộng hành lang hơn nữa cho tự do ngôn luận và báo chí, còn bản thân báo chí cũng phải dũng cảm, bản lĩnh và nâng cao đạo đức nghề nghiệp, nhà báo dám dấn thân cho lẽ phải và không để bị mua chuộc.

Cũng có ý kiến lo ngại rằng, khi minh bạch thông tin về các vụ việc thì nhân dân sẽ mất lòng tin hơn nữa. Tôi không nghĩ như vậy? Không minh bạch mới làm mất lòng tin. Ai cũng có quyền nghi ngờ cả. Và người lãnh đạo tốt cũng mang tiếng lây. Không dám minh bạch vì sợ mất lòng tin thì đó là thứ lòng tin bị đánh lừa, lòng tin nhầm lẫn.  

Văn học nghệ thuật cũng cần phải tích cực tham gia “trừ gian” để góp phần “tải đạo” theo các giá trị nhân bản và phương pháp nghệ thuật phù hợp. Để thực thi dân chủ, việc đầu tiên là thật sự tạo điều kiện cho nhân dân được mở miệng. Đó là cách nói mộc mạc dễ hiểu nhưng là chân lý của Hồ Chí Minh.

Nhà nước rất cần nghiên cứu chỉnh sửa các điều luật về tội “Tuyên truyền chống nhà nước” để cho nhân dân với tư cách là “ông chủ” được tự do phê bình đối với bộ máy và cán bộ phục vụ nhân dân, không để cho “đầy tớ” lợi dụng những quy định chưa chặt chẽ mà quy chụp, tống giam “ông chủ”, làm thay đổi bản chất của nhà nước nhân dân. Tất nhiên đồng thời phải chống loạn ngôn, chống vu cáo và xúc phạm các cá nhân và tổ chức, vi phạm tự do của người khác, kể cả nhân dân và người lãnh đạo.

Kiểm soát quyền lực, Vũ Ngọc Hoàng, Tham nhũng, Lợi ích nhóm, Tự do ngôn luận, Con ông cháu cha, Tam quyền phân lập

Còn rất nhiều việc chưa được minh bạch, kể cả những chủ trương, quyết định và những vụ việc tiêu cực, tham nhũng, sai lầm. Ảnh minh họa

Công tác cán bộ lâu nay, bên cạnh những mặt làm được, nhìn chung trong hệ thống chính trị chưa tuyển chọn và sử dụng được nhân tài. Lịch sử nước ta đã nhiều lần lặp đi lặp lại như vậy.

Lãnh đạo chủ chốt phải qua tranh cử

Trong chiến tranh, với sức mạnh thiêng liêng của hồn nước, nhân tài tụ về dưới cờ khởi nghĩa để chiến đấu vì mẹ hiền Tổ quốc. Đến khi hòa bình thì nhân tài, trung thần thưa vắng dần, còn nịnh thần thì chui vào ngày càng nhiều trong triều chính, dẫn đến tha hóa quyền lực và sụp đổ.

Cách làm công tác cán bộ chủ yếu là sắp đặt theo ý chí và cách tư duy còn nhiều chủ quan của người lãnh đạo. Không ít trường hợp sắp xếp cán bộ theo quan hệ, hậu duệ, “lợi ích nhóm”; bị đồng tiền chi phối, thậm chí đồng tiền đã quyết định trong nhiều trường hợp; đề bạt con cháu, đồ đệ và những người ăn cánh.

Từ xưa tới nay, chế độ và triều đại nào cũng vậy, nạn mua bán chức quan là một trong các biểu hiện tha hóa quyền lực nguy hại nhất. Ở Việt Nam, nhiều năm rồi, cụm từ “buôn quan”, “buôn vua” đã xuất hiện, tồn tại và lan truyền. Ngôn ngữ không ngẫu nhiên mà có. Nó ra đời để phản ánh một thực trạng trong đời sống chính trị – xã hội.

Đến nay nạn chạy chức, chạy quyền đã trở nên khá phổ biến, có những trường hợp cứ như là đương nhiên, rất đáng lo ngại, kể cả ở những lĩnh vực hệ trọng. Công tác cán bộ chưa có được một cơ chế khoa học để tuyển chọn và sử dụng được nhân tài, tư tưởng phong kiến còn ảnh hưởng nặng nề và những năm gần đây lại cộng với mặt trái của cơ chế thị trường và sự tha hóa quyền lực.

Cần đổi mới mạnh mẽ và căn bản công tác cán bộ theo hướng cán bộ lãnh đạo chủ chốt phải qua tranh cử trong môi trường thật sự tôn trọng ứng cử tự do và đề cử của các tổ chức chính trị – xã hội; chọn cán bộ chuyên môn phải qua thi tuyển, thực chất và nghiêm túc, khách quan, vừa mở rộng dân chủ, vừa tăng trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ.

Đó cũng là cách để nhân dân và đông đảo cán bộ tham gia giám sát quyền lực trong việc giao quyền lực cho cán bộ. Nâng cao chất lượng của đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp lựa chọn những người có năng lực và bản lĩnh làm đại biểu chân chính và xứng đáng của nhân dân, dám nói tiếng nói trung trực đấu tranh bảo vệ lợi ích của nhân dân.

Khi các đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp đã được nhân dân bầu chọn thì phải toàn tâm toàn ý, một lòng một dạ phục vụ nhân dân, lắng nghe nhân dân, nói tiếng nói của nhân dân, biểu quyết vì nhân dân. Tiến tới công khai cho nhân dân biết các đại biểu ấy biểu quyết thế nào đối với những công việc mà nhân dân bức xúc quan tâm, để giám sát sự trung thành với dân.

Tổ chức Đảng phải làm nòng cốt kiểm soát quyền lực

Nếu các đại biểu ấy là đảng viên thì càng phải gương mẫu thức hiện ý dân, coi lòng dân là sơ sở quan trọng nhất để hành động – đó là nguyên tắc cao nhất. Tổ chức Đảng đã giao cho đảng viên nhiệm vụ làm đại biểu chân chính của nhân dân, đảng viên cứ thế mà hành động; tổ chức Đảng không cầm tay chỉ việc, không yêu cầu đảng viên phải biểu quyết và phát ngôn cụ thể theo ý kiến cấp ủy.

Trung thành với nguyện vọng của dân, nói tiếng nói của dân – đó chính là nhân cách và ý thức đảng viên chân chính. Đảng vì nhân dân mà hành động chứ không vì cái gì khác, không để cho “nhóm lợi ích” chi phối và thao túng.

Sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng lâu nay không ít trường hợp đã sử dụng biện pháp hành chính và quyền lực, thậm chí đã trở thành cơ quan quyền lực cao nhất trên thực chất, và cũng chưa có cơ chế kiểm soát quyền lực.

Với cách này, nếu kéo dài thì tổ chức Đảng sẽ bị quyền lực làm tha hóa, vừa hỏng công việc lãnh đạo đất nước, vừa hỏng bản thân tổ chức Đảng. Cần đổi mới một cách căn bản nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng Đảng không làm thay, không chồng chéo với công việc Nhà nước, nhất là việc sử dụng quyền lực, mà chuyển mạnh sang lãnh đạo chủ yếu bằng các giá trị văn hóa, từ chủ trương hợp lòng dân đến noi gương và thuyết phục, không áp đặt một chiều bằng biện pháp tổ chức, hành chính và quyền lực.

Đảng phải đại diện chân chính và xứng đáng nhất cho ngọn cờ dân chủ; phát hiện và chọn lựa cho được các hiền tài để giới thiệu với nhân dân. Đó cũng là cách làm truyền thống mà trước đây, trong điều kiện chưa cầm quyền, Đảng đã từng sử dụng để trở thành một Đảng lãnh đạo của nhân dân.

Bản thân trong tổ chức của Đảng cũng cần phải có cơ quan do đại hội cử ra để giám sát cán bộ lãnh đạo về nhân cách và việc sử dụng quyền lực. Tổ chức Đảng không đứng lệch về phía quyền lực và sử dụng quyền lực nhà nước, mà nghiêng về phía nhân dân, tập trung lãnh đạo và làm nòng cốt trong kiểm soát quyền lực, thực hành dân chủ rộng rãi và phát huy vai trò các tổ chức của xã hội dân sự lành mạnh để tham gia xây dựng, bảo đảm cho nhà nước thật sự là nhà nước của nhân dân – là mục tiêu xây dựng nhà nước mà Đảng nói lâu nay.

Vũ Ngọc Hoàng

*Tiêu đề, các tiêu đề phụ của bài viết do Tuần Việt Nam đặt.

VỀ BÀI VIẾT CỦA VŨ NGỌC HOÀNG

Về bài viết của TS Vũ Ngọc Hoàng

Bạn đọc đều biết 2 bài viết mới công bố của TS Vũ Ngọc Hoàng trên vietnamnet. BVN đã đăng lại 2 bài ấy trên trang của mình (xin xem ở đây, và ở đây). Một vài ngày gần đây, ý kiến về hai bài viết nói trên bỗng trở nên rôm rả. Chúng tôi xin chọn đăng lại một vài trong các đối thoại đa chiều, đa sắc đó, để chúng ta cùng tham khảo.

Bauxite Việt Nam

1. Đạo diễn Đỗ Minh Tuấn

Trong bài: “Có những người bán rẻ Tổ quốc để giữ ngai vàng” TS Vũ Ngọc Hoàng đã nói chính xác về nguyên nhân của mọi nguyên nhân là thể chế hiện nay thiếu sự kiểm soát quyền lực. Vấn đề kiểm soát quyền lực là vấn đề cốt tử, sinh tồn của Đảng CSVN. Thực hiện việc này về kỹ thuật đâu có khó: Chỉ cần xây dựng thể chế theo mô hình một bên có quyền cầm dao chia bánh, một bên có quyền chọn bánh sau khi bên kia chia. Đó là cơ chế phân quyền trong lý thuyết trò chơi tạo ra sự công bằng tự nguyện, vì anh có quyền cắt bánh, muốn mình không bị thiệt thì phải cắt cho đều. Đó chính là cơ chế phân quyền trong xã hội dân chủ mà Đảng dán nhãn thế lực thù địch để không ai có thể nhắc đến. Cấu trúc quyền lực phi khoa học hiện tại được duy trì bằng cơ chế truyền thừa kiểu giang hồ, cho nên, trước và sau Đại hội 12, tôi đã hai ba lần tư vấn cho Đảng về bài toán chia bánh nổi tiếng này, nhưng Đảng CSVN vẫn không theo. Vì như vậy thì nhóm lợi ích tham nhũng quyền lực sẽ mất đi chỗ dựa pháp lý tù mù từ quán tính lịch sử Đảng áp đặt lên lịch sử dân tộc mà bản chất là lấy đạo lý “Ơn Đảng, ơn Bác” làm nền tảng siêu pháp lý để Đảng tồn tại siêu hợp pháp trên số phận dân tộc từ mấy thập kỷ nay sau khi thống nhất đất nước.

Thực trạng mất kiểm soát quyền lực mà ông Vũ Ngọc Hoàng chỉ ra thực chất là phương thức tồn tại mang bản chất “ăn không” sự nhớ ơn các tiền bối cách mạng của dân tộc để tạo nên logic tiếp nối quyền lực theo cách giang hồ, mặt khác việc mua bán quyền lực diễn ra hai ba thập kỷ nay dẫn đến thực trạng quyền lực đa phần rơi vào tay bọn người không có đóng góp gì trong chiến tranh cách mạng, lại thiếu đạo đức, tư cách trình độ, tham nhũng, ngu dốt, độc ác, lệ thuộc ngoại bang, bán đất đai, bán chủ quyền, bán môi trường, bán tương lai con cháu, cướp bóc tài sản của dân và đàn áp nhân dân. Bọn người này cứ liên tục “ghế trên ngồi tót sỗ sàng” chiếm lĩnh các quyền lực quan trọng nhất ở các cấp mà ông Vũ Ngọc Hoàng gọi chung là Ngai Vàng. Trong khi làm mọi trò để miễn dịch quyền kiểm soát của Đảng và nhân dân với chúng, thì chúng cũng đánh mất hay buôn bán quyền kiểm soát di sản Đất-Biển-Trời-Đạo lý-Văn hoá mà tổ tiên và các thế hệ CM tiền bối trao truyền lại. Vì thế, nhân dân hy vọng vào những hành vi hướng đến cuộc cách mạng thể chế rón rén có khả năng kiểm soát quyền lực của TBT và các vị lãnh đạo cao cấp trong Đại hội 12. Nhưng rất tiếc việc đó đã bị lãng quên ngay sau khi Đại hội khai cuộc vì những toan tính đấu đá cá nhân và phe nhóm.

Bây giờ giữa nhiệm kỳ rồi, Đảng chỉ có thể ban phát, phân chia hay đấu thầu quyền lực cho nhau trên đầu nhân dân, lấy đâu ra cơ hội và cảm hứng của Phật tổ Như Lai để tạo ra sự kiểm soát quyền lực cho chính bản thân mình? Và hơi đâu Đảng tạo ra xiềng xích luật pháp và đạo lý cho người của chính mình? Ngồi chung mâm với nhân dân mà đám người ấy cứ gắp lia lịa hết thức ngon vào bát mình, rồi thỉnh thoảng xin lỗi vì cái xương mang nước bọt của kẻ nhồm nhoàm rơi xuống mâm cơm chung mà không xin lỗi vì sự tham ăn thô lỗ, thì dân vốn ý tứ, nhịn nhục và tế nhị đâu thể cầm tay chặn đũa của bọn người súc vật ấy. Nhưng dân ngày càng khinh bỉ. Khi người trí thức đã muốn sống tử tế trong phận sự nhân dân, thì muốn hợp tác xây dựng với Đảng CSVN cũng bất khả thi, huống chi đòi kiểm soát quyền lực của Đảng như ông Vũ Ngọc Hoàng và toàn dân mong muốn.

Ông Vũ Ngọc Hoàng đã đóng vai trò tích cực trong Đại hội để thống nhất Đảng, xoá bỏ tình trạng đa đảng chui (các phe cánh xung khắc ở tầm các đảng phái có chiến lược và nhân sự trái chiều), góp tiếng nói tỉnh ngộ muộn màng nhưng ngày càng quyết liệt, chính xác, sâu sắc và hợp với lòng dân.

Đ.M.T

Nguồn: FB Đỗ Minh Tuấn

2. Facebookker Tongbui Son

Nguyên lý thì ông chỉ mới nói đúng một nửa!

Quyền lực từ đâu mà có?

Cơ chế tạo nên quyền lực, trong từng giai đoạn lịch sử?

Trong từng thời kỳ, và do quy luật nào tạo nên?

Thể hiện quyền lực là thể hiện điều gì trong nhân bản?

Bản chất của quyền lực là từ khế ước xã hội, cộng đồng, và sự tuân thủ khế ước, và những định chế, chế tài cho những mặt hoạt động của xã hội và cộng đồng, tạo nên quyền lực ?

Những định chế đó được lập ra do điều kiện khách quan, do tính nhân văn và trí tuệ của nhân loại tạo ra.

Sự giành giật nhau để sinh tồn, đối với thế giới tự nhiên và hoang dã đã giúp cho con người tự kết tụ lại với nhau, và hơn hẳn loại động vật bản năng đó là khả năng phát triển trí tuệ, qua đó tạo thành một tập hợp xã hội… đưa ra khế ước, để giải quyết một cách hòa bình những mâu thuẫn nội tại trong cộng đồng của loài người. Cũng từ đó mà khả năng tập hợp trí tuệ và sức mạnh của từng cá thế tạo nên thế và lực kỳ diệu để chinh phục thế giới tự nhiên, từ đó hình thành những chuyên ngành những sự phân nhánh và phức tạp mà ta gọi là thượng tầng kiến trúc để đối phó với rất nhiều bài toán đặt ra, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với con người, (hay nói khác là giữa con người với tự nhiên, – kể cả tự nhiên bản năng tiềm ẩn trong con-người, và cả giữa con người với con người khác – hay giữa quần thể con người này với quần thể con người khác).

Những câu ông kết luận như một “tiên đề”:

“…Mặt tiêu cực, nó luôn làm tha hóa những con người và bộ máy sử dụng quyền lực nhưng lại yếu kém về nhân cách và không có cơ chế tốt để kiểm soát quyền lực”.

thoạt nghe có vẻ đúng, nhưng lại rất mơ hồ. Ngay cả từ “nhân cách” cũng là một định nghĩa định tính mơ hồ… không thể định lượng để giải quyết nó như nào là đúng mực, như nào là sai… và như nào là chuẩn mực để khỏi tha hóa (!)???

Lấy những cái chưa rõ, chứa đựng những phần mơ hồ để định nghĩa suy diễn tiếp… thì không những sai mà còn lẫn lộn… cuối cùng là bế tắc… nó giống như cha ông có câu, đường đi hay tối, nói dối hay cùng.

Cái sai căn cơ chính là ở đây, trong lập luận CNXH của Đảng.

Thực ra, những lý luận của Marx và thực tế của Lênin, tại nước Nga, và sau này là LX đều đã sai lầm từ gốc. Dựa vào một cái mơ hồ, để đẩy xã hội loài người vào cuộc đấu tranh nhau, một mất một còn (vốn dĩ thì nó đã luôn như thế) với quy mô toàn cầu, tiêu diệt nhau, vì nói rằng CNXH là tiến bộ nhất của Hình thái phát triển của tổ chức xã hội loài người, và cho rằng muốn có CNXH trước hết phải có con người XHCN….

Bởi lẽ con người là quyết định tất cả, và chính con người là mục tiêu và cũng là động lực để đẩy tiến bộ loài người lên đỉnh cao. Mà con người xã hội chủ nghĩa lại là một con người có những thuộc tính quá lý tưởng… coi đó là tốt đẹp, (như có người nói đại ý là những siêu nhân như các vị Khổng Tử, Đạt Ma, Giê Xu, Mô-ha-mét, Mác, Lênin, nhiều người khác nữa nếu họ ngồi với nhau thì cái gì cũng có thể bàn được và thống nhất được). Ý là những con người như những triết gia vĩ đại điển hình cho người nhất của loài người, có quan điểm sống vị tha nhất, có khả năng tư duy tối thượng… siêu việt, cho mọi điển hình khả năng trí tuệ của con người thì sẽ gặp nhau tại một điểm là họ sẽ cho một xã hội lý tưởng nhất.

Cho nên, từ đó mà chính CNXH sụp đổ chỉ là một sớm một chiều, bởi lẽ nó không có trong thực tế, dù anh có cố tình gán ghép vào thế nào để tạo ra mô hình đó.

Một quy luật vận động là mọi thể chế đều bị thay đổi, chu trình đó dài ngắn khác nhau, càng dài thì càng ít thay đổi (hay tiến bộ) càng trì trệ bảo thủ.

Sự thay đổi hiển nhiên đó, nó có thể tuần tự (và êm nhẹ, bởi sự đấu tranh nội tại diễn ra thường xuyên và có sự loại trừ nhau… (như hình thức cạnh tranh công khai của các kỳ bầu cử ở các nước phương Tây) hay nó chậm chạp và biến thành “big bang” của một “vụ nổ” là cách mạng vũ trang… và tạo nên những thảm họa cho loài người.

Nhỏ thì trong một quốc gia (gọi là can qua) một dân tộc, to thì là chiến tranh thế giới nhằm hủy diệt đối lập. Tạo dựng những mô hình theo lẽ tự nhiên.

Quyền lực chính là để duy trì sự ổn định (Nếu không muốn nói là trì trệ) tạm thời.

Thường thì quyền lực là phải tự giành (giật) lấy, chứ không phải là mọi người trong cộng đồng mặc nhiên ủy quyền cho, họ biết khi bỏ phiếu tức là họ đã phải từ bỏ quyền lực của chính mình rồi, kể cả quyền được quyết định cái chết của mình.

Cho nên, từ cái sai này sẽ dẫn đến những ứng xử thiếu khách quan của một bộ máy cầm quyền, mà dẫn đến hậu quả can qua…

Chẳng ai có thể nói NHÂN DÂN kiểm soát được quyền lực của bộ máy cai trị cả, chỉ có thể nếu để NHÂN DÂN làm việc đó thì chỉ là lật đổ.

Còn muốn sự không thay đổi đột ngột, bắt buộc phải san sẻ quyền lực và minh bạch hóa nó, làm cho các mâu thuẫn về cạnh tranh quyền lực “mềm” hơn, đó là quy luật bất biến….của sự vận động tiến bộ của Nhân loại.

Hay nói khác đi, quyền lực sẽ nhẹ như bấc nếu như trong một giai đoạn ngắn phải có sự thay đổi cho phù hợp; hay nói khác đi, những nhiệm kỳ ngắn hơn so với hiện nay, làm sao để chọn được tối ưu, chẳng hạn nước Mỹ chỉ 4 năm thôi, là phải có sự điều chỉnh.

T.B.S.

Nguồn: FB Tongbui Son

3. GS Trần Ngọc Vương

Gửi FB Tongbui Son

Một bài báo viết đưa ra công luận chính thống chẳng bao giờ chuyển tải hết những nd mà bạn đòi giải đáp, trong khi những vấn đề mà bạn nêu ra đụng đến những nhận thức cốt tử về triết học lịch sử, cần được bàn luận để đạt tới sự thống nhất về nhận thức ở cấp cuối cùng. Bài báo chính trị không bao giờ có thể giải quyết, mà trong trường hợp tối đa, chỉ có thể “đụng chạm” tới những nguyên lý chính trị, mà thôi.

Gửi các bạn khác: trong tri nhận cá nhân, tôi từng công khai nói rằng Anh Vũ Ngọc Hoàng là người hiếm hoi trong giới lãnh đạo tuyên giáo “có khuôn mặt người” – mượn lối diễn đạt của bà đầm thép M. Thatcher về M. Gorbachov. Anh ấy có trí, có tầm và có tâm đấy. Cũng không phải là người “chờ về hưu mới lên tiếng” như nhiều người phán. Trong bối cảnh xã hội – chính trị – kết cấu quyền lực bê bối hiện nay, “gỡ tay vướng” để nói lên được ngần ấy chuyện, là tốt lắm! Mong rằng mọi người like thật nhiều vào!

T.N.V.

Nguồn: Comment Vuong Tran Ngoc

4. Facebookker Trần Viết Hòa

Cho dù ở mô hình xã hội nào thì cũng chỉ với một hình thức là Sở hữu và Lệ thuộc (Một dạng phân ngôi giữa Thống Trị và Nô Lệ).

Nếu không có bản năng thống trị thì không thể tạo quyền lực cho bản thân mà ko có quyền lực thì không thể làm lãnh đạo (Thống Trị).

Chỉ có điều: Một kẻ thống trị khôn lanh thì lấy sự phát triển kinh tế cộng đồng để tạo ổn định xã hội và từ đó được cộng đồng ban cho quyền lực bền vững như Lý Quang Diệu là điển hình. Nhưng trước khi đạt được điều đó, ông ấy đã nhẫn tâm gạt bỏ bất kỳ điều gì làm cản trở kế hoạch của ông, từ khi ban sơ của vai trò là mắt xích trong xã hội cho đến khi ông thành công.

Tất nhiên là những sự việc xảy ra trong quá trình thực hiện, những thứ tiêu cực được che giấu còn những tích cực được thổi phồng, và kết quả cuối cùng đã làm lu mờ tất cả những tiêu cực trong suốt quá trình.

Ở ta có gương điển hình là Nguyễn Bá Thanh. Nhưng tiếc là ông đã không đi được xa vì quá tự tin vào sự ủng hộ của nhân dân. Nhân dân thì giúp được gì trong quá trình tranh giành quyền lực?

T.V.H.

Nguồn Comment Trần Viết Hòa

5. Nhà báo Trương Duy Nhất

Từ bản sớ “liêm sỉ khát vọng” của Trương Tấn Sang, đến luận chương “quyền lực” của Vũ Ngọc Hoàng

clip_image001

Một lối văn phong học trò, dạng tập làm văn, ê a như bản sớ về “liêm sỉ khát vọng” – Bài của cựu Chủ tịch nước Trương Tấn Sang (Phụng sự Tổ quốc, có liêm sỉ và khát vọng cống hiếnVietnamnet).

Rồi lại bài “Có những người bán rẻ tổ quốc vì quyền lợi cá nhân”, loạt “luận chương quyền lực” dài hơi của cựu quan Phó trưởng ban Tuyên giáo trung ương Vũ Ngọc Hoàng.

Lạ. Mấy bài viết, dạng tập làm văn của vài cụ hưu, lại được thiên hạ khen. Cứ như thể những đấng “minh quân”. Dù mới ngày trước, chiều qua thôi, trước khi rời ghế – cũng vô tích sự, ăn tàn phá nát chẳng thua chi những “đồng chí X’ thối tha của họ.

Ở nghĩa khác. Có người dựa vào đó, lại luận rằng “sắp đánh nhau to”. Mơ! Chỉ là hưu, nói cho sướng mồm thôi – Ấy cũng là dạng tiếc tham quyền lực.

T.D.N.

Nguồn: Blog Một góc nhìn khác

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Chín 22, 2016

20160922. QUANH VỤ BA SÀM

  ĐIỂM BÁO MẠNG

TẢN MẠN ANH BA SÀM

NGƯỜI BUÔN GIÓ/ BVN 22-9-2016

Kết quả hình ảnh cho hinh anh ba sàm và minh thúy

Ngày mai toà án cộng sản VN sẽ dựng một phiên toà xảo trá để xét xử anh Ba Sàm tức Nguyễn Hữu Vinh.

Phiên toà phúc thẩm này diễn ra khi anh Ba Sàm đã đi hết nửa mức án mà toà sơ thẩm tuyên.

Trong những người làm thông tin của lề dân, không có ai vượt được qua Ba Sàm về tốc độ làm việc. Hàng núi thông tin khổng lồ được anh chia sẻ và đăng lại trên trang Ba Sàm kèm với những lời bình rất súc tích. Điều ấy chứng tỏ anh phải đọc rất kỹ từng bài viết, từng thông tin

Và cũng không có ai vượt qua được anh về tính khách quan, sự cân nhắc lựa chọn thông tin nào có lợi và bổ ích cho độc giả.

Ở Ba Sàm có sự tinh tế cảm nhận được nguồn thông tin bài viết, có sự bao quát rộng để nhìn thấy lợi ích của bài viết đến công cuộc khai mở dân trí. Đặc biệt những lời bình của anh trong mỗi bài viết như ánh sáng soi tỏ cho người đọc nắm được nội dung bài viết.

Tất cả những gì anh làm đều hướng đến mục đích chung là hướng cho người đọc đến những thông tin đa chiều. Việc mà chế dộ cộng sản Việt Nam đang bằng mọi thủ đoạn để làm ngược lại.

Ở một vị trí độc lập, anh Ba Sàm luôn giữ cho trang của mình được sự độc lập có chọn lựa. Không phải sự độc lập tào lao bất kể cái gì cũng đưa tuốt tuồn tuột lên để câu khách đọc. Hầu như lúc Ba Sàm quản trị trang web của mình, người đọc hiếm thấy những bài của nhà đấu tranh này phê phán nhà dân chủ kia.

Khó có người quản trị trang web nào có thể giữ được lòng mình một cách khách quan như vậy. Đa số những người làm tin, điểm tin nào, cũng có cảm tình với phe nhóm nào đó, vì thế trong đống hằng hà đa số tin tức đưa, họ chọn những tin có lợi cho nhóm của mình hoặc bất lợi cho nhóm khác mà họ không ưa.

Ba Sàm không có chuyện đó, anh là một người làm báo lớn, một nhân cách lớn và hướng đến một mục đích lớn. Cái khoảng trống mà anh để lại trong nền thông tin lề dân bây giờ vẫn là một khoảng trống mà chưa có trang tin, người làm tin nào có thể thay thế được. Thậm chí có thể còn là nhiều năm nữa cũng không có cá nhân nào, nhóm nào có thể thay thế được. Bởi không nhiều người hội tụ được những điểm ưu việt như anh.

Những năm trước khi Ba Sàm còn chưa bị bắt, lượng thông tin ngồn ngộn, phong phú, hấp dẫn của trang Ba Sàm khiến cho bất cứ người nào muốn tìm hiểu, đều sáng dậy mở trang Ba Sàm đầu tiên để theo dõi. Những tin nóng hổi đều được cập nhật ở đây, và có những tin rất quan trọng cho những người tìm hiểu về chuyên môn hay vụ việc nào đó. Tôi thích nhất ở Ba Sàm không phải là những tin nóng hổi, nhanh nhất… mà là những mẩu tin tưởng chừng như vun vặt, ví dụ ông này thăm chỗ kia, đơn vị này ký kết cái nọ, cuộc gặp mặt của hội đoàn của đảng ở đâu đó… đấy chính là những tư liệu bổ sung quý báu cho những bài viết của tôi.

Bây giờ thì mỗi lần viết, tôi phải tự lần mò đi tìm, đi tra mất rất nhiều thời gian hơn.

Trong ba ngày liên tiếp, những người yêu chuộng tự do trên đất nước Việt Nam phải chứng kiến hai sự việc rất đau lòng. Vào ngày 20 là phiên xử bất nhân của toà án cộng sản Việt Nam kết án người phụ nữ dũng cảm Cấn Thị Thêu. Chỉ trong một vụ việc đất đai ở Dương Nội chị Thêu đã phải hai lần ra toà, hai lần chịu án tù, lần trước với người chồng của chị. Chế độ cộng sản đã đi đến cùng của sự bất nhân, chưa có một vụ cướp đất nào mà xử người dân tù đến 2 lần liên tiếp như vậy. Dường như chế độ này đang điên cuồng như tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đang thể hiện, chúng sẵn sàng chà đạp tất cả mọi sự phản kháng, ý kiến bất đồng để thể hiện sự độc quyền, độc tài. Chúng muốn nói không ai có thể làm gì chúng, và chúng không phải nhân nhượng, không phải e dè sự bất mãn, bức xúc của quần chúng nhân dân. Chỉ có quyết định của Đảng là vượt lên hết tất cả mọi giá trị pháp luật cũng như đạo lý.

Ngày 22 tới đây, đảng cộng sản VN lại muốn thể hiện sự tàn bạo để uy hiếp dân chúng qua phiên toà xét xử Nguyễn Hữu Vinh và Nguyễn Thị Minh Thuý, bằng những chiêu trò vô đạo, chà đạp lên mọi thủ tục trình tự của pháp luật.

Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh đã trả lời luật sư Trần Vũ Hải trước ngày xử rằng ông đã ngồi tù 2,5 năm rồi chả có gì ngại phải chịu thêm 2,5 nữa. Hãy để cho các luật sư không bị sức ép khi cất lên tiếng nói của mình.

Như thế Nguyễn Hữu Vinh đã ý thức được cuộc chiến này, không phải sự thắng thua nằm ở chỗ bên công lý, yêu tự do bị đè bẹp. Mà hơn cả là sự thắng thua nằm ở ý chí không bao giờ bị đè bẹp.

Đảng csvn dưới sự lãnh đạo độc tôn của Nguyễn Phú Trọng, tập hợp được quyền lực vào tay mạnh hơn bao giờ hết, để triệt tiêu những tiếng nói đòi tự do ngôn luận, đòi quyền con người. Sẽ có nhiều cuộc biểu tình, phản kháng bị đàn áp dã man hơn những năm trước kia rất nhiều.

Nhưng đừng vì thế mà những người yêu tự do, công bằng sợ hãi mà chùn bước. Hơn lúc nào hết, ngày mai ở phiên toà xét xử Nguyễn Hữu Vinh phải cần có nhiều người ủng hộ anh có mặt. Dẫu bị đàn áp, bị phân tán, bị dẹp tan… nhưng đó là sự thắng lợi của bạo lực từ chế độ cộng sản, còn sự thắng lợi về ý chí yêu chuộng tự do, dân chủ, quyền con người thuộc về những người dân. Đấy chính là điều mà anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh đã thể hiện qua lời nhắn với luật sư Trần Vũ Hải.

N.B.G.

Nguồn: FB Thanh Hieu Bui. Bài viết thể hiện quan điểm và cách xưng hô riêng của tác giả.

10 ĐIỂM ĐÁNG LƯU Ý TRONG VỤ ÁN ANH BA SÀM

TRỊNH ANH TUẤN/ BVN 22-9-2016

1. Công an khống chế và tự tiện sử dụng máy tính cá nhân lúc bắt giữ

Ngày 5/5/2014, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an bắt khẩn cấp Nguyễn Hữu Vinh và Nguyễn Thị Minh Thúy tại nhà riêng. Tuy nhiên lúc bắt giữ, điều tra viên Nguyễn Tuấn Hưng – A92 đã làm một việc sai nguyên tắc khi tự tiện dùng máy tính cá nhân của ông Vinh trong suốt 8 giờ đồng hồ. Việc này trái với quy định của pháp luật một cách khá ngớ ngẩn trong lúc khám xét, Công an đã có hành vi tác động vào những tài liệu, dữ liệu, hồ sơ có thể trở thành chứng cứ.

2. Thời gian tạm giam và thời gian phúc thẩm quá hạn

Ông Vinh và bà Thúy bị bắt vào 5/2014. Gần 2 năm sau khi bị bắt, ngày 23/3/2016, phiên xử sơ thẩm mới diễn ra. Theo thông báo của Tòa án nhân dân cấp cao, ngày 23/09/2016, phiên xử phúc thẩm mới diễn ra. Như vậy, thời gian tạm giam đã quá mọi quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự.

3. Trả hồ sơ yêu cầu điều tra lại đến 5 lần, lần cuối cùng với lý do “xác minh đảng tịch”

Theo luật, Viện Kiểm sát và Tòa án chỉ được trả hồ sơ không quá 2 lần, tổng cộng là 4 lần. Tuy nhiên, Tòa án đã trả hồ sơ lần thứ 3 với lý do “xác minh đề đảng tịch”. Lý do này cũng trái với quy định về pháp luật khi “tòa án xét xử theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội; cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân và các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật “.

4. Cơ quan điều tra trả lời yêu cầu điều tra bổ sung của VKS là “do bị cáo không khai, nên không xác minh được”

Đây là một câu trả lời hết sức ngớ ngẩn của Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an, thể hiện sự thiếu trách nhiệm và thiếu nghiêm túc trong việc điều tra vụ án.

5. FPT và VDC đã bí mật theo dõi, sao chép và làm lộ thông tin của khách hàng

FPT và VDC đã gửi văn bản cung cấp thông tin cho công an về hai blog Chép sử Việt và Dân quyền như email đăng nhập, số điện thoại xác nhận hay việc đăng tải các bài viết lên blog. Đặc biệt, những thông tin này không phải do FPT quản lý mà thuộc về Công ty Automattic, chủ sở hữu của WordPress. Như vậy, hai công ty cung cấp mạng này đã tự tiện theo dõi, cung cấp thông tin khách hàng cho Công an. Hơn nữa, những thông tin này do họ dùng các kĩ thuật theo dõi bí mật và không được phép.

6. Tòa xử theo điều 258 Bộ luật Hình sự mà không có bị hại nào xuất hiện

Theo nguyên tắc của pháp luật hình sự, Điều 258 phải cấu thành vi phạm về vật chất, tức là phải tồn tại một bị hại cụ thể nào đó. Tuy nhiên, trong cả quá trình điều tra cũng như xét xử, không thấy tồn tại một bị hại cụ thể nào.

7. Kiểm sát viên không tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm

Tại tòa, các luật sư đã rất nhiều lần yêu cầu kiểm sát viên tranh luận những luận điểm, luận cứ trong vụ án. Trái lại, kiểm sát viên gần như không tranh luận gì với luật sư và suốt phiên tranh tụng chỉ trả lời “giữ quan điểm”.

8. Ngăn chặn nhận chứng vào tòa dù đã gửi đơn

Trong 24 bài viết được sử dụng để kết tội ông Vinh và bà Thúy, có một bài viết của đại tá nhà văn Phạm Đình Trọng và một bài viết nhà báo Phạm Đoan Trang. Cả hai người đều đã gửi đơn lên tòa án đề nghị tham dự phiên tòa với tư cách nhân chứng. Họ đều không nhận được phản hồi từ tòa. Không những vậy, vào ngày xử sơ thẩm, nhà báo Phạm Đoan Trang còn bị câu lưu trái phép trong đồn công an cho đến khi phiên tòa kết thúc.

9. Tăng mức án đề nghị vì lý do nhân đạo

Nguyễn Thị Minh Thúy bị Viện kiểm sát đề nghị 24-30 tháng tù. Tuy nhiên, tòa sơ thẩm xử 36 tháng tù giam. Trong bản án, tòa lại đưa ra các lý do nhân đạo của bà Thúy như “có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đã ly hôn và hiện nay phải một mình nuôi hai con nhỏ; đây là tình tiết giảm nhẹ theo Khoản 2 điều 46 Bộ luật Hình sự”. 
Luật sư Trần Quốc Thuận đã hết sức bức xúc về việc này. Ông gọi hành động này là “trơ trẽn” và “vô nhân đạo”. Trong phiên phúc thẩm tới, ngoài bào chữa cho ông Vinh, Luật sư Thuận còn bào chữa cho bà Thúy.

10. Bản án sơ thẩm khi tòa đưa ra có những nội dung không có trong cáo trạng cũng như trong quá trình tranh tụng

Khi đọc bản án, hai bị cáo, các luật sư và nhiều người tham gia đã hết sức bất ngờ khi trong bản án xuất hiện những tình tiết, chứng cứ không có trong kết luận điều tra cũng như cáo trạng hay bất cứ luận cứ tranh tụng nào của luật sư. Luật quy định tòa chỉ xử theo những gì nêu trong cáo trạng. Tuy vậy, tòa lại tự động đưa vào bản án những chứng cứ, luận cứ chưa được xem xét tại phiên tòa là điều không đúng và rất bất thường.

T. A. T.

Tác giả gửi BVN.

GIỚI BLOGGER VN NÓI GÌ VỀ PHIÊN  TÒA PHÚC THẨM XỬ NGUYỄN HỮU VINH VÀ NGUYỄN THỊ MINH THÚY

HÀN GIANG/ BVB 22-9-2016

Blogger Đặng Phương Bích đưa nhận định về phiên xử phúc thẩm Ba sàm Nguyễn Hữu Vinh và cộng sự Nguyễn Thị Minh Thúy vào ngày 22/9; “Từ trước đến nay, bất cứ án nào mang tính chính trị một chút, mang tính bất đồng chính kiến một chút là người ta nói đấy là án bỏ túi, mọi phân tích và bào chữa của luật sư họ đều cho nó vui thôi chứ đã ấn định rồi“.

Ngày 22/9/2016, Tòa án Nhân dân Tối cao Hà Nội (Lô D29 KĐT mới Cầu Giấy, Phường Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội) sẽ mở phiên xét xử phúc thẩm về tội “Lợi dụng tự do dân chủ” theo Điều 258 Bộ luật hình sự đối với hai bị cáo là ông Ba sàm Nguyễn Hữu Vinh và cộng sự Nguyễn Thị Minh Thúy. Cũng như phiên xử sơ thẩm cách đây mấy tháng, phiên xử phúc thẩm cũng nhận được sự quan tâm đặc biệt của dư luận trong nước và quốc tế. Liệu rằng, ông Vinh và bà Thúy có được thả ngay tại phiên xử này hay không?….

“Không có tội”

Cho đến trước khi bị bắt vào tháng 5/2014, ông Ba sàm Nguyễn Hữu Vinh và cộng sự Nguyễn Thị Minh Thúy là những người cùng sinh hoạt ở trang mạng Ba sàm- Thông tấn xã vỉa hè, chuyên đăng tải những bài viết chủ yếu liên quan đến tình hình chính trị, xã hội, kinh tế…. ở Việt Nam thu hút hàng triệu độc giả truy cập.

Sau 22 tháng giam giữ để phục vụ công tác điều tra, ngày 23/3/2016, ông Vinh và bà Thúy mới bị đưa ra hầu tòa tại phiên sơ thẩm với cáo buộc có hành vi đăng tải 24 bài báo sai phạm trên 2 trang Dân Quyền và Chép Sử Việt có nội dung bôi nhọ, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Tại phiên xử sơ thẩm, Tòa án tuyên ông Vinh 5 năm tù giam và bà Thúy 3 năm tù giam. Ngay sau đó, cả ông Vinh lẫn bà Thúy cùng kháng cáo.

Việc ông Vinh và bà Thúy đăng tải các bài viết lên mạng Internet liệu có là tội thì đến nay chỉ vẫn còn đa chiều dư luận. Phía chính quyền Việt Nam thì khẳng định việc xét xử ông Vinh và bà Thúy là đúng người, đúng tội, đúng với pháp luật Việt Nam. Phía người dân đặc biệt là giới blogger ở Việt Nam có cùng quan điểm cổ vũ một nền tự do báo chí như ông Vinh và bà Thúy, phản biện xã hội là hình thức của dân chủ tiến bộ thì cho rằng ông Vinh và bà Thúy không có tội.

Một blogger khá nổi tiếng ở Việt Nam tên Tô Oanh chia sẻ với Việt Nam Thời Báo rằng, việc Tòa án Hà Nội xác định tội của ông Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và cô Minh Thúy vậy là không được, không chính xác bởi những điều luật căn cứ rất mơ hồ. Blogger Tô oanh nói:

“Cho nên những việc làm của Vinh cũng như của cô Thúy và cá nhân bản thân tôi thỉnh thoảng có viết bài đăng trên mạng cũng chỉ là quyền tự do ngôn luận của mình. Thế nhưng họ (chính quyền) rất sợ phong trào dân chủ trong nước lên mạnh nên họ bắt bẽ, họ quy tội để cầm tù người ta chứ tôi nghĩ căn cứ những Điều luật chung chung như Điều 79, 88, 258 trong Bộ luật hình sự bắt tù như thế nào được. Tôi cho rằng Hiến pháp Việt Nam này có cũng như không. Buồn lắm. Nói thật như thế

Thêm một blogger cũng khá nổi tiếng khác, bà Đặng Phương Bích hiện sinh sống và làm việc tại Hà Nội, cho rằng việc ông Vinh và bà Thúy có tội hay không thì bản thân bà nghĩ là nó đã quá rõ ràng. Rất nhiều ý kiến của dư luận đều không đồng tình về việc Tòa kết tội ông Vinh và bà Thúy, dư luận cho rằng việc làm của hai người này là đang thực hiện quyền tự do ngôn luận nhưng việc chính quyền Việt Nam cho hai người đang lợi dụng tự do dân chủ, lợi dụng tự do ngôn luận để bắt giam. Một án bỏ túi là điều có thể thấy được qua việc xét xử ông Vinh và bà Thúy. Blogger Phương Bích nói về phiên xử: 

Từ trước đến nay, bất cứ án nào mang tính chính trị một chút, mang tính bất đồng chính kiến một chút là người ta nói đấy là án bỏ túi, mọi phân tích và bào chữa của luật sư họ đều cho nó vui thôi chứ đã ấn định rồi.”

Đã nói đến dân chủ thì bất cứ ai cũng có quyền được tự do bày tỏ chính kiến, bày tỏ tiếng nói yêu thương hoặc ghét nhưng ở Việt Nam, hầu hết những tiếng nói không thích hoặc những lời phản biện khó nghe mà có đụng chạm đến Đảng hoặc thành phần “Tứ trụ triều đình” là bị chính quyền khoanh vùng “nhạy cảm”, có thể bị bắt bỏ tù bất cứ lúc nào. Vậy, sẽ hiểu như thế nào về Dân chủ dưới chế độ Việt Nam hiện tại.

Blogger Phương Bích nói tiếp:

Dân chủ dưới chế độ này là dân chủ trong khuôn khổ, trong khuôn khổ những gì họ cho phép. Nhưng bản thân tôi, kể cả nói họ cho phép thì tôi dẫn chứng một điều thế này; đó là việc nói và việc họ làm là hai việc hoàn toàn khác nhau. Ví dụ, họ xử công khai nhưng họ cấm cửa tòa án thậm chí là người thân của bị cáo cũng không được vào tham dự xét xử, từ cái đó suy ra thì nói gì đến việc dân chủ trong xã hội này là cái gì? Họ nói dân chủ là theo ý của họ và trong khuôn khổ họ đặt ra nhưng mà bảo khuôn khổ nào thì họ cũng không nói cho mình nghe đâu.”

Thực chất Việt Nam chưa có tự do dân chủ thì không thể nói ông Vinh, bà Thúy hay nhiều blogger cổ vũ nền dân chủ tiến bộ khác lợi dụng tự do dân chủ được, đó là khẳng định của blogger Tô Oanh. Ông nói:  

Thực chất mà nói trong Hiến pháp Việt Nam có nhắc đến quyền này, quyền nọ quyền kia, tự do dân chủ kể cả quyền tôn giáo cũng vậy nhưng họ cứ viện cớ luật chưa có. Thực chất Việt Nam chưa có tự do dân chủ chứ họ nói lợi dụng tự do dân chủ là không đúng bởi vì có đâu, anh cấm đoán, chẳng cho người ta cái quyền công dân mà anh đã nêu trong Hiến pháp và ký vào những công ước quốc tế. Tôi nghĩ người Việt Nam chưa được thừa hưởng quyền tự do dân chủ đúng nghĩa.”

Vẫn bị kết án tù chứ không thả

Dân biểu Martin Patzelt, Báo cáo viên về Tự do Báo chí, Tự do Ngôn luận và khu vực Đông Nam Á của Khối Dân biểu Liên đảng Dân chủ Cơ đốc (CDU) và Xã hội Cơ đốc (CSU) trong Ủy ban Nhân quyền Quốc hội Cộng hòa Liên bang Đức, bày tỏ sự quan tâm đến phiên xử phúc thẩm đặc biệt đối với trường hợp ông Ba sàm Nguyễn Hữu Vinh đã ra một thông cáo báo chí đề ngày 13/9 có đoạn trích rằng:

Tôi cho rằng ông Vinh bị kết án một cách bất công về tội “Lợi dụng quyền tự do dân chủ“ chiếu theo điều 258 Bộ luật Hình sự Việt Nam. Ngoài ra tôi cũng lo lắng khi thấy rằng từ sau phiên toà sơ thẩm, gia đình ông bị cấm gặp mặt ông và các luật sư bị giới hạn quyền đại diện cho ông. Với hy vọng rằng những hạn chế này sẽ được gỡ bỏ, tôi mong phiên xử phúc thẩm diễn ra ngày 22/09/2016 sẽ tuân thủ các nguyên tắc của một nhà nước có pháp quyền và sẽ là một phiên toà xét xử công bằng theo pháp luật Việt Nam, trong đó các nghĩa vụ của một quốc gia thành viên Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị phải được tôn trọng, và ông Vinh sẽ được trả tự do.”

Tổ chức nhân quyền Human Rights Watch (HRW) có trụ sở tại New York trước đó đã phát đi thông cáo kêu gọi Việt Nam hủy bỏ cáo buộc với ông Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và Nguyễn Thị Minh Thúy; “Chính phủ Việt Nam nên trả tự do và hủy bỏ tất cả các cáo buộc chống lại hai blogger nổi tiếng,”

Vậy, trước sự quan tâm đặc biệt của quốc tế, liệu ông Vinh và bà Thúy tạm gọi là những người bị tù vì dính líu đến án chính trị liệu chính quyền Việt Nam có thả hai người ngay tại phiên xử ngày 22/9? Trả lời cho câu hỏi này, Blogger Phương Bích nói mình không tin điều này.

Tôi không tin điều đó. Từ trước giờ họ không bao giờ chịu áp lực quốc tế mà chấp nhận thả người đâu, mà họ chỉ cho đó là một con bài để trao đổi trong một thương thảo nào đấy chứ còn tôi chưa thấy một áp lực nào của quốc tế đối với Chính phủ Việt Nam để họ thả tù nhân.”

Còn với blogger To Oanh thì với chế độ công an trị thì khó mà có chuyện thả ông Vinh và bà Thúy ngay tại phiên xử này được. Ông nói:

Theo tôi, một chế độ công an trị hình thành quá rõ ràng sau Đại hội Đảng vừa rồi thì không có chuyện thả ông Vinh và cô Thúy trong phiên xử lần này được. Cái mong muốn của tôi là họ không ngăn chặn và cho những người liên quan vào dự, ví dụ như chúng tôi muốn tìm hiểu phiên xử thì chúng tôi đến nhưng chúng ngăn chặn có cho vào đâu, ngay cả ông dân biểu Quốc hội Đức cũng không vào được và có lẽ lần này ổng cũng sang Việt Nam. Tôi chỉ mong muốn, họ cởi mở hơn, họ làm đúng với phiên tòa tự do để cho những người quan tâm như tôi được vào là tôi rất phấn khởi chứ còn chuyện thả hai người này là chuyện tôi không tin

Blogger To Oanh còn dẫn chứng cho lời khẳng định của mình, bằng chứng là ngày Quốc khánh 2/9 vừa rồi, Chính quyền nhà nước Việt Nam có đặc xá một số lượng lớn tù nhân nhưng những tù nhân dính vào án chinh trị, tù nhân lương tâm thì không thả một ai cả.
(VNTB)

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Chín 21, 2016

20160921. TÍNH KHẢ THI CỦA ĐẾ ÁN ‘MƯA NHÂN TẠO’

ĐIỂM BÁO MẠNG

MƯA NHÂN TẠO :GIẢ TƯỞNG HAY HIỆN THỰC ?

TÔ VĂN TRƯỜNG/ BVN 21-9-2016

clip_image001

Cơ chế vật lý của mưa nhân tạo là đúng nhưng không tạo được trạng thái khí quyển như mong muốn của con người. Nguyên lý làm mưa nhân tạo chỉ được coi là thành công nếu thỏa mãn ba điều kiện: (1) Giải thích được cơ chế vật lý của việc tăng lượng mưa do tác động làm mưa nhân tạo; (2) Các kết quả phải đảm bảo độ tin cậy thống kê; (3) Kết quả làm mưa nhân tạo phải được lặp lại với các điều kiện mây và tác động tương tự như nhau, hay nói cách khác, công nghệ được nghiên cứu và phát triển tại vùng này phải áp dụng được một cách hiệu quả tại các vùng khác.

Cho đến tận bây giờ, cả lý thuyết và thực tiễn trên thế giới làm “mưa nhân tạo” chỉ mới đạt được những thành tựu vô cùng nhỏ nhoi mang tính thí nghiệm là chủ yếu.

Không nên chống lại khoa học viễn tưởng, song làm việc gì cũng phải liệu sức mình. Cổ nhân ta có câu: “Liệu cơm gắp mắm”! Lúc này, đất nước ta đang gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế, nợ công, nợ xấu đại vấn đề, thu không đủ chi, lòng dân bất an, lại bỏ hàng nghìn tỷ đồng làm khoa học viễn tưởng “hô phong hoán vũ” là hoàn toàn không nên.

Theo báo Dân trí cho biết Công ty cổ phần Khoa học công nghệ An Sinh Xanh đề xuất dự án “Lên trời gọi mưa” có thể giảm mây bay, điều tiết mưa đúng nơi, đúng lúc, giảm ngập lụt tắc đường, và đề nghị Chính phủ xin tạm ứng khẩn số tiền khổng lồ 5.000 tỷ đồng để kịp triển khai mua sắm trang thiết bị hóa chất thử nghiệm đợt 1. Tôi không biết báo Dân tríphản ánh có chuẩn xác không, vì sao có đến 7 Bộ cùng tham gia, xem xét đánh giá đề xuất nói trên!?

Ước mơ của con người

Từ khi con người biết tư duy, qua bao thế hệ gắn bó với thiên nhiên để sản xuất và tồn tại, loài người luôn khát vọng về nhiều vần đề khoa học sát sườn với nhân loại, trong đó có ước mơ đến cháy bỏng “kêu được nắng, lôi được gió và gọi được mưa” đảm bảo cho “thiên thời địa lợi” phục vụ sản xuất và đời sống quanh năm suốt tháng theo đúng yêu cầu của cây trồng, vật nuôi và con người.

Theo các nguồn tài liệu khoa học, thí nghiệm đầu tiên về tác động lên mây đã được thực hiện vào cuối những năm 1940 của Thế kỷ XX. Vào những năm 50 của thế kỷ này, nhiều nước, đặc biệt là Mỹ và Liên Xô, sau đó là Nga đã tập trung nghiên cứu về vấn đề này. Khi đó, người ta đã nghĩ tới 1 ngày nào đó có thể bấm 1 nút vào buổi sáng để quyết định ngày hôm đó mưa hay nắng và con người có thể điều khiển được thiên nhiên. Ước mơ vẫn chỉ là ước mơ, khát vọng cũng dừng lại ở khát vọng mà thôi.

Nguyên lý làm mưa nhân tạo và lực Assimet

Nguyên lý làm mưa nhân tạo dù là của Nga, hay Pháp, Đức, Mỹ, Thái Lan, Trung Quốc… đều phải dựa trên nguyên lý cơ bản là tận dụng hướng gió tự nhiên, tức là tận dụng các luồng gió khí quyển tự nhiên có mang ít nhiều hơi nước kết hợp với tác động nhân tạo, tức là phun các loại hóa chất thích hợp hay còn gọi là dùng các kỹ thuật tạo hạt nhân ngưng kết và đông lạnh vào không khí làm ngưng kết hơi nước lại hình thành các đám mây. Các đám mây đó là tập hợp các hạt nước nhỏ li ti, có kích thước khác nhau. Để có thể hình thành mưa, các hạt nước này phải kết hợp được với nhau, lớn dần và nặng hơn đủ để rơi xuống tận mặt đất. Có thể hiểu nhờ hướng gió và sức gió mà liên kết lại thành các đám mây to dần, nặng dần và thấp dần rồi sinh ra mưa.

Hay nói cách khác, những đám mây này có phát triển được hay không phụ thuộc vào phân tầng khí quyển (phân bố thẳng đứng của nhiệt độ khí quyển). Nếu phân tầng khí quyển là bất ổn định, lực Assimet dương, khối mây phát triển tạo ra mưa, nếu phân tầng là ổn định, lực Assimet âm, thì khối mây không thể phát triển, không hy vọng có mưa. Khi thời tiết khô hạn thì khí quyển là ổn định, trời quang mây hoặc có màn mây mỏng, việc làm mưa nhân tạo là cực kỳ khó khăn. Nếu có làm cũng chỉ nhận được lượng mưa không đáng kể mà chi phí lại quá lớn.

Khi khí quyển bất ổn định lớn, có mưa lớn kéo dài muốn dừng mưa cũng khó như làm mưa. Để làm thí nghiệm, người ta chọn các trạng thái trung hòa kích động một chút có thể chuyển trạng thái. Trạng thái trung hòa này không phải lúc nào cũng có và nếu nó có thì lại ở chỗ ta không cần làm mưa. Tương tự vấn đề tăng kích thước hạt nước, tạo nhân ngưng kết đều gặp muôn vàn khó khăn và tốn kém nên vấn đề làm mưa nhân tạo chỉ là các thử nghiệm khoa học chứ chưa thể xem là bài toán kinh tế được.

Tuy nhiên, quá trình này lại còn phụ thuộc rất nhiều vào các đặc trưng của luồng không khí đó như độ ẩm, lượng hơi nước, nhiệt độ, độ cao, tốc độ gió, độ sạch của khối khí, hướng di chuyển của khối khí, quy mô diện tích và bề dày của khối khí, mật độ không khí, mà chúng ta phải biết được nhờ quan trắc hoặc tính toán được trước khi quyết định thực hành quá trình tác động vào khối khí để tạo ra mưa nhân tạo.

Tốc độ gió, hướng gió, nhiệt độ, lượng ẩm trong khí quyển, nơi mà con người muốn tác động vào để gây mưa là những nhân tố quyết định sự thành công của một trận mưa nhân tạo có giá trị thương mại cho một vùng hay một khu vực nào đó đáp ứng yêu cầu của sản xuất và đời sống. Đáng tiếc là “sức người có hạn”, chúng ta khó có thể hiểu biết đầy đủ về bản chất của các khí đoàn theo cả phương ngang, phương thẳng đứng và theo cả thời gian. Vì vậy, giả dụ có thể tạo được mưa thì chưa chắc mưa đã rơi vào đúng nơi mà con người mong muốn.

Nghiên cứu mưa nhân tạo ở Việt Nam

Phải nói rằng công việc nghiên cứu tạo mưa nhân tạo là hết sức khó khăn về lý thuyết và vô cùng phức tạp về điều khiển, thực hành, cực kỳ tốn kém về kinh phí, vật tư, vật liệu, hiệu quả kinh tế không nhiều và rất phập phù.

Ở Việt Nam, theo tôi biết từ rất lâu rồi đã có các nhà khoa học nghiên cứu về làm mưa nhân tạo như của GSTS Lê Đình Quang và nhóm cộng sự (Tổng cục Khí tượng thủy văn), và đặc biệt là đề tài nghiên cứu khoa học của PGS Vũ Thanh Ca – Bộ Tài nguyên & Môi trường tiêu đề “Nghiên cứu cơ sở khoa học để làm mưa nhân tạo tại Việt Nam”.

Theo PGS Vũ Thanh Ca cho biết vào thời điểm năm 2005, Nga đang cực kỳ tự tin về những nghiên cứu của mình về mưa nhân tạo. Ngoài Nga, một số nhóm khoa học tại Mỹ và Israel cũng công bố những phương pháp và công nghệ mới để tác động lên mây làm mưa nhân tạo. Cạnh ta thì có Trung Quốc, Thái Lan cũng đầu tư rất lớn cho những nghiên cứu và trên thực tế đã triển khai nhiều dự án làm mưa nhân tạo để chống hạn, làm sạch không khí và nhiều mục đích khác nhau.

Đề tài của PGS Vũ Thanh Ca đã mời được nhiều chuyên gia nổi tiếng nhất thế giới về tác động lên mây và làm mưa nhân tạo từ Mỹ, Nga sang Việt Nam phối hợp nghiên cứu, tổ chức hội thảo về làm mưa nhân tạo ở Việt Nam. Nhóm nghiên cứu cũng đi Nga, Thái Lan và Trung Quốc để học tập kinh nghiệm làm mưa nhân tạo. Ủy ban nhà nước Nga về Khí tượng Thủy văn và Cục Khí tượng Trung Quốc đã bố trí cho đoàn tới các viện nghiên cứu, các cơ sở quan trắc khí tượng và các cơ sở làm mưa nhân tạo hiện trường, tổ chức một số buổi giảng lý thuyết, các cuộc tọa đàm trao đổi kinh nghiệm về các quá trình vi vật lý mây, các công nghệ cụ thể để tác động lên mây.

Các công nghệ của các nhà khoa học Israel về mô hình số trị mã nguồn mở về mô phỏng rất chi tiết các quá trình vi vật lý mây và tác động lên mây để làm mưa nhân tạo, mô hình số trị dự báo thời tiết với thời hạn cực ngắn (2 đến 3 giờ) với độ chính xác cao sử dụng các số liệu của ra-đa số hóa để phục vụ nghiên cứu và tác nghiệp làm mưa nhân tạo cũng như để cảnh báo các hiện tượng thời tiết nguy hiểm của Mỹ chuyển giao cho Việt Nam đều không thể áp dụng được vào thực tế vì không giải thích rõ được cơ chế tăng lượng mưa tới mức thương mại khi tác động.

Ngay cả nghiên cứu của Thái Lan công nghệ có thể tạo mây trong điều kiện trời không mây và tác động tiếp để đám mây phát triển và gây mưa nhưng tác động làm mưa nhân tạo tại một quy mô rất nhỏ, không thể huy động đủ lượng ẩm để tạo ra một trận mưa để làm thay đổi đáng kể tình trạng khô hạn. Hay nói một cách khác, có thể tạo mưa từ tác động, nhưng lượng mưa tạo được không hiệu quả về mặt kinh tế.

Lời kết

Nhiều người có thẩm quyền “hô phong hoán vũ” nên đất nước ta mới lâm vào cảnh bế tắc về đường hướng phát triển, nợ công, nợ xấu đại vấn đề, thu không đủ chi, lòng dân bất an, mong các nhà khoa học cần tỉnh táo đừng “đổ thêm dầu vào lửa!”

Qua theo dõi các tạp chí khoa học quốc tế cho đến tận ngày hôm nay cũng không thấy có sáng chế nào tin cậy được áp dụng để “hô phong hoán vũ” cho nên ngay các nước tiên tiến, giàu có trên thế giới như Mỹ, Canada, Úc, v.v… vẫn phải chịu cảnh cháy rừng, ngập lụt do thời tiết.

Đầu tư nghiên cứu làm mưa nhân tạo hiện nay ở Việt Nam là lãng phí vì chắc chắn là không có hiệu quả. Hay nói cách khác, xin đừng lấy tiền thuế của dân ném “lên trời gọi mưa” rất viển vông trong khi đất nước đang có nguy cơ “vỡ trận tài chính”!

T.V.T.

Tác giả gửi BVN.

Phụ lục

Xin tạm ứng “khẩn” 5000 tỷ đồng cho dự án… “Lên trời gọi mưa”!

Bên cạnh việc đề nghị Thủ tướng và Văn phòng Chính phủ xem xét chủ trì tổ chức cuộc họp với 7 bộ để bàn riêng về dự án “Lên trời gọi mưa” thì “cha đẻ” của dự án có tên gọi khác lạ này cũng xin tạm ứng khẩn số tiền khổng lồ 5.000 tỷ đồng để kịp triển khai mua sắm trang thiết bị hóa chất thử nghiệm đợt 1 vào 10/10 tới.

“Lên trời gọi mưa”, đây là tên dự án đang được một doanh nghiệp là Công ty CP Khoa học công nghệ An Sinh Xanh đề xuất lên Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cùng các bộ ngành liên quan nhằm mục đích chống nắng hạn trong chu kỳ El Nino.

Được biết, về đề xuất trên, Văn phòng Chính phủ đã có công văn đề nghị 7 bộ cùng tham gia. Tiếp đó, Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đã có công văn chỉ đạo Công ty An Sinh Xanh liên hệ với 7 bộ để triển khai theo 7 lĩnh vực quản lý Nhà nước.

Ông Phan Đình Phương, Tổng giám đốc Công ty An Sinh Xanh cho biết, mới đây, doanh nghiệp này đã tiếp tục “khẩn trương nghiên cứu” nâng cấp dự án trên theo hướng lập 1.000 trạm điều tiết mưa trong bối cảnh mưa bão hoành hành gây ngập lụt từ Thủ đô Hà Nội đến các tỉnh thành khi vừa mới bước vào chu kỳ La Nina (ngược với El Nino khô hạn).

clip_image001

Khoản tiền khổng lồ 5.000 tỷ đồng được đề nghị Thủ tướng cho tạm ứng khẩn với dự án “Lên trời gọi mưa”

Dự án nâng cấp được miêu tả như sau: Khi gió đưa quá nhiều mây từ biển vào đất liền thì 100 trạm chủ động đón mây gây mưa ngay trên vịnh Bắc Bộ để giảm mây bay vào, giảm ngập lụt tắc đường cho các thành phố”.

Ngoài ra, còn có 400 trạm điều tiết mưa đúng nơi đúng lúc cho 63 tỉnh thành có đủ nước phục vụ nông lâm ngư nghiệp. 500 trạm còn lại trên hàng ngàn sông suối và hồ thủy điện rừng núi phía Bắc và dãy Trường Sơn để gây mưa; tạo lập hệ thống đề kè giữ nước ngọt, chống xâm nhập mặn đảm bảo nước cho thủy điện thủy lợi và các vựa lúa đồng bằng Bắc Trung Nam Bộ, ổn định đời sống, giữ vững an ninh lương thực, quốc phòng và quốc gia.

Như vậy, theo như “bản vẽ” được Công ty An Sinh Xanh phác thảo, nếu được thông qua thì đây là lần đầu tiên Việt Nam tác động vào thiên nhiên để điều chỉnh thời tiết liên quan đến đa ngành, đa luật lệ.

Để “khởi sự đúng tầm của dự án” như đánh giá của chính đơn vị đề xuất, trong văn bản trình Thủ tướng, phía An Sinh Xanh đã đề nghị Thủ tướng và Văn phòng Chính phủ xem xét chủ trì tổ chức cuộc họp với 7 bộ và công ty này để giới thiệu dự án, thống nhất mục tiêu và phương thức triển khai.

Công ty còn đề xuất, trong cuộc họp này sẽ thành lập Bộ chỉ huy Dự án cấp quốc gia và “tạo cơ chế thông thoáng đặc cách” để quản lý theo hình thức khoán gọn bằng kết quả cuối cùng và đẩy nhanh tiến độ nghiên cứu kịp thời đối phó thực sự hiệu quả với thời tiết.

Theo như đề xuất được công ty đưa ra thì thời gian họp do Chính phủ chủ trì nhưng dự kiến sẽ trong khoảng từ ngày 15 đến ngày 25/9.

Mặc dù cuộc họp này chưa diễn ra và cũng chưa có chủ trương nào từ Chính phủ, tuy nhiên, trong văn bản trình Thủ tướng, đơn vị đề xuất dự án đã rất mạnh dạn đưa ra đề nghị với Chính phủ có hình thức cho dự án tạm ứng khẩn 5.000 tỷ đồng.

Số tiền này nhằm kịp triển khai mua sắm trang thiết bị hóa chất thử nghiệm đợt 1 vào 10/10/2016 tại Đà Nẵng và có vốn để tiếp tục triển khai trong năm 2016 và 2017.

Con số tổng thể chưa được công ty đề cập do một mình công ty “chưa thể nào tính đúng, tính đủ chi phí với đa phần thiết bị bay phải nhập ngoại”.

Dù vậy, ông Phan Đình Phương tự tin “sẽ đem hết trí lực cùng Chính phủ và 7 bộ thực hiện thắng lợi dự án, hiện thực hóa sự nghiệp cải tạo thiên nhiên, bình ổn khí hậu với hiệu quả kinh tế và nhân văn toàn diện, mang lại lợi ích thiết thực và bền vững cho đất nước và nhân dân”.

Hiện tại, chưa rõ ý kiến của Thủ tướng về đề xuất trên của Công ty An Sinh Xanh như thế nào, nhưng nếu quả thực dự án này có thể “giảm mây bay”, “điều tiết mưa đúng nơi đúng lúc”, “giảm ngập lụt tắc đường” – đại ý là có thể “hô phong hoán vũ”… như khẳng định của ông Phan Đình Phương thì đây đích thực là một dự án rất đáng để chờ đợi!

(Theo Dân trí)

Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/tai-chinh/326754/xin-tam-ung-khan-5000-ty-dong-cho-du-an-len-troi-goi-mua.html

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Chín 20, 2016

20160920. BÀN VỀ ‘CẢ HỌ LÀM QUAN’

ĐIỂM BÁO MẠNG

QUAN, LÁ ĐA VÀ QUY TRÌNH

TRƯƠNG KHẮC TRÀ/ GD 20-9-2016

Biếm họa minh họa trên tuoitre.vn

Trong  “Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ” viết ngày 1/3/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thẳng thắn phê bình, kiểm thảo: 

“Những đồng chí còn giữ thói một người làm quan cả họ được nhờ, đem bà con, bạn hữu đặt vào chức này việc kia, làm được hay không, mặc kệ. Hỏng việc, Đoàn thể chịu, cốt cho bà con, bạn hữu có địa vị là được”. [1]

Ở Việt Nam có rất nhiều dòng họ nổi tiếng như dòng họ Nguyễn Lân, dòng họ Hà Huy, dòng họ Tôn Thất… mức độ nổi tiếng ấy là vàng mười, không phải để trong ngoặc kép mỗi khi được nhắc đến.

Bởi lẽ lịch sử hàng trăm năm tồn tại, những dòng họ ấy đã cống hiến cho đất nước rất nhiều chuyên gia, nhà khoa học mà mỗi khi nhắc đến ai cũng ngả mũ thán phục.

Chẳng cần phải viện đến quy trình nào cả nhưng những vị trí lãnh đạo rất cao mà con cháu của các dòng họ trên nắm giữ không bị coi là “cả họ làm quan” theo nghĩa bấy lâu nay dư luận xầm xì.

Ngược lại có nhiều dòng họ “nổi tiếng” chỉ… sau một đêm, tất cả được phơi phóng ra trước bàn dân thiên hạ cũng chỉ vì có nhiều người làm quan, chỉ khác với những dòng họ “vàng mười” kia là nó được yểm trợ bởi cái gọi là đúng quy trình.

Nền văn học dân gian và chế độ phong kiến Việt Nam đã sản sinh ra câu ca dao có thể thừa nhận là đã khái quát ở mức độ triết lý “Con vua thì lại làm vua/ Con sãi ở chùa thì quét lá đa”…

Ngược lại, “con vua” dù bằng đường này hay đường khác cũng sẽ lại làm vua, thực tế xã hội hiện nay cũng cho thấy rất ít thậm chí vô cùng hiếm trường hợp“con vua”“con sãi” có thể đổi ngôi cho nhau!“Quét lá đa” là công việc dĩ nhiên chỉ dành cho chú tiểu – người chẳng giữ trọng trách gì trong chùa ngoài làm “giao liên” giữa sư trụ trì và bá tánh thập phương.

Thấy được nguy cơ mua quan bán tước hiện hữu ngay trong triều đình nên dưới triều vua Lê Thánh Tông đã ban hành đạo luật Hồi tỵ, trong đó quan điểm cốt lõi là nghiêm cấm các quan lại bổ nhiệm con em của mình giữ các chức quan khác và người địa phương không được làm lãnh đạo tại nơi mình ở.

Đến thời nhà Nguyễn, luật Hồi tỵ được áp dụng triệt để hơn để tránh tình trạng cục bộ, bè phái, địa phương.

Từ quan điểm “Trăm quan là nguồn gốc của trị, loạn. Quan có đức, có tài thì nước trị. Quan vô đức, kém tài là thềm, bậc dẫn đến hoạ loạn” [2] minh quân Lê Thánh Tông đã xây dựng một triều đại huy hoàng bậc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam đến nỗi hậu thế còn lưu lại câu vè “Đời vua Thái tổ Thái tông/ Thóc lúa đầy đồng trâu chẳng muốn ăn”.

Sẽ thật là diễm phúc cho dân tộc nếu cả họ làm quan nhưng… nhân dân được nhờ.

Tuyệt nhiên, mệnh đề này rất khó xảy ra trong hiện thực cuộc sống vì những tai họa từ lợi ích nhóm, tình trạng cát cứ, cục bộ địa phương, trên bảo dưới không nghe… sâu xa đều có nguồn gốc từ nhóm thân hữu.

Luật pháp sẽ được thực thi như thế nào nếu trong một tỉnh, một huyện mà các vị trí lãnh đạo chủ chốt đều lành anh em họ hàng?

Liệu “ông anh” cả có đủ dũng cảm phê và tự phê những “đứa em” của mình khi để xảy ra sai phạm? Phòng và chống tham nhũng ra sao khi “dàn hợp xướng” hùng mạnh đang cất lên bản đồng ca đầy uy lực?

Đúng quy trình – tấm khiên này có vẻ đã cũ kỹ đi rất nhiều khi nó có quá nhiều “lỗ hỏng” gây sát thương người sử dụng; trước đây ai cũng nói Trịnh Xuân Thanh, Vũ Đức Thuận ở PVC,  Vũ Quang Hải ở Sabeco… là đúng quy trình nhưng sự thể “bết bát” ra sao thì giờ đã rõ.

Và cũng mới đây, câu chuyện về 8 người thân, người trùng họ, người nhà của ông Triệu Tài Vinh, Bí thư tỉnh ủy Hà Giang làm lãnh đạo ở các huyện, ngành tỉnh này cũng khiến nhiều người suy nghĩ.

Theo ông Vinh thì ông không đồng ý, nhưng theo quy trình, các cấp, ngành đã tiến hành để lựa chọn cán bộ, là chuyện bình thường.

Có phải đúng quy trình là có người giới thiệu đề bạt, quy hoạch, thúc đẩy hoàn thiện thủ tục hồ sơ bầu bán vào chức danh nào đó bằng những quyết định mang tính thân hữu?Xin không bàn đến sự đúng, sai của việc ấy, nhưng câu chuyện cũng không thể không khiến người khác phải ái ngại.

Hay quy trình là con đường lòng vòng của những vị “con vua” được tạo sẵn đòn bẩy để nhảy cóc qua nhiều vị trí làm bằng chứng cho câu phê quan trọng khi bổ nhiệm: “đã kinh qua nhiều vị trí công tác, luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”!?

Quy trình không phải do ông trời ban tặng mà do con người đặt ra, vậy nên hiệu chỉnh quy trình sao cho “phù hợp” cũng là do bàn tay con người nhúng vào.

Thời chiến, khi đất nước khó khăn việc bổ nhiệm cán bộ đâu phải câu nệ quy trình này nọ kia nhưng tất cả đều xứng đáng là công bộc của dân.

Phải chăng quy trình thì đúng nhưng sai về con người, về tiêu chuẩn?

Luật Hồi tỵ ưu việt như vậy và các nhà làm luật chắc chắn đều biết đến nhưng mức độ khai thác chưa là bao, hiện nay, luật Phòng, chống tham nhũng có quy định đối tượng và phạm vi áp dụng những quy định của luật Hồi tỵ, tuy nhiên hẹp hơn rất nhiều so với ngày xưa.

Khoản 3, Điều 37, luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2007 và năm 2012) quy định:

Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị không được bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của mình giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán – tài vụ, làm thủ quỹ, thủ kho trong cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc giao dịch, mua bán vật tư, hàng hóa, ký hợp đồng cho cơ quan, tổ chức, đơn vị đó”. [3]

Khó công bằng dân chủ nếu “con sãi” ở chùa chỉ mãi cầm chổi, “con vua” ở dinh luôn “lobby” sẵn quy trình, ở các nước Phương Tây hay Châu Á cũng có hiện tượng “quan cha”, “quan con” nhưng khác ở chỗ “nhóm lợi ích thân hữu” khó có thể làm mưa làm gió, phá nước hại dân.


Quy trình khiến gần 225.000 cử nhân, thạc sỹ thất nghiệp đa phần xuất phát từ nông thôn, không “hậu duệ”, còn quy trình khiến những vị quan trẻ thăng tiến vùn vụt hỏi có mấy ai “tay không bắt giặc”!Tìm đỏ mắt sao không thấy “con sãi” ở dinh và“con vua” ở chùa, hay là quy trình đối với “con vua” khác quy trình đối với “con sãi”?

Trong khi Đảng, Nhà nước đang lúng túng với quốc nạn lợi ích nhóm thân hữu thì kho tàng lý luận của cha ông về phòng chống tham nhũng đang bị lãng phí đáng tiếc, lợi ích nhóm sẽ còn mạnh lên nếu ngày càng nhiều dòng họ làm quan thông qua những cú “lobby” đúng quy trình.

Tài liệu tham khảo:

[1]http://truongchinhtrina.gov.vn/DNews.aspx?NewsID=569

[2]http://tuoitre.vn/tin/ban-doc/20151219/khong-ai-phan-doi-nhung-can-bo-tre-phai-chung-minh-nang-luc/1023442.html

[3]http://hanoimoi.com.vn/Tin-tuc/LS-bandoc/707437/nhung-viec-can-bo-cong-chuc-vien-chuc-khong-duoc-lam

Trương Khắc Trà
CẢ HỌ LÀM QUAN: LỖ THỦNG Ở ĐÂU?
ĐINH DUY HÒA/ VNN 20-9-2016
Người tài người nhà, quy trình bổ nhiệm, cả họ làm quan, bổ nhiệm lãnh đạo

– Với quy trình, tiêu chuẩn, quy hoạch chặt chẽ, làm sao có kẽ hở, chứ đừng nói là lỗ thủng trong công tác bổ nhiệm lãnh đạo, làm sao đưa con cái lên làm quan được?

Công chức dứt áo, quan chức lẫn lộn buồn vui

>> Vì sao tôi dứt áo ra đi?

Người tài được bổ nhiệm vào các chức vụ lãnh đạo là đúng, phù hợp, vậy còn người nhà như con cái, anh chị em ruột, cháu chắt rồi đến họ hàng xa xa… thì sao nhỉ?

Bush bố làm Tổng thống Mỹ rồi đến Bush con, cố Thủ tướng Lý Quang Diệu, rồi đương kim Thủ tướng Lý Hiển Long của Singapore, cố Tổng thống Park Chung Hee và đương kim Tổng thống Hàn Quốc Park Geun Hye… Khá nhiều ví dụ có thể kể ra, cho nên câu chuyện người nhà, mà trước hết là con cái tiếp tục nối gót cha ông làm lãnh đạo không có gì mới và lạ trên thế giới.

Vậy đối với Việt Nam ta thì có vấn đề gì không nhỉ? Có thể nói ngắn gọn là không mới, nhưng khá lạ. Lạ đến mức Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phải thốt lên: “Việc tuyển chọn, bổ nhiệm là để tìm ra người tài, chứ không phải tìm người nhà”.

30, 40 năm trước đây không giống như bây giờ. Thời đó, câu chuyện người nhà làm quan tương đối hiếm và có thể nói những người nhà làm quan này cơ bản là thực tài, xứng đáng.Vốn liếng cơ bản để các ông Bush, Lý Hiển Long và bà Park Geun Hye nối gót cha ông làm tổng thống, thủ tướng không phải là ánh hào quang cha ông để lại, mà là thực tài. Không tài thật, không năng lực thật không thể đắc cử. Và đây là điểm khác cơ bản với ta.

Nếu tính trung bình làm quan theo công thức dân gian “hậu duệ, quan hệ, tiền tệ, trí tuệ” thì tỷ lệ người thực tài làm quan là quá ít ở ta và đây là điều đáng lo ngại cho sự phát triển của đất nước.Mươi, mười lăm năm trở lại đây, người nhà làm quan tương đối phổ biến. Những câu chuyện về người nhà làm quan mà báo chí đưa ra như Mỹ Đức, Bộ Công thương và gần đây nhất là Hà Giang không phải là cá biệt. Nhiều độc giả phản hồi chuyện ấy ở cơ quan tôi, ở huyện tôi, ở sở tôi, ở bộ tôi… cũng vậy.

Dân thì bức xúc, nhưng mọi thứ lại đúng quy trình. Mỗi khi có chuyện phải xem xét thì hồ sơ, trình tự bổ nhiệm về cơ bản là ngon lành. Vậy vấn đề nằm ở đâu nhỉ?

Về nguyên tắc, Đảng hết sức coi trọng công tác cán bộ, trong đó có vấn đề cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý. Để bảo đảm mọi thứ đúng, người thực tài lên làm lãnh đạo, Đảng và nhà nước đặt ra:

– Tiêu chuẩn: Muốn làm bộ trưởng, thứ trưởng, chủ tịch, phó chủ tịch UBND tỉnh, vụ trưởng, giám đốc sở… thì tiêu chuẩn phải là thế này,

– Quy hoạch lãnh đạo: Muốn được bổ nhiệm trong tương lai thì phải vào được quy hoạch này,

– Quy trình bổ nhiệm, mà đặc trưng là lấy phiếu tín nhiệm.

Mấy vấn đề này được quy định hết sức rõ, cụ thể. Ngoài ra, để bảo đảm tính dân chủ trong công tác cán bộ, còn có hệ thống ban cán sự Đảng ở các bộ, UBND cấp tỉnh.

Với cách thiết kế như vậy làm sao có kẽ hở, đừng nói là lỗ thủng trong công tác bổ nhiệm lãnh đạo, làm sao đưa con cái lên làm quan được. Tuy nhiên, điều trớ trêu là cả 4 vấn đề vừa nêu, nếu người ta muốn thì đều có thể qua mặt để cuối cùng ra các vị quan lãnh đạo là người nhà.

Tiêu chuẩn ư, cần thì có. Cái có này được tính đến cho con cái từ rất sớm, sẽ được đáp ứng. Bằng cấp, chứng chỉ học hành không khó kiếm. Thậm chí không đủ tiêu chuẩn quy định thì bỏ qua, với những lý do như đặc thù địa phương, đặc thù bộ, ngành, mà về cơ bản thì cũng chẳng ai kiểm tra.

Giá như có một cuộc tổng kiểm tra nghiêm túc tình hình bổ nhiệm quan chức từ cấp huyện lên đến bộ, ngành trung ương có đáp ứng tiêu chuẩn hay không thì sẽ có số liệu cho riêng vấn đề này.

Vào quy hoạch lãnh đạo ư, không khó lắm, trong tầm tay người lãnh đạo. Mọi thứ sẽ được chỉ đạo và các bộ máy liên quan sẽ tổ chức thực hiện.

Và cuối cùng là quy trình lấy phiếu tín nhiệm cho người nhà. Chuyện nhỏ, sẽ đúng bài bản dự kiến.

Vấn đề nằm ở chính người cầm chịch chỉ đạo thực hiện. Quy định về tiêu chuẩn, quy hoạch, lấy phiếu tín nhiệm… hay, đúng đến mấy, nhưng cuối cùng quan trọng là khâu tổ chức thực hiện, mà ở bộ là bộ trưởng, ở tỉnh là bí thư, chủ tịch UBND tỉnh. Các vị này có tâm, nghiêm túc thì ra quan lãnh đạo tài, ngược lại thì sẽ khác, trong đó có người nhà lên làm lãnh đạo.

Trong hệ thống hành chính – chính trị của ta, bộ trưởng có ảnh hưởng lớn đến chuyện bổ nhiệm lãnh đạo cấp vụ, cục trở xuống, cấp thứ trưởng thì một phần không nhỏ. Nếu muốn, thì việc bổ nhiệm người nhà, người thân quen làm lãnh đạo không khó.

Tương tự như vậy là ở cấp tỉnh. Chế định ban cán sự Đảng ở các bộ, UBND tỉnh là một chế định cực kỳ hay trong hệ thống một đảng cầm quyền ở ta nhằm bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống hành chính nhà nước, nhưng cũng chính chế định này lại không hữu hiệu trong công tác cán bộ, bởi tiếng nói của bộ trưởng, chủ tịch UBND tỉnh kiêm bí thư bán cán sự Đảng – mặc dù thiết kế cũng chỉ là một phiếu khi phải bỏ phiếu – là tiếng nói quyết định, đa phần các thành viên khác phải ngó theo mà xử sự.

Chế định lấy phiếu tín nhiệm để lựa chọn ra người sẽ được bổ nhiệm lãnh đạo về cơ bản cũng rất hay, nhưng cách thức thực hiện lại phụ thuộc người đứng đầu. Nếu muốn, có thể làm theo diện rộng gồm nhiều công chức tham gia, hoặc theo diện vừa và thậm chí khi dự đoán kết quả tín nhiệm không cao nếu lấy rộng thì thu hẹp lại… Muôn hình, muôn vẻ, miễn là đạt kết quả theo ý đồ chỉ đạo.

Giải quyết thế nào nhỉ? Quả là khó. Khó mà cách đây 30, 40 năm các vị lãnh đạo làm được, không mấy ai cài cắm con cái, người nhà làm lãnh đạo, các vị đó làm được, giờ thì không.

Chả nhẽ lại học theo cha ông thời xa xưa đã rành mạch câu chuyện này theo kiểu như quan chức tỉnh, huyện dứt khoát không được là người địa phương, không được lấy vợ là người địa phương, không được mua đất tại địa phương và trong bộ máy quan lại không cho phép anh, chị em ruột, chú bác ruột cùng làm việc. Nếu vậy, ở bộ, ngành trung ương thì sao nhỉ?

 LUẬT HỒI TỴ THỜI PHONG KIẾN ĐÃ CÁM ‘CẢ HỌ LÀM QUAN ‘ Ở MỘT NƠI

N.HUYỀN/ infonet/ BVB 20-9-2016

ĐBQH, nhà sử học Dương Trung Quốc

Viện dẫn Luật Hồi tỵ từ thời phong kiến, ĐBQH, nhà sử học Dương Trung Quốc cho biết, từ xưa đã có những quy định chặt chẽ để ngăn cấm “cả họ làm quan” ở một địa phương.

Gần đây, thông tin việc hàng loạt người thân của ông Triệu Tài Vinh, Bí thư Tỉnh uỷ Hà Giang giữ các vị trí lãnh đạo tại các cơ quan ở địa phương lan truyền trên mạng xã hội, gây nhiều ý kiến tranh cãi. Bí thư Tỉnh ủy Hà Giang cũng đã trả lời báo chí khẳng định những người thân của ông (vợ, em trai, em gái, em rể) được đề bạt theo đúng quy trình, tuy nhiên dư luận vẫn không khỏi ngờ vực băn khoăn.

Nhà sử học Dương Trung Quốc cho biết, Luật Hồi Tỵ quy định những người thân như anh em, cha con, thầy trò, bạn bè cùng học, những người cùng quê… thì không được làm quan cùng một chỗ. Nếu ai gặp những trường hợp nói trên thì phải tâu báo lên triều đình và các cơ quan chức năng để bố trí chuyển đi chỗ khác.Không bình luận sâu về trường hợp cụ thể này, ĐBQH, nhà sử học Dương Trung Quốc chỉ viện dẫn Luật Hồi tỵ có từ thời vua Lê Thánh Tông để nói về các quy định bổ nhiệm quan lại xưa.

Luật Hồi tỵ được ban hành đầu tiên dưới thời vua Lê Thánh Tông về việc bổ dụng đội ngũ quan lại phong kiến thời đó trong cuộc cải cách nền hành chính quốc gia. “Luật này cũng được áp dụng nghiêm ngặt trong các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình. Nguyên tắc nói trên nhằm ngăn chặn người có quyền lợi dụng chức vụ để nâng đỡ, bao che hoặc câu kết với người thân (quan hệ gia đình, dòng họ, thầy trò, địa phương) thực hiện các hành vi tiêu cực trong việc quản lý các cơ quan công quyền” – nhà sử học Dương Trung Quốc cho biết.

Ngoài ra, trong bộ Lê triều Hình luật (còn gọi là Hồng Đức) có quy định: “Quan lại không được lấy vợ, kết hôn, làm thông gia ở nơi mình cai quản; cũng như không được tậu đất, vườn, ruộng, nhà ở nơi mình làm quan lớn, không được dùng người cùng quê làm người giúp việc”.

Đến thời vua Minh Mạng, Luật Hồi tỵ còn triệt để hơn, được mở rộng phạm vi, đối tượng áp dụng và bổ sung những quy định mới, bao gồm:

Quan lại ở các bộ, trong Kinh và ở các tỉnh, huyện hễ có bố, con, anh em ruột, chú bác, cô dì cùng làm một chỗ đều phải đổi đi chỗ khác. Đối với Viện thái y là viện chuyên giữ việc thuốc men, chữa bệnh cần phải cha truyền con nối thì không phải áp dụng Luật Hồi tỵ. Những quan lại, ai quê ở phủ, huyện nào thì cũng không được làm việc tại nha môn của phủ, huyện ấy.

Quan lại ở các nha thuộc phủ, huyện ai là người cùng làng thì phải chuyển đi nha môn khác làm việc. Quan lại không được làm quan ở chính quê hương mình, quê vợ mình, thậm chí cả nơi đi học lúc còn trẻ. Người có quan hệ thông gia với nhau, thầy trò cũng không được làm quan cùng một chỗ.

Đặc biệt, trong luật cũng nêu rõ việc nghiêm cấm các quan đầu tỉnh không được đặt quan hệ giao du, kết thân, kết hôn với đàn bà, con gái nơi mình trị nhậm, cấm tậu nhà, tậu ruộng… trong địa hạt cai quản của mình.

Trước đó, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV, bên hành lang Quốc hội, cũng nói về việc bổ nhiệm cán bộ, ĐBQH Dương Trung Quốc đặt câu hỏi: Có điệp khúc mà mọi người hay nói “quy trình thì đúng mà kết quả thì sai” thì vấn đề ở đâu?

“Rõ ràng có kẽ hở để người ta lách. Họ tinh vi lắm chứ không yếu kém chút nào. Điều này trở thành không bình thường. Người có trách nhiệm, làm thất thoát tài sản như Trịnh Xuân Thanh lại được thăng chức. Trong khi đó, chúng ta luôn luôn nói đến trách nhiệm, nhưng trách nhiệm lại là khái niệm rất trừu tượng. Chúng tôi nghĩ lúc này phải gắn với trách nhiệm cá nhân là hết sức quan trọng. Khen chê là phải rõ, cụ thể” – nhà sử học Dương Trung Quốc nói. 

Theo ông Dương Trung Quốc thì cái gì cũng do con người làm, tức là phẩm chất của người thực hiện. Cái quan trọng thứ hai là sự giám sát của nhân dân, không có sự giám sát đó nên xảy ra những sai phạm xung quanh việc bổ nhiệm cán bộ. 

  1. Huyền/Infonet

Older Posts »

Danh mục