Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Sáu 22, 2017

20170622. NGHĨ VỀ TƯƠNG LAI CỦA KHIẾU KIỆN ĐẤT ĐAI

ĐIỂM BÁO MẠNG

TỪ VỤ ĐỒNG TÂM, NGHĨ VỀ QUÁ KHỨ VÀ TƯƠNG LAI

NGÔ NGỌC TRAI/BBC/BVN 21-6-2017

image

Ảnh: HOANG DINH NAM

Thông tin mới đây cho biết cơ quan điều tra của Hà Nội đã khởi tố vụ án hình sự hủy hoại tài sản và bắt giữ người trái pháp luật xảy ra tại xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức.

Rất không công bằng khi việc khởi tố được thực hiện khi chưa có kết luận thanh tra vấn đề đất đai tại Đồng Tâm, để xác định xem việc lấy đất của chính quyền và giữ đất của người dân bên nào đúng bên nào sai.

Từ sự việc gây xáo động nhân tâm này, nhìn về quá khứ soi xét lại các chính sách giải quyết tranh chấp đất đai trước đây sẽ còn thấy nhiều điều chua chát.

Không được kiện

Nhìn lại thì thấy nhiều quy định chính sách về giải quyết tranh chấp đất đai rất bất lợi cho người dân, nhiều quy định ngáng trở tước đoạt những quyền pháp lý rất chính đáng hợp pháp của con người.

Ví như khoảng chục năm trước, các quy định pháp luật về đất đai, khiếu nại và tố tụng hành chính đã ràng buộc người bị thu hồi đất không được khởi kiện ngay ra tòa mà phải qua khâu khiếu nại và giải quyết khiếu nại của chính quyền các cấp.

Nếu người dân nộp đơn khởi kiện hành chính đối với quyết định thu hồi đất mà không kèm theo quyết định giải quyết khiếu nại của chính quyền địa phương thì tòa án sẽ không thụ lý.

Trong khi hầu hết các vụ khiếu nại dân đều thua, vì khiếu nại cái quyết định đến cái người đã ban hành ra nó thì làm sao dân thắng được? Các địa phương luôn bảo vệ quan điểm việc làm của họ, làm sao họ lại đi nhận sai, việc khiếu nại gần như vô ích.

Để tránh việc bị kiện, nhiều địa phương khi giải quyết khiếu nại thay vì ban hành quyết định giải quyết khiếu nại thì họ lại ra một văn bản dạng như thông báo hoặc công văn về nội dung giải quyết khiếu nại.

Tòa án a dua theo đó bênh vực chính quyền, gây khó khăn cho người dân không thụ lý vụ án. Họ đòi phải có quyết định giải quyết khiếu nại theo đúng quy chuẩn chứ không chấp nhận văn bản dạng công văn hay thông báo giải quyết khiếu nại.

Đây là một kiểu bắt bẻ về câu chữ và hình thức văn bản, một lối làm việc quan liêu cửa quyền đã gây ra nhiều khốn đốn khốn nạn cho người dân đi kiện và luật sư.

Sau khi những diễn biến tệ hại diễn ra một thời gian và bị nhiều phản đối gay gắt, tòa án tối cao mới ban hành ra một văn bản hướng dẫn yêu cầu tòa án các cấp thụ lý vụ kiện hành chính và chấp nhận coi là hợp lệ các văn bản giải quyết khiếu nại dạng thông báo hoặc công văn mà không nhất quyết phải là quyết định giải quyết khiếu nại.

Không giao quyết định

Từ hàng chục năm trước và cho đến tận ngày nay, theo báo cáo của Thanh tra Chính phủ thì khiếu nại tố cáo trong lĩnh vực đất đai chiếm số lượng lớn nhất trong tất cả các mặt lĩnh vực của đời sống xã hội.

Trong thực tế, nhiều trường hợp chính quyền địa phương nhằm giảm tránh việc bị khiếu nại và phải giải quyết khiếu nại nên đã có nhiều chiêu trò xấu với dân, ví như họ không giao các quyết định thu hồi đất cho người có đất bị thu hồi.

Nhiều trường hợp thu hồi đất, phía chính quyền chỉ công khai một quyết định thu hồi tổng thể và danh sách các hộ có đất bị thu hồi và thông tin về số thửa đất bị thu hồi. Họ không giao quyết định thu hồi đất cho từng hộ gia đình như luật quy định phải thế.

Khi không có quyết định thu hồi đất người dân sẽ gặp khó khăn trong việc khiếu nại và không thực hiện được việc khởi kiện ra tòa hành chính. Vì pháp luật tố tụng hành chính yêu cầu hồ sơ khởi kiện phải có bản sao quyết định hành chính bị kiện.

Đây cũng là một chướng ngại mà người dân và luật sư đã phải chịu nhiều khốn khổ khốn nạn trên hành trình đòi quyền lợi công bằng.

Các văn bản pháp luật về đất đai thì nhiều, có lẽ là nhiều nhất trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội và thường xuyên thay đổi. Ngoài luật đất đai thì còn có nghị định của Chính phủ, thông tư của các bộ, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về chính sách đất đai.

Nhiều văn bản thiết lập những câu chữ dài dòng lằng nhằng ngoắt ngoéo, tạo ra sự rối rắm bùng nhùng mà rồi chót lại hóa ra là cản trở người dân thực hiện các quyền chính đáng của họ.

Đã cải thiện

Những quy định ngang trái thô thiển khinh rẻ quyền lợi công dân đã được lược giảm đi qua quá trình giải quyết hàng vạn vụ việc khiếu kiện đất đai, trong đó là vô số nỗ lực vô bờ của biết bao người dân mất đất và giới luật sư tư vấn.

Luật tố tụng hành chính hiện tại cho phép người bị thu hồi đất được quyền khởi kiện trực tiếp ra tòa mà không phải qua khâu khiếu nại hành chính như trước. Việc giao cấp quyết định hành chính của Ủy ban nhân dân các cấp cũng được cải thiện do những tiến bộ về cải cách thủ tục hành chính và ngăn ngừa lạm quyền của nhà nước trung ương.

Trước kia các dự án phát triển kinh tế xã hội được lập ra để thu hồi đất có thể được thực hiện bởi Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc cấp tỉnh thì đến nay sau hàng chục năm thi hành đã bộc lộ nhiều sai trái bất cập, nhiều dự án không hiệu quả khả thi.

Trước kia các dự án phát triển kinh tế xã hội được lập ra để thu hồi đất có thể được thực hiện bởi Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc cấp tỉnh thì đến nay sau hàng chục năm thi hành đã bộc lộ nhiều sai trái bất cập, nhiều dự án không hiệu quả khả thi.

Cho nên luật đất đai năm 2013 đã giới hạn lại ngoài các dự án phát triển kinh tế xã hội do trung ương quyết định gồm Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ thì ở địa phương dự án phải do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định.

Đó là những cải thiện theo hướng ngăn chặn sự lạm quyền thu hồi bừa bãi của các địa phương. Nhưng xét cho cùng thì sau một thời gian dài tiêu tán, hiện giờ quỹ đất đã eo hẹp không còn cho phung phí được nữa.

Các địa phương cũng đã nhận ra rằng cái quyền được thu hồi đất đã là cái lợi ích lớn nhất mà họ đã có được và cần giữ lấy, những bước trình tự thủ tục thực hiện như thế nào luật đã có quy định thì họ không còn nhu cầu phải vi phạm nữa.

Quyền được thu hồi đất trở thành cứ điểm cuối cùng đem lại lợi ích bất tận mà các địa phương cố thủ tận hưởng, hành lang pháp lý đã rõ cùng với sự tuân thủ nghiêm chỉnh tương đối đã giúp giảm thiểu sự chống đối và tạo ra tính chính đáng hư ảo cho việc thu hồi đất.

Hướng tới tương lai

Nếu công bằng thì vụ ở Đồng Tâm phải có kết luận thanh tra rõ ràng xem địa phương thu hồi đất và người dân giữ đất bên nào đúng bên nào sai, để xem hoạt động của chính quyền có phải hoạt động công vụ không và sự chống đối của người dân có phải phòng vệ chính đáng không. Thế mới công bằng.

Nhưng đó có lẽ là nguyện vọng của tương lai, còn thì hiện tại người ta đã làm như đã thấy. Trong tương lai việc cưỡng chế thu hồi chỉ nên được thực hiện sau khi các bên đã khởi kiện ra tòa và có bản án của tòa.

Nhưng đó có lẽ là nguyện vọng của tương lai, còn thì hiện tại người ta đã làm như đã thấy. Trong tương lai việc cưỡng chế thu hồi chỉ nên được thực hiện sau khi các bên đã khởi kiện ra tòa và có bản án của tòa.

Như thế để đảm bảo cho các bên được đưa ra ý kiến và cơ sở chứng lý để được lắng nghe và công khai đánh giá. Thay cho cái quy trình giải quyết khiếu nại bất công mà kẻ làm sai không bao giờ thừa nhận. Để từ đó phán quyết của tòa có được sự công bằng, giảm đi yếu tố bức xúc chống đối do ý kiến không được lắng nghe và giải quyết thỏa đáng.

Đó là những vấn đề mà tương lai gần luật pháp cần ấn định, để thiết lập quy trình pháp lý công bằng cho giải quyết tranh chấp đất đai.

Xa hơn nữa thì cần loại bỏ cơ chế pháp lý về thu hồi đất, mà phải trưng mua theo giá thị trường khi nhà nước có nhu cầu cho dự án công, dự án tư thì doanh nghiệp phải thỏa thuận mua bán với người dân. Đồng thời với đó là phải công nhận quyền sở hữu tư nhân của người dân đối với đất đai.

Khi đó những quy định pháp lý sai trái xâm phạm quyền sở hữu đất và những quy trình pháp lý bất công trong giải quyết tranh chấp đất đai sẽ chỉ còn là quá khứ.

N.N.T.

Bài viết thể hiện ý kiến và lối hành văn riêng của Luật sư Ngô Ngọc Trai, gửi cho BBC Tiếng Việt từ Hà Nội.

Nguồn : http://www.bbc.com/vietnamese/forum-40342164

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Sáu 21, 2017

20170621. VIẾT NHÂN NGÀY BÁO CHÍ CÁCH MẠNG

ĐIỂM BÁO MẠNG

NHỚ LẮM ‘NGƯỜI HAY CÃI’

PHẠM ĐẠO/ ND 20-6-2017

Nhà báo Hữu Thọ.

Tôi chưa thấy Tổng Biên tập Hữu Thọ vắng mặt một ngày 21-6 nào. Những năm gần đây, do bị tai nạn giao thông trong một chuyến công tác, sức khỏe của ông giảm sút như chiếc xe xuống dốc. Thật xúc động khi nhìn ông chống gậy vào hội trường rồi lên phòng ăn ở tầng 7, nói dăm ba câu chuyện, uống một ly rượu mừng với thế hệ những người làm báo là con em mình. Năm 2001, từ Trưởng Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương, ông được điều động trở về làm Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, ông vui như con chim được hợp đàn về tổ ấm, con hổ được về với đại ngàn. Trưa hôm ấy, ông rủ chúng tôi ra đầu phố Hàng Bông “đãi các cậu bữa cơm đầu ghế” (cơm hàng ngồi trên vỉa hè). Chính những kỷ niệm ấy cứ thôi thúc viết về vị Tổng Biên tập, mặc dù đó là việc vượt xa tầm nghĩ, tầm viết của mình. Tôi chưa một lần làm cán bộ trực tiếp dưới quyền của ông nhưng may mắn nhiều lần được làm việc, được sự chỉ bảo trực tiếp của ông.

Thời gian lắng đọng giúp tôi hiểu hơn gánh nặng đặt nên vai đồng chí Tổng Biên tập một tờ báo lớn, vị Tổng Tư lệnh các mặt trận tuyên truyền kinh tế công – nông nghiệp, văn hóa – xã hội, nhà nước và pháp luật, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị luôn nảy sinh vấn đề từng giờ, từng ngày. Đất nước vật vã bước vào công cuộc đổi mới khi nền kinh tế lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Mô hình CNXH ở Liên Xô và Đông Âu đã sụp đổ. Khi làm Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, nhà báo Hữu Thọ, một mặt tập trung lãnh đạo chỉ đạo tờ báo thực hiện đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Mặt khác, không chỉ có viết, ông dặn chúng tôi: Chúng ta không chống lại kinh tế thị trường, không chống lại đường lối của Đảng. Nhưng chúng ta phải hiểu để nói rõ được mặt trái của kinh tế thị trường tác động lên đời sống xã hội, tình cảm, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Ban Chính trị – Xã hội chúng tôi thường mặc cảm là “dân trang ba, nhà tầng năm” nay có đất dụng võ khá xông xênh. Tổng Biên tập Hữu Thọ trực tiếp dẫn chúng tôi về Nam Định, rồi sang Thái Bình nghiên cứu tình hình an ninh nông thôn thông qua những vụ việc khiếu kiện dẫn đến sự bất ổn chính trị sau này. Dịp kỷ niệm 48 năm Cách mạng Tháng Tám thành công (1993), ông chấp thuận và dẫn các phóng viên Ban Chính trị – Xã hội xuống tỉnh Quảng Ninh tổ chức hội thảo với những người trực tiếp làm than cho Tổ quốc. Hội thảo mang chủ đề “Kế thừa và phát huy thành quả của Cách mạng Tháng Tám. Hội thảo đã kết thúc thành công bởi đồng hồ đã chỉ qua 12 giờ 30 phút mà người nghe vẫn đông kín hội trường Công ty than Cẩm Phả. Phát biểu kết thúc hội thảo, Tổng Biên tập nói thẳng thực trạng niềm tin vào con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, có sự chao đảo ở không ít cán bộ, Đảng viên.

Sau đó, đã diễn ra một loạt các cuộc hội thảo về 60 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến, 40 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ. Cuộc hội thảo này chúng tôi đã mời được Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Chu Huy Mân và các nhân chứng lịch sử đến giao lưu với đại biểu trẻ; rồi hội thảo 30 năm Phong trào Ba sẵn sàng. Các cuộc hội thảo đó đã tạo được dấu ấn trong dư luận xã hội lúc bấy giờ. Càng đi sâu vào nền kinh tế thị trường, càng phải làm thật tốt công tác xã hội của tờ báo. Bây giờ có ba việc mà Báo Nhân Dân phải “xông vào”. Đó là công tác khuyến học, khuyến tài và khuyến thiện. Tổng Biên tập Hữu Thọ từng nói với chúng tôi như thế. Năm ấy, Ban Bí thư Trung ương Đoàn tổ chức liên hoan “trẻ em nghèo vượt khó, học giỏi”, Ban Biên tập vui vẻ nhận lời tiếp cả Đoàn đại biểu các cháu. Tổng Biên tập Hữu Thọ chủ trì tiếp với nghi thức trọng thị. Và quan trọng hơn, ông chỉ đạo đưa tin và ảnh như một sự kiện nổi bật trong số báo ra ngày hôm sau. Sau đó vài ngày, một đồng chí Bí thư Trung ương Đoàn nói với tôi: Nhờ có sự đón tiếp trọng thị của Báo Nhân Dân, Đoàn đại biểu trẻ em nghèo vượt khó, học giỏi, đi đến đâu cũng được đón tiếp hết sức nồng nhiệt. Năm tháng đi qua, rồi chúng ta chẳng ai nhớ sự kiện này, nhưng hơn 100 đại biểu thiếu nhi sẽ không bao giờ quên cây đa 71 Hàng Trống, quên tờ báo Đảng.

Từ khi đảm nhận nhiệm vụ Ủy viên Ban Biên tập, rồi Phó Tổng Biên tập, nhà báo Hữu Thọ có thói quen ngồi duyệt bài ngay tại phòng làm việc của Ban Thư ký – Biên tập. Bài tin duyệt đến đâu, ông trả ngay cho anh em khỏi phải lên xuống cầu thang nhận bài như nhiều đồng chí lãnh đạo khác. Khi rảnh, ông tranh thủ đọc bản tin TTXVN. Có tin nào hay, ông đánh dấu chuyển cho kíp trực. Có lần, tôi xuống Ban Thư ký – Biên tập xem bài tường thuật cuộc đối thoại của công nhân với đồng chí cán bộ cấp cao của Đảng. Chợt thấy tôi, ông gọi đến bên bàn cho xem bài đã chữa. Ý kiến phát biểu của một nữ công nhân được ông thêm một ý “nguyện vọng tha thiết của chị em phụ nữ công nhân chúng tôi là lương đúng hạn, gạo đúng kỳ”. Đến bây giờ nhớ lại, tôi vẫn rưng rưng và thầm cảm phục sự hiểu biết sâu sắc đời sống xã hội ở Tổng Biên tập Hữu Thọ.

Lần khác, chữa xong bài phóng sự, ông đập bút đánh cạch một cái xuống bàn và giận dữ: Thế này mà gọi là phóng sự à? Không khí làm việc của Ban Thư ký – Biên tập lúc đó như trùng xuống. Thế nhưng chiều hôm sau vào phòng làm việc của nhà báo Lê Huyền Thông, Trưởng Ban Chính trị – Xã hội, ông rút từ trong cặp ra một chai rượu nút lá chuối. Vậy là thầy trò chúng tôi cùng nâng lên đặt xuống chén rượu cay xè. Đến lúc ngà ngà men rượu, ông mới đủng đỉnh: Các cậu thông cảm với cánh già chúng tớ rất sốt ruột vì tay nghề của các cậu. Làm báo là một nghề “Bánh đúc đổ ra sàng” không giấu được ai đâu. Câu nói ấy mạnh như rượu Làng Vân thấm vào tôi đến bây giờ.

Vào dịp đại hội Công đoàn các tỉnh, thành phố, tiến tới Đại hội Công đoàn toàn quốc (Lúc đó chưa gọi là Liên đoàn Lao động, và tôi không nhớ rõ đại hội lần thứ mấy). Tôi viết một bài về Đại hội Công đoàn tỉnh Vĩnh Phú với chủ ý thông qua tham luận của các đại biểu nêu rõ thực trạng khó khăn, khốn khổ về việc làm, thu nhập và đời sống của công nhân và người lao động . Đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh trả lời đối thoại với đại biểu bằng một bài phát biểu đã được chuẩn bị sẵn, không thỏa đáng. Đối thoại giữa người đứng đầu chính quyền với đại biểu là hình thức mở rộng dân chủ trong dịp đại hội này. Nó đã được khẳng định trong chỉ thị của Ban Bí thư. Vĩnh Phú tổ chức Đại hội vẫn còn giữ hình thức cũ kỹ. Bài viết đã nằm trên bàn của Tổng Biên tập. Linh tính mách bảo tôi số phận bài viết sẽ gay go. Mà gay go thật. Khi tôi “cọc cạch” đạp xe từ nhà đến cơ quan vào chiều chủ nhật cũng là lúc Tổng Biên tập đã duyệt xong bài. Ông hỏi tôi mọi sự đúng như bài viết chứ?

– Thưa đúng ạ, không những thế, Vĩnh Phú còn bầu tròn đoàn đại biểu đi dự Đại hội Công đoàn toàn quốc – Tôi nói. Nghe xong, Tổng biên tập Hữu Thọ đặt ngay cái tít phụ “Chủ tịch UBND tỉnh trả lời chưa thỏa đáng”. Ông còn thêm một câu nặng như búa bổ vào bài viết: “Thời buổi dân chủ đang mở rộng mà Vĩnh Phú vẫn bầu tròn trong đại hội”. Ông nhìn thẳng vào mặt tôi:

– Cậu còn trẻ mà đã hèn. Ăn thì họ cho ăn rồi. Việc gì mà phải bẻ cong ngòi bút của mình.

Thú thật, lúc đó người tôi run bắn lên như thuở còn học vỡ lòng, chữ viết thiếu nét bị ông giáo làng bắt để hai tay lên bàn cho vài cái thước kẻ. Ra gốc đa ngồi cho định thần cũng là chờ ông nguôi ngoai cơn giận, tôi lại gõ cửa:

– Thưa anh đúng là Vĩnh Phú bầu tròn đại biểu. Nhưng báo ta đưa lên thì Vĩnh Phú phải tổ chức đại hội lại để làm công tác nhân sự. Liệu có ảnh hưởng gì đến Đại hội Công đoàn toàn quốc hay không? Ông hạ giọng:

– Chú ra gặp anh em thư ký nói rõ anh Hữu Thọ bảo bỏ câu như chú vừa nói.

Tôi ra về trong niềm vui khôn tả vì sau cơn giông trời lại sáng. Và bất ngờ đến với tôi: Trong cuộc họp giao ban xuất bản ngày hôm sau, Tổng Biên tập Hữu Thọ biểu dương bài viết của tôi nêu được vấn đề, tốt hơn tất cả các bài viết trước đó. Nhà báo Hữu Thọ là thế, sòng phẳng, công bằng đối với ưu điểm, khuyết điểm của từng cây bút. Có lần ông nói riêng với tôi: Tớ xuống một số tỉnh ủy, thành ủy, anh em người ta có nhắc đến tên cậu, hỏi thăm cậu trong khi nhiều bộ trưởng, thứ trưởng chưa chắc họ đã nhớ. Bút danh là quý lắm. Cậu phải phấn đấu hơn nữa để giữ bút danh, giữ lấy bạn đọc của mình. Ở báo ta, ăn bát cơm của cán bộ lãnh đạo, quản lý chan lẫn với mồ hôi, đôi khi cả nước mắt. Nhưng tờ báo này là của nhân dân, của Đảng, anh em mình phải phấn đấu từng ngày. Viết ra những dòng này, tôi nghĩ nhà báo Hữu Thọ không chỉ dạy riêng tôi.

Xin được kết thúc bài viết này bằng những dòng lưu bút chan chứa tình cảm của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đối với nhà báo Hữu Thọ trong tang lễ ông, ngày 14-8-2015: “Vô cùng thương tiếc đồng chí Hữu Thọ, một nhà báo lớn, giàu nhiệt huyết, trung thực, trách nhiệm, sắc sảo, luôn nặng lòng với dân với nước. Vĩnh biệt một con người, một nhân cách mà chúng tôi kính trọng. Kính viếng!”.

CÓ TÌNH TRẠNG BÁO CHÍ BỊ MẠNG XÃ HỘI DẪN DẮT

XUÂN TÙNG/ DT 20-6-2017

Theo Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng, có tình trạng báo chí bị mạng xã hội dẫn dắt, tồn tại những bất cập trong việc sử dụng, thông tin trên mạng xã hội của một số phóng viên, nhà báo…


Ông Võ Văn Thưởng phát biểu chỉ đạo hội nghị (Ảnh: VOV)

Ông Võ Văn Thưởng phát biểu chỉ đạo hội nghị (Ảnh: VOV)

 

Ngày 20/6, tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Hội Nhà báo Việt Nam phối hợp tổ chức Giao ban báo chí tuần 4, tháng 6 năm 2017. Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng đến dự và phát biểu chỉ đạo.

Theo đánh giá của Ban Tuyên giáo Trung ương, những tháng đầu năm 2017, các cơ quan báo chí đã bảo đảm thông tin khách quan, kịp thời, hoàn thành tốt nhiệm vụ tuyên truyền, định hướng dư luận, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Các cơ quan báo chí đã tăng cường tuyên truyền những kết quả quan trọng trong triển khai Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng Đảng; thông tin về quyết tâm xây dựng Chính phủ kiến tạo, liêm chính, hành động, phục vụ nhân dân.

Thời gian qua, các cơ quan báo chí đã thông tin tuyên truyền tốt về Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV cũng như phản ánh ý kiến của cử tri cả nước. Bên cạnh đó, nhiều cơ quan báo chí xây dựng chuyên mục, chuyên đề Khởi nghiệp; Chủ đề tái cơ cấu nông nghiệp, chính sách mở rộng hạn điền, nông dân, nông thôn được đề cập đậm nét; Chủ đề hội nhập kinh tế gắn với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4…

Phát biểu tại buổi giao ban, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng chúc mừng ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925 – 21/6/2017), đồng thời mong muốn các cơ quan báo chí, đội ngũ phóng viên, nhà báo tiếp nối truyền thống vẻ vang của báo chí Việt Nam, tiếp tục cống hiến, hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ, góp phần xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Theo Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, thời gian qua, đời sống báo chí, truyền thông có những chuyển biến đáng mừng, tính chuyên nghiệp, bản lĩnh, nghiệp vụ của các cơ quan báo chí, đội ngũ phóng viên, nhà báo được nâng cao; nhiều tờ báo giữ vững tôn chỉ, mục đích hoạt động, phản ánh được những vấn đề nóng, vấn đề nhạy cảm của xã hội.

Bên cạnh đó cũng có nhiều hiện tượng đáng quan ngại như tình trạng trục lợi trong việc đưa tin, bài, hay việc rút bài bất thường trong hoạt động báo chí thời gian qua. Đội ngũ cán bộ quản lý báo chí ở nhiều đơn vị còn chưa đáp ứng yêu cầu về phẩm chất, năng lực, chuyên môn, trình độ chính trị…

Công tác tuyển dụng, sử dụng phóng viên, cộng tác viên của nhiều tờ báo còn hạn chế, bất cập. Tình trạng báo chí bị mạng xã hội dẫn dắt, những bất cập trong việc sử dụng, thông tin trên mạng xã hội của một số phóng viên, nhà báo…

Liên quan công tác quản lý báo chí, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương cho rằng, nhiều cơ quan chủ quản làm tốt, giúp nhiều tờ báo phát triển toàn diện về nội dung và chất lượng. Bên cạnh đó nhiều cơ quan chủ quản còn chưa quan tâm xây dựng cơ quan báo chí, cả về cơ sở vật chất và đội ngũ nhân lực, từ đó khiến tình trạng nhiều tờ báo phải tự trang trải kinh phí hoạt động, tìm cách tăng nguồn thu, kể cả bằng những cách thức không được khuyến khích, ảnh hưởng đến tôn chỉ mục đích hoạt động của tờ báo.

Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng cho rằng các cơ quan báo chí phải nhìn thẳng vào những khiếm khuyết, bất cập, từ đó phấn đấu thực hiện tốt nhiệm vụ trong thời gian tới, góp phần đưa nền báo chí cách mạng Việt Nam phát triển, xứng đáng với niềm tin yêu của nhân dân, đóng góp tích cực cho sự phát triển của đất nước.

Xuân Tùng
TTXVN

ĐỒNG TÂM CÙNG TẮC BIẾN

NGUYỄN QUANG DY/ Viet-studies 20-6-2017

Người ta hay nói “cùng tắc biến, biến tắc thông”. Không biết quy luật đó liệu có ứng vào trường hợp Đồng Tâm hay không, nhưng “hiệp một” đã qua và “hiệp hai” đã đến. Điều gì phải đến đã đến. Chỉ có điều, ta chưa biết “hệ quả không định trước” là gì.

Quả bom nổ chậm

Cách đây khoảng hai tháng, vì nhiều lý do còn chưa thật rõ, Đồng Tâm bỗng trở thành một điểm nóng như thùng thuốc súng, một bàn cờ thế đầy nguy hiểm như “quả bom nổ chậm”, làm cả nước lo lắng như sắp xảy ra thảm họa. Nhưng may mà quả bom nổ chậm đã được tháo ngòi đầy kịch tính, làm cả nước thở phào, như một bi kịch kết thúc “có hậu”.

Người Việt mình thật dễ tính và dễ quên, vừa dễ lừa vừa dễ ngộ nhận. Gần hai tháng qua, Đồng Tâm bỗng biến mất khỏi màn hình radar như chưa hề xảy ra. Cách đây vài ngày, tin Công an Hà Nội quyết định khởi tố vụ án Đồng Tâm như một mồi lửa đốt nóng quả bom nổ chậm, làm Đồng Tâm trở lại màn hình radar như trước. Cả nước lại như lên đồng, và ngồi trên thùng thuốc súng. Chưa biết “hiệp hai” Đồng Tâm liệu kết thúc có hậu hay không, nhưng đáng tiếc là nhiều người (cả luật sư và nhà báo) cũng bị phân hóa và tranh cãi như mổ bò.

Thực ra, khó tránh khỏi “hiệp hai”, như trong “Bài học Đồng Tâm” (24/4/2017) đã viết, “Thắng lợi bước đầu chỉ là “hiệp một” trong một trận đấu lớn. Vì vậy, đừng vội ăn mừng, không nên chủ quan và thỏa mãn mà mất cảnh giác, chừng nào thể chế lỗi thời về đất đai vẫn chưa được tháo gỡ, và các nhóm lợi ích vẫn chưa bỏ cuộc. Bài học “Ô Khảm” bên Trung Quốc là một ví dụ. Cuộc đấu tranh ôn hòa nhằm đổi mới thể chế và dân chủ hóa là một quá trình lâu dài, gian khổ và phức tạp, vì “Cách mạng không phải là một bữa tiệc”.   

Nói cách khác, Đồng Tâm như một “trận đồ bát quái” để các nhóm lợi ích cướp đất của dân, để  các phe phái chính trị đấu đá tranh giành quyền lực, và những kẻ cơ hội mị dân có dịp nhảy vào hôi như đám kền kền. Người ta hay nói “Trâu bò đánh nhau, ruồi muỗi chết”. Người dân luôn là nạn nhân và dù ai thắng thì họ cũng thua. Hết chiến tranh huynh đệ tương tàn, nay lại đến tranh giành quyền lực như “trò chơi vương quyền” (game of thrones).

Trong một cuốn sách mới xuất bản (“China’s Crony Capitalism: The Dynamics of Regime Decay”, Minxin Pei, Harvard University Press, October 2016), học giả Minxin Pei (Claremont McKenna College ) đã nhấn mạnh tính bền vững của tham nhũng tại Trung Quốc (cũng giống Việt Nam), trong khi học giả Andrew Nathan (Columbia university) lại nhấn mạnh tính bền vững của chế độ độc tài Trung Quốc (authoritarian resilience).

Vấn nạn tham nhũng còn bất trị hơn cả con quái vật Frankenstein và con quỷ Medusa cộng lại. Chặt cái đầu này thì nó mọc ra cái đầu khác. “Năm 2016, Trung Quốc đã kỷ luật 415.000 người, gồm 76 quan chức cấp bộ về tội tham nhũng”. Nhưng theo Minxin Pei, Tập Cận Bình “còn lâu mới diệt trừ được tham nhũng dựa trên thân hữu, mà chỉ làm đấu tranh phe phái càng khốc liệt hơn và chế độ càng dễ sụp đổ”. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo ra môi trường đặc quyền đặc lợi cho hệ thống tư bản thân hữu (hay tư bản đỏ), nuôi dưỡng tội phạm. Vì vậy, di sản của nó sẽ làm cho trào lưu dân chủ hóa rất khó khăn và rắc rối. (“Will Corruption Doom China?”, Dali Yang, Foreign Affairs, July/August 2017).

Bước đường cùng

Trong một thể chế mà mọi lĩnh vực đều bị “chính trị hóa” và các vụ án xử quan tham phải theo luật đảng, như ông phó giám đốc công an Sài Gòn đã công khai thừa nhận, thì khởi tố người dân Đồng Tâm “theo đúng quy trình pháp luật” thật bất cập và bất công. Trước “bước đường cùng”,  người dân Đồng Tâm chỉ còn cách theo lời khuyên của cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh là “hãy tự cứu mình trước khi trời cứu”. Nếu lời cam kết quân tử trong văn tự ký tươi kèm lăn tay của Chủ tịch Thành phố và đại biểu quốc hội “không có giá trị pháp lý” vì người ký bội tín do bất cứ lý do gì, thì dân Đồng Tâm chắc chỉ còn ba lựa chọn.

Thứ nhất, “quốc tế hóa” sự việc, đưa vụ tranh chấp và kiện tụng này ra công luận và toà án quốc tế, vì người dân bị đối xử bất công và các luật sư bênh vực họ cũng bất lực trước các nhóm lợi ích và luật pháp nước sở tại. Các luật sư (trong nước và ngoài nước) nếu thực có tâm và năng lực thì hãy giúp dân Đồng Tâm “khởi kiện tập thể”, đưa vụ tranh chấp và vi phạm dân quyền này ra Tòa án Quốc tế của LHQ (International Court of Justice).

Thứ hai, nếu dân Đồng Tâm đấu tranh ôn hòa và khởi kiện chính đáng không có kết quả, vẫn bị tước hết nguồn sống và dồn đến bước đường cùng, thì họ chỉ còn một lối thoát là “di cư tập thể” sang nước khác. Cả làng thử xin quy chế tị nạn, thông qua UNHCR dàn xếp với một nước thứ ba cho tái định cư. Hàng triệu người Việt đã từng ra đi (bằng thuyền), hàng vạn nguời khác ra đi (bằng máy bay), trong đó có các quan tham “ăn của dân không chừa một thứ gì” để làm giàu rồi “tìm đường cứu nước”. Tại sao người dân Đồng Tâm lại không thể?

Thứ ba, nếu hai cách trên đều không có kết quả, thì dân Đồng Tâm chỉ còn cách cuối cùng là “tự thủ” để gây sốc quốc gia (và quốc tế). Họ lại phải “rào làng chiến đấu” một lần nữa như “đấu tranh này là trận cuối cùng…”.  Nếu không có “con tin” thì dân Đồng Tâm đành phải biến mình thành “vật tế thần” (còn hơn “khổ nhục kế”). Những người dũng cảm trong làng có thể dấn thân “tự cứu mình” như những người “tử vì đạo” bằng cách “tuyệt thực tập thể”, hay thậm chí sẵn sàng tự thiêu (nếu cần) như hòa thượng Thích Quảng Đức (1963).

Nếu bi kịch trên xảy ra mà đất nước này và thế giới này vẫn vô cảm thì có lẽ loài người sắp đến “ngày tận số”. Tuy chuyện gì cũng có thể xảy ra nếu người dân bị đẩy đến bước đường cùng, nhưng tôi tin vẫn còn nhiều người tử tế sẵn lòng hỗ trợ và bênh vực họ, vì muốn đổi mới thể chế để đất nước vượt qua vấn nạn hiện nay. Nếu “đồng tâm nhất trí” là thế mạnh của Đồng Tâm và là điều kiện cốt yếu, thì mạng xã hội và công cụ truyền thông số chính là vũ khí hiệu quả và đồng minh mới của họ. Bằng phương tiện đó, người dân Đồng Tâm có thể tự mình truyền tin và hình ảnh (breaking news) ngay lập tức ra khắp cả nước và thế giới (không thua kém CNN). Đây là một lợi thế răn đe có thể làm thay đổi cuộc chơi (game changers).

Thay lời kết

Mỗi khi bí cờ, những người bị dồn đến bước đường cùng hay dùng nước cờ gambit để thoát hiểm bằng “đòn cân não” khi thi gan đấu trí, vì kẻ nào không sợ chết thường thắng. Con nhím khi bị thú lớn tấn công thì nó cuộn tròn và xù bộ lông lên như một bàn chông để tự vệ. Con sứa nhỏ bé và mềm yếu nhưng có chất độc làm cá lớn không dám ăn thịt. Đó là bản năng tự vệ chính đáng của tạo hóa ban cho để răn đe (deterrence) và liên kết (linkage). Nếu “hiệp một” là tiền đề cho “hiệp hai” thì “hệ quả không định trước” có cơ may tốt hơn xấu.

Nay người dân Đồng Tâm không còn gì để mất, nên họ có thể chơi nước cờ gambit, nhưng phải thận trọng vì “sai một ly đi một dặm”.  Đồng Tâm là một mô hình cần được bảo vệ và nhân bản, như Mao đã nói, “cách mạng không phải là một bữa tiệc”.  Khác với bài học Ô Khảm, bài học Đồng Tâm cho thấy người dân có thể thoát hiểm bằng nước cờ gambit khôn ngoan, nếu họ dám chơi và biết vận dụng sáng tạo quy luật “cùng tắc biến, biến tắc thông”.     

NQD. 21/6/2017 

(Nhân ngày báo chí cách mạng)

BA Ý KIẾN GẦN ĐÂY CỦA HUY ĐỨC VỀ BÁO CHÍ ‘CÁCH MẠNG’

BVN 21-6-2017

1. Bộ Thông tin hay Bộ Công an

(Nhân đọc bài viết phản cảm

Thuê bao di động phải chụp ảnh chân dung chính chủ) (1)

Quan sát những chính sách của Bộ 4T dưới thời Trương Minh Tuấn, tôi không hiểu ông Tuấn đang làm Bộ trưởng Bộ Thông tin hay là Bộ trưởng Bộ Công an [Những kẻ leo lên ghế đó bằng gót chân Achilles thì trong lòng thường sợ hãi và hay gồng mình chứng tỏ]. Càng nghĩ, càng thấy đề xuất của Bộ trưởng đầu tiên của Bộ 4T, ông Đỗ Trung Tá, cách đây gần 20 năm là rất sáng suốt: Cần tách phần truyền thông ra và lập “bộ công nghệ thông tin”. Ông Tá là Bộ trưởng cuối cùng hiểu biết như một chuyên gia về viễn thông và công nghệ thông tin. Cấu trúc của Bộ 4T đang mở đường cho các cán bộ tuyên huấn nửa mùa về làm Bộ trưởng trong khi ngành tác động đến tương lai của đất nước là công nghệ thông tin thì bọn họ chỉ là những anh mù [Nhắc các nhà báo không like phòng khả năng mất thẻ].

Nguồn: FB Truong Huy San 

2. Báo chí phản ứng trước chính sách xấu

(Nhân đọc bài Buộc chụp ảnh khi đăng ký thuê bao di động, liệu có đúng luật?) (2)

43% người đọc tìm kiếm thông tin được dẫn qua mạng xã hội đã làm “sex, sến hóa” báo chí. Khác với thời làm báo của chúng tôi, báo chí giờ đây rất thờ ơ với chức năng phản biện chính sách. Đó là là nguyên nhân để cho 7.000 điều kiện kinh doanh xuất hiện trong giai đoạn 2008 -2015. Cám ơn Điệp HoàngTuổi trẻ, hy vọng sau bài viết này, Tuổi trẻ sẽ quay lại với sứ mệnh truyền thống phản ứng nhanh, mạnh, bài bản với cái xấu trong đó bao gồm cả chính sách xấu.

Nguồn: FB Truong Huy San

3. Đề xuất một kiến giải (3)

Để tránh lá cải hóa “nền báo chí cách mạng”, “cách mạng” nên cho phép báo lá cải danh chính ngôn thuận vận hành. Để tư nhân không còn phải núp bóng các cơ quan mũ cao áo dài. Để cái mông, vòng eo của Ngọc Trinh; cái lưỡi của Lý Nhã Kỳ… vẫn có thể đong đưa trước đám đông mà “cách mạng” không còn mang tiếng.

Các cơ quan đã nắm quyền lực nhà nước, nhất là các cơ quan siêu quyền lực như Công an, Tòa án, VKS, Thanh tra… thì không được nắm cơ quan ngôn luận. Thật là nguy hiểm khi một người vừa bị bắt, đã bị báo ngành mô tả như tội phạm; một người đã bị án phạt tù lại còn phải chịu án ngôn từ của một cơ quan thuộc tòa. Các cơ quan này nên bán các tờ báo đang ăn khách của họ và chuyển những nhà báo biên chế sang làm những tờ nội san, thuần túy thông tin và trao đổi nghiệp vụ.

Quốc hội cần ra một nghị quyết chỉ cấp ngân sách cho một số cơ quan báo chí nhất định nhằm đảm bảo quyền được thông tin của người dân và, trước khi cho phép tư nhân, cho phép các hiệp hội ra báo để đảm bảo quyền tự do ngôn luận của người dân.

Hãy coi báo chí như một doanh nghiệp và hãy để báo chí vận hành như một doanh nghiệp. Một khi phía sau báo chí không phải là một cơ quan nhà nước, nếu nhà báo đưa tin để vu khống, bôi nhọ, tống tiền… sẽ dễ dàng bị doanh nghiệp, người dân kiện ra tòa hoặc bị tố giác trước các cơ quan thực thi pháp luật.

Thay vì tô vẽ vai trò của nhà báo hoặc trao cho họ các sứ mệnh lớn lao hãy coi báo chí là một nghề có vớ vẩn có cao quý như nhiều nghề khác. Hãy để các nhà báo thực hiện quyền hành nghề và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật (kể cả việc tự đối diện với các vụ kiện). Chỉ có tòa án mới có thể tước quyền hành nghề của các nhà báo; quyền ấy không đơn giản chỉ là cái thẻ để cho Bộ TT & TT hăm dọa nay cấp mai rút. Thay vì ca tụng hãy để cho các nhà báo được quyền nói ra sự thật.

Nguồn: FB Truong Huy San

(1) (2) (3) Đều do BVN thêm.

 

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Sáu 20, 2017

20170620. PHẢN BIỆN BÀI BÁO CỦA HOÀNG LỆ-TBVN TP.HCM

ĐIỂM BÁO MẠNG

NGHIÊN CỨU – PHÊ BÌNH – TRAO ĐỔI

Viện Phan Chu Trinh – một tổ chức đáng nghi ngờ

HOÀNG LỆ/ TBVN TPHCM 9-6-2017

 

Viện Phan Chu Trinh vừa được thành lập ngày 7/2/2017 thì ngay lập tức, Phạm Chí Dũng – quản trị của Hội nhà báo độc lập đã lên tiếng phê phán và được VOA đăng tải công khai ngày 22/2 với tiêu đề “Viện Phan Chu Trinh có hướng đến tinh thần Phan Chu Trinh”. Và cũng ngay lập tức, Bùi Minh Quốc – một “nhân sĩ trí thức” có nhiều bài đăng tải với ý vị chống Nhà nước trên các trang như Bauxite Việt Nam, Văn Việt… đã vội lên tiếng bênh vực “Viện Phan Chu Trinh, Nguyên Ngọc, tôi tin”. Thông qua cuộc tranh cãi này, ta có thể thấy không chỉ có phe dân chủ vô học đang đánh nhau mà cả dân chủ có học cũng đang thanh trừng nhau. Nhưng sự việc không chỉ dừng ở đây. Liên tục trên các mạng xã hội và những bài viết trên blog, các phát biểu trong các video clip, nhiều vấn đề của Viện Phan Chu Trinh do ông Nguyên Ngọc và Chu Hảo cầm đầu đã được dư luận phân tích, làm rõ sự nguy hiểm đối với trật tự xã hội của nó.

Buôn bán cổ nhân

Phan Chu Trinh là một chí sĩ yêu nước của Việt Nam vào hồi đầu thế kỷ XX, tuy nhiên cần phải nói rõ, việc buôn bán tư tưởng của nhà yêu nước Phan Chu Trinh cho những mục đích xấu xa không phải bây giờ mới có. Trước đây vài năm, lớn tiếng tuyên bố khai giảng khóa đầu của trường Đại học Phan Chu Trinh do ông Nguyên Ngọc làm hiệu trưởng, ông Chu Hảo làm hiệu phó như một mô hình đào tạo mới, tự do và dân chủ, hai ông đã tưởng đó sẽ là một nơi đào tạo cán bộ đấu tranh của hai ông. Ai ngờ, mô hình này thất bại thảm hại vì lượng sinh viên quá ít, chương trình học không thực tế và gặp nhiều vấn đề về tài chính dù đã bỏ không ít công sức đi ngửa tay xin tiền các bên trong và ngoài nước. Và ngay trong năm 2016, trường Đại học Phan Chu Trinh đóng cửa, mặt bằng bị thu hồi. Trường Đại học Phan Chu Trinh đã đóng cửa, thay vào đó hóa thân thành Viện Phan Chu Trinh để tiết kiệm tài chính và các nguồn lực nhân sự, lại vẫn được tiếng tốt là tổ chức học thuật. Quảng bá Viện Phan Chu Trinh chẳng qua chỉ để xóa đi cái sự kiện đau lòng đối với Nguyên Ngọc và Chu Hảo, đó là ngôi trường đã bị đóng cửa.

Cùng với trường Đại học Phan Chu Trinh, Quỹ Phan Chu Trinh cũng là một trò về buôn bán tên tuổi nhà yêu nước. Quỹ Phan Chu Trinh là một quỹ trao giải cho các sách hay được xuất bản hàng năm liên quan đến chủ đề nghiên cứu học thuật. Thế nhưng, quỹ này đa phần không trao hay khuyến khích các nghiên cứu học thuật có tính khoa học mà chỉ trao cho các nghiên cứu học thuật mang tính chính trị (có thể là bản thân công trình hoặc tác giả) mà toàn là các nhà chính trị “có vấn đề” với lịch sử cách mạng. Thông qua việc trao giải thưởng này, quỹ đã tác động đến giới học thuật, lái hướng nghiên cứu sang phục vụ các mục đích chính trị mà nhóm nhân sĩ trí thức này đề ra.

Nói thẳng, những hoạt động này chính là để làm sống lại cái thây ma IDS, tập hợp các trí thức bất đồng với chính quyền, viết bài trên báo chí và Internet để tạo dư luận nhằm thúc ép chính quyền theo những yêu sách họ đưa ra. Viện IDS bị giải thể do hoạt động vi phạm pháp luật Việt Nam. Sau đó, nhóm nhân sĩ trí thức này đã cùng nhau cổ vũ nhóm Bauxite Việt Nam, thành lập Quỹ Phan Chu Trinh để kêu gọi tiền tài trợ, kêu gọi người dân xuống đường biểu tình chống Trung Quốc nhưng thực ra là để gây hỗn loạn, thành lập Diễn đàn Xã hội dân sự, thành lập Văn đoàn độc lập… và đến giờ là thành lập Viện Phan Chu Trinh. Vẫn là những con người ấy, tư tưởng ấy, cách thức hoạt động ấy mà sân nào cũng đá một tí, cứ mỗi lần thất bại lại “ve sầu thoát xác”, đội lên cái lốt mới với cái tên gọi mỹ miều hơn.

Phan Chu Trinh là một chí sĩ yêu nước của Việt Nam vào hồi đầu thế kỷ XX, thế nhưng sang đầu thế kỷ XXI, cái tên của ông được nhắc đi nhắc lại như một tấm bình phong cho phong trào dân chủ ở Việt Nam với khẩu hiệu khá quen thuộc “nhân quyền”, “dân quyền”, “khai dân trí”… Để dựng lên một thần tượng thu hút quần chúng, việc chọn cụ Phan đáng kính cho thấy rõ mưu đồ tạo vỏ bọc mà chính quyền và người dân khó có thể lên án, nhằm thúc đẩy một mô hình dân chủ cải lương hay còn gọi thẳng ra là ngụy dân chủ. Cách thức này không khác mấy phong trào chống dự án Bauxite của nhóm ông Huệ Chi cũng núp dưới ủng hộ ý kiến của tướng Võ Nguyên Giáp để thúc đẩy hình thành phong trào đối lập vậy. Đi đầu trong phong trào ngụy dân chủ này là các trí thức thuộc Viện IDS cũ.

Quỹ Phan Chu Trinh là bước đi đầu tiên của chiến lược này. Quỹ này hỗ trợ học thuật chỉ là vỏ bọc, trên thực tế chủ yếu làm 2 mục đích. Mục đích thứ nhất là tạo biểu tượng Phan Chu Trinh gắn liền với công cuộc “khai dân trí” (thực chất thúc đẩy đi theo mô hình dân chủ phương Tây). Mục đích thứ hai là hợp lý hóa ngân sách để nuôi một đội ngũ trí thức chống đối chính quyền. Nếu nhìn lại danh sách các trí thức được giải của Quỹ Phan Chu Trinh, ta sẽ thấy rằng họ đều công khai hoặc ngầm ẩn tỏ thái độ bất bình với chính quyền. Quỹ Phan Chu Trinh còn hỗ trợ các nhóm “chém gió” trẻ tuổi tổ chức các sự kiện tại VUSTA 53 Nguyễn Du do ông Chu Hảo dìu dắt để truyền bá tư tưởng chống đối, mạo nhận là tinh thần Phan Chu Trinh.

Khi đã tập hợp được một lượng trí thức chống đối đông đảo, dù không thật sự giỏi chuyên môn nhưng rất giỏi chém gió, một loạt những hoạt động ồn ào khác được dấy lên. Nào là sự ra đời của Diễn đàn Xã hội Dân sự, nào là Ban vận động Văn đoàn độc lập, hết góp ý Hiến pháp không dựa trên cơ sở lý luận khoa học, lại vận động bầu cử phi pháp, rồi lại đến xuất bản sách ngoài luồng… Những trí thức này không bỏ qua bất cứ một cơ hội nào để kêu gọi một đám đông gắn mác “nhân sỹ trí thức” (không ít chẳng có tí chữ nghĩa nào cũng như chưa bao giờ hành nghề liên quan đến trí thức) để gây sức ép với chính quyền, ép chính quyền phải thực hiện các yêu sách của họ, ép chính quyền cho họ ngang nhiên nhận tiền của các thế lực chính trị nước ngoài. Họ tự thành lập một “thinktank”, nhưng “thinktank” này không đặt quyền lợi quốc gia làm trọng mà chủ yếu dùng để chống đối chính quyền, và quan trọng hơn, dễ dàng thu hút các nguồn đầu tư của nước ngoài cho họ nhiều hơn. Đáng nói hơn, gắn với tên ông Nguyên Ngọc còn có Văn đoàn độc lập hay là nơi tụ tập của kẻ bất mãn, bọn chống phá, lũ chiêu hồi. Lướt qua 61 gương mặt nhà văn trương tên lần đầu trong tổ chức này, ta thấy ít nhất là 15 người đã từng vào tù vô khám vì lý do làm gián điệp cho nước ngoài, tham nhũng, lợi dụng tự do để viết bậy, vài người là chiêu hồi chạy trốn đang sống lưu vong ở nước ngoài, 12 người là gốc Việt có quốc tịch nước ngoài. Hầu hết họ đều là những người có ân oán với Dân tộc! Những nhà văn nói trên trừ Nguyên Ngọc chẳng ai có gương mặt sáng sủa và có tác phẩm nào đáng giá để cho công chúng đọc. Nếu có chăng là một vài tác giả vì “nhận thức lại” đã bị khai trừ khỏi Đảng như Bùi Minh Quốc, Tiêu Dao Bảo Cự, Mai Thái Lĩnh, Hoàng Hưng… Đằng sau tất cả những điều ấy là một mưu đồ làm chính biến của những trí thức nửa vời mà Quang A, Nguyên Ngọc là tiên phong, còn Chu Hảo ở trong màn trướng chỉ huy.

Mượn danh người đã khuất để làm chính trị, núp bóng những lãnh đạo Đảng là con cháu cụ Phan đã nghỉ hưu, đây quả thực là một thứ chính trị ký sinh. Tức là sao? Tức là tự bản thân nó không sống được, phải tạo vỏ bọc, không danh chính ngôn thuận, không dám thể hiện đúng “bản chất” của mình. Bản chất của những người núp bóng cụ Phan không hề thực tâm khai dân trí, không mang lại nhân quyền, dân quyền, họ chỉ muốn biến người dân thành công cụ cho mưu đồ đen tối.

Hoàng Lệ
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 452

VĂN VIỆT/ BVN 16-6-2017

Bài [trên] đây đáng lưu giữ làm tư liệu như một bằng chứng cho thấy “cảnh sát tư tưởng” có thể bịa chuyện và vu cáo trắng trợn như thế nào. Như nói IDS “bị giải thể do hoạt động vi phạm pháp luật Việt Nam” trong khi thực ra Viện không bị ai giải thể, mà là tuyên bố tự giải thể (và đến nay, thủ tục giải thể vẫn chưa xong), không phải vì vi phạm pháp luật, mà là vì phản đối quyết định số 97/2009/QĐ-TTg buộc các tổ chức nghiên cứu khoa học có phản biện ngược với chính sách của Chính phủ không được công bố. Như nói sau khi IDS giải thể, nhóm nhân sĩ trí thức của IDS mới thành lập Quỹ Phan Châu Trinh, trong khi Quỹ Phan Châu Trinh thực ra thành lập năm 2006 dưới tên Quỹ dịch thuật Phan Chu Trinh, đến năm 2008 được đổi tên thành Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh mà Chủ tịch là bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước, một năm trước khi IDS tuyên bố tự giải thể. Như nói Quỹ Phan Châu Trinh được thành lập là “để kêu gọi tiền tài trợ, kêu gọi người dân xuống đường biểu tình chống Trung Quốc”, “hợp lý hóa ngân sách để nuôi một đội ngũ trí thức chống đối chính quyền”. Như nói trong số 61 thành viên của Ban Vận động thành lập Văn đoàn Độc lập Việt Nam, có những người “đã từng vào tù vô khám vì lý do làm gián điệp cho nước ngoài, tham nhũng”. Như nói Mai Thái Lĩnh, Hoàng Hưng bị khai trừ khỏi Đảng trong khi hai người chưa bao giờ là đảng viên. Vân vân và vân vân.

Điều đáng nói không phải là một kẻ nói bậy, mà là lời nói bậy đó được đăng đàng hoàng trên báo chính thống mang danh tổ chức văn nghệ của TP.HCM (http://tuanbaovannghetphcm.vn/vien-phan-chu-trinh-mot-to-chuc-dang-nghi-ngo/). Nhan đề bài báo cho thấy tác giả của nó tập trung tấn công vào Viện Phan Châu Trinh – một tổ chức được thành lập hợp pháp do nhà văn Nguyên Ngọc làm Chủ tịch và bà Nguyễn Thị Bình là Chủ tịch danh dự. Qua đó, tác giả còn kết án Viện IDS, Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh, trang mạng Bauxite Việt Nam, Ban vận động Văn đoàn độc lập Việt Nam. Sau lời tuyên bố “không sợ đối thoại” của ông Võ Văn Thưởng, Trưởng ban Tuyên Giáo, bài này cho thấy thực sự người ta sợ đối thoại như thế nào và không ngần ngại dùng những thủ đoạn cũ rích để bịt mồm những ai có ý kiến riêng. Nếu “đối thoại” được hiểu là buộc tất cả phải nói theo đúng sự áp đặt của nhà cầm quyền, thì “đối thoại” chỉ là “đối thọi”. Có nên nhắc một bài học  kinh nghiệm chăng? Ngày xưa, trước khi xảy ra vụ án Nhân Văn – Giai phẩm, Đảng học tập ông anh Trung Quốc, phát động phong trào “bách hoa tề phóng” (trăm hoa đua nở), kết quả nói như cụ Phan Khôi, cái vườn tưởng có trăm hoa, chỉ nở ra tuyền một loại cúc vạn thọ!

Văn Việt

TUẦN BÁO VĂN NGHỆ TP.HCM: DẤU TỐ CỤ PHAN CHÂU TRINH, XÚC PHẠM NHÂN

PHẨM TRÍ THỨC

ANH VĂN/ VNTB/ BVN 19-6-2017

Kết quả hình ảnh cho bồi bút

Vào ngày 9/6/2017, Tuần báo Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh đã đăng tải bài viết: ‘Viện Phan Châu Trinh – một tổ chức đáng ngờ’ của tác giả Hoàng Lệ*.

Bài viết có gì?

Bài viết áp đặt rằng, ông Nguyên Ngọc đang ‘buôn bán cổ nhân’ thông qua Viện Phan Châu Trinh. Với lý do là ông từng là người sáng lập ra ĐH Phan Châu Trinh – một mô hình ‘đào tạo mới, tự do và dân chủ’; Quỹ Phan Châu Trinh là ‘một trò buôn bán tên tuổi nhà yêu nước’ khi không trao giải các nghiên cứu học thuật có tính khoa học mà ‘chỉ trao cho các nghiên cứu có tính chính trị – bản thân công trình hoặc tác giả’. Và Viện Phan Châu Trinh vẫn là ‘những con người ấy, tư tưởng ấy, cách thức hoạt động ấy’.

Tác giả cho rằng, các tổ chức trên dựng lên hình tượng cụ Phan nhằm ‘tạo vỏ bọc mà chính quyền và người dân khó có thể lên án, thúc đẩy một mô hình dân chủ cải lương hay còn gọi thẳng là ngụy dân chủ’.

Tác giả còn nhấn mạnh rằng, các tổ chức này tập hợp một ‘lượng trí thức chống đối đông đảo, không thực sự giỏi chuyên môn, nhưng rất giỏi chém gió’, và dẫn chứng là sự ra đời của Văn Đoàn độc lập’; góp ý Hiến pháp ‘không dựa trên cơ sở lý luận khoa học’; ‘xuất bản sách ngoài luồng’.

Tác giả cũng tranh thủ ‘đá’ nhóm trí thức nêu trên bằng cách, cho rằng, ‘một đám đông gắn mác nhân sĩ trí thức – không ít chẳng có tí chữ nghĩa nào cũng như chưa bao giờ hành nghề liên quan đến trí thức’ để gây sức ép với chính quyền, lập Viện nghiên cứu chiến lược (thinktank) là nhằm chống đối chính quyền, đồng thời các tổ chức này ngang nhiên nhận tiền từ các thế lực chính trị nước ngoài.

Tác giả cũng nhắm vào ông Nguyên Ngọc và Văn đoàn độc lập, khi cho đây là nơi ‘tụ tập của kẻ bất mãn, bọn chống phá, lũ chiêu hồi’ khi lướt vào danh sách thì có 15/61 người từng vào tù vô khám, và đây là nhóm người ‘có ân oán với dân tộc’.

Sự ‘lồng lộn’ về ngôn ngữ của một Tuần báo Văn nghệ

Tôi buộc phải sử dụm cụm từ ‘lồng lộn’ về ngôn ngữ, bởi nó là sự điên cuồng đến mất lý trí trong nhận định, thậm chí tôi nhìn thấy trong bài viết những ngôn từ của thời kỳ cả dân tộc mê mệt đấu tranh giai cấp (chiêu hồi, cải lương, ngụy dân chủ, chống phá,…).

Tác giả cho rằng, ông Nguyên Ngọc và những người bạn của ông ấy ‘buôn bán cổ nhân’, nhưng cách hành bài của tác giả thì không khác gì một ‘con điếm về chính trị lẫn ngôn ngữ’, khi xúc phạm và bôi nhọ nhân phẩm, danh dự của từng cá nhân, tổ chức liên quan đến hoạt động xã hội dân sự về mặt giáo dục, văn học và nghệ thuật. Thậm chí, đó là những ngôn từ ‘bốc mồ mả’ cụ Phan Châu Trinh (nhà cách mạng xã hội, nhà văn hóa, người khởi xướng cho phong trào Duy Tân (đầu thế kỷ XX), người đã thúc đẩy phong trà giảm sưu thuế Trung kỳ (1908); người đặt nền móng cho vấn đề độc lập dân tộc ở một tầm vóc với: phát triển dân tộc cơ bản và trên hết người khởi xướng chủ nghĩa Dân quyền ôn hòa) để hồi tố cụ về tội: ngụy dân chủ, dân chủ cải lương.

Liệu rằng tác giả có đủ nhận thức không khi nhận định ‘một đám đông gắn mác nhân sĩ trí thức và chưa bao giờ hành nghề liên quan đến trí thức’. Tôi tự hỏi ai sẽ đủ tư cách là nhân sĩ trí thức nếu ông Nguyên Ngọc (từng là Phó Tổng thư ký Hội nhà Văn Việt Nam, Tổng biên tập báo Văn nghệ); ông Chu Hảo (từng là Thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ); ông Nguyễn Sự (từng là Bí thư thành ủy Tp. Hội An); ông Vũ Ngọc Hoàng (từng là nguyên Phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam); ông Vũ Thành Tự Anh (giảng viên Đại học Fullbright); bà Nguyễn Thị Bình (từng là Phó Chủ tịch nước); ông Bùi Minh Quốc (từng là Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ Quảng – Đà, TBT Tạp chí Đất Quảng); ông Đào Tiến Thi (nhà ngôn ngữ học, công tác NXB Giáo dục Việt Nam); ông Hà Sĩ Phu (từng là Viện phó Phân viện Đà Lạt của Viện Khoa học Việt Nam); ông Đỗ Trung Quân (nhà thơ, phóng viên báo Sài Gòn Tiếp thị), ông Hoàng Hưng (từng là Phóng viên, Biên tập viên báo Người giáo viên Nhân dân);… với các tác phẩm để đời của họ (mà tác giả có thể dễ dàng tìm ra trên Google hoặc nhà sách) lại không đủ tư cách đó?!

Và những việc làm hiện tại, những công việc mà họ trải qua, những sản phẩm mà họ đưa ra cho xã hội là gì nếu không phải là lao động trí óc? Liệu tác giả có hiểu ra rằng, sản phẩm trí thức của họ không những được ứng dụng trong thực tiễn (khoa học và trí thức ứng dụng) mà cao hơn cả, chính họ là những người làm đặc sắc tính chất trí thức thông qua sự phản biện một cách độc lập ngày hôm nay, hay nói đúng hơn, họ là những người thuộc ‘cơ quan nhận thức của cơ thể xã hội’ thay vì một cái loa phát ngôn hay một công cụ ‘hành nghề’ của Đảng.

Chính vì không công nhận vai trò ngang hàng của tri thức trong ứng đối với chính quyền, quen một lề lối là công cụ, là sự luồn cúi mà tác giả quy nạp rằng, những ai đi ngược (hoặc khác) với quan điểm chính quyền – dù là một quan điểm đúng xuất phát từ tư duy biện chứng khoa học cũng đều thuộc thể loại ‘chống đối’ và lập ra để ‘chống đối’. Với cách nhìn này, tác giả vỗ mặt ông Võ Văn Thưởng (Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương) và Ban Tuyên giáo Trung ương khi lên tiếng đối thoại với các cá nhân/ quan điểm khác với đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng và pháp luật nhà nước

Thứ hai, tác giả cho rằng, họ ‘không thực sự giỏi chuyên môn’, thế hóa ra, bao năm qua, nhà nước Việt Nam đã tận dụng một ‘tập hợp’ vô dụng để xây dựng nên một chính quyền như hiện nay? Và chính quyền hiện nay, được dựng lên từ những tập hợp ‘giỏi chém gió’? Nguy hiểm hơn, tác giả hoàn toàn không ý thức được khi cho rằng, góp ý Hiến pháp, xuất bản sách ngoài luồng, ra đời Văn đoàn độc lập là ‘không dựa trên cơ sở lý luận khoa học’.

Vậy làm thế nào để đảm bảo được cơ sở lý luận khoa học khi mà quyền Hiến pháp không được thực thi? Khi việc thực hiện theo Điều 25 Hiến Pháp – Điều tối cao liên quan đến quyền tự do ngôn luận (góp ý Hiến pháp và tự do xuất bản); tự do lập hội (thành lập văn Đoàn độc lập) bị đả kích và phê phán? Thậm chí, với quan điểm cho rằng, tự do lập Hội – xuất bản hay phê phán/ góp ý Hiến pháp là không dựa trên cơ sở lý luận khoa học, vậy thì Chủ trương ‘Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra’ mà ĐCSVN thường xuyên tôn vinh, nhắc nhở trong các nghị quyết là tờ giấy lộn vứt xó? Hay đúng hơn Chỉ thị 30-CT/TW, ngày 18/2/1998 ‘Về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở mà Bộ Chính trị (khóa VIII) đã ban hành là thứ hoàn toàn ‘không dựa trên cơ sở lý luận khoa học’?

Thứ ba, tác giả cáo buộc, việc lập các ‘thinktank’ là nhằm gây sức ép với chính quyền, để chống đối chính quyền, ngang nhiên nhận tiền từ các thế lực chính trị nước ngoài. Vậy thì tại sao Chính quyền Việt Nam không tiến hành dẹp ngay từ đầu mà lại cấp phép? Bởi các yếu tố mà tác giả vạch ra nêu trên đủ để hình thành cái gọi là ‘tổ chức chính trị đối lập’. Trong khi đó, quan điểm cứng nhắc từ trước đến nay của lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam là hoàn toàn không cho phép điều đó xảy ra – ngay từ trong trứng nước (gần đây nhất là vào năm 2014 – ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã căn dặn lực lượng Công an như vậy). Sẽ là một câu chuyện cười đến mức phi lý khi dựa vào quan điểm rằng, ‘vì có sử dụng tên cụ Phan’ nên Chính quyền sợ! Vậy ra, chính quyền sợ một người từng bị đấu tố là ‘dân chủ cải lương’ ư? Sợ cái tên ấy đến nỗi, buộc phải cấp phép, rồi cho hoạt động, thậm chí cho phép báo chí thông tin về sự kiện ra mắt (như Viện Phan Châu Trinh),…? Tôi e rằng, cái lý luận ấy là thứ lý luận ‘khoai lang’ nhất, kết tinh của sự ‘lộng ngôn’ và sự bí bách về mặt lý luận có thể tuôn ra!

Ngoài ra, tác giả nhận định, ông Nguyên Ngọc và Văn đoàn độc lập, là nơi ‘tụ tập của kẻ bất mãn, bọn chống phá, lũ chiêu hồi’ bởi ‘khi lướt vào danh sách thì có 15/61 người từng vào tù vô khám, và đây là nhóm người ‘có ân oán với dân tộc’. Tôi đồ rằng, thứ ngôn ngữ ‘chiêu hồi/ chống phá’ đầy tính miệt thị vào thời chiến tranh nội bộ của thế kỷ XX nên bị tống khứ và phê phán kịch liệt nhất trong thời đại hiện nay. Bởi nó biểu hiện cho tư duy ngôn ngữ vẫn bị co cụm trong cái vòng đấu tranh giai cấp, chính thứ ngôn ngữ này đã triệt tiêu tinh thần dân chủ, tự tôn, đổi mới – đưa đất nước vào cái vòng khủng hoảng kinh tế – chính trị cũng trong thời gian ấy. Nhưng nguy hiểm hơn nữa, với cái ngôn ngữ ‘ân oán dân tộc’ kiểu này, tác giả Hoàng Lệ đã nhổ toẹt vào chủ trương ‘hòa giải dân tộc’ của Đảng và Nhà nước Việt Nam đang gầy dựng bấy lâu nay. Nhổ toẹt vào lời phát biểu của ông ĐBQH Trương Trọng Nghĩa khi cho rằng ‘hòa bình trên 42 năm rồi, việc khai thác, phổ biến các tác phẩm văn hóa trước 1975 là rất cần thiết vừa đáp ứng nhu của dân vừa hòa hợp dân tộc.’

Cuối cùng, tác giả cho biết, ông Nguyên Ngọc đang ‘buôn bán cổ nhân’ vì các công trình liên quan đến các tổ chức nêu trên không trao giải các nghiên cứu học thuật có tính khoa học mà ‘chỉ trao cho các nghiên cứu có tính chính trị – bản thân công trình hoặc tác giả’. Với quan điểm này, tôi nhận ra sự thật rằng, tác giả chỉ là tên bồi bút, với mớ ngôn ngữ cảm tính, hoàn toàn không nhận thức được khoa học là gì, tính chính trị trong nghệ thuật – đời sống – học thuật là gì. Làm sao có thể thoát ra khỏi tính chính trị khi mà yếu tố này được nhìn nhận như một hiện tượng khách quan trong đời sống của xã hội loài người, và chính Chủ nghĩa Mác- Lenin, cũng nhấn mạnh nó xuất hiện khi xã hội có giai cấp, với logic phát triển nội tại – độc lập – khách quan (hữu cơ). Chính nó đảm bảo cho khoa học – nghệ thuật có tính biện chứng nhằm nắm bắt sự vận động xã hội, dự báo các tình thế của xã hội và cách mạng. Do đó, việc đòi hỏi loại trừ yếu tố chính trị ra khỏi khoa học, nghệ thuật là một hội chứng chủ quan, giáo điều không hơn không kém.

Riêng về quan điểm cho rằng việc lên tiếng của TS. Phạm Chí Dũng (IJAVN) là thanh trừng, tôi tin rằng – trong mắt và suy nghĩ của tác giả chưa bao giờ tồn tại một quan điểm gọi là: phản biện.

Kết

Với sự manh mún và phản tư duy nêu trên của tác giả Hoàng Lệ, một lần nữa Ban biên tập Tuần báo Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh đang tự đánh mất tính ‘nghiên cứu lý luận – phê bình văn học – nghệ thuật’ của mình. Thay vào đó là những ngôn ngữ ‘chợ búa’ đầy tính chất mạt sát nhân phẩm, danh dự người khác; đi ngược lại tính khách quan trong phát triển xã hội và chính trị; phủ nhận sự phát triển và đóng góp của các yếu tố đối thoại trong xã hội Việt Nam (xã hội dân sự); đấu tố cổ nhân. Trở thành một Tuần báo nồng nặc ngôn ngữ ‘đấu tranh giai cấp’, và chủ trương ‘vô sản hóa giáo dục – nghệ thuật’ trở lại một lần nữa.

Đây là sự đáng báo động, mà ông Tổng biên tập Nguyễn Chí Hiếu cần phải nghiêm túc nhận thức lại. Bởi sự dễ dãi và có phần lệch lạc về mặt tư duy (hoặc tư duy một chiều) đã khiến những bài viết – đáng lý ra chỉ nên nằm ở một blog, thì nay đã ‘đàng hoàng’ nằm một cách ‘chiễm chệ’ trên một cơ quan ngôn luận thuộc Hội Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh.

Tôi cho đó là điều đáng tiếc (nếu không muốn nói là khốn nạn) và thể hiện tư duy đi ngược chiều phát triển!

(*) Toàn bộ bài viết: http://tuanbaovannghetphcm.vn/vien-phan-chu-trinh-mot-to-chuc-dang-nghi-ngo/

A.V.

VNTB gửi BVN

ĐIỂM BÁO MẠNG

VŨ SỸ CƯỜNG/ TBKTSG 19-6-2017

Một ngôi nhà công vụ tại Hà Nội

(TBKTSG) – Trong hầu hết các quốc gia, tài sản công luôn chiếm tỷ trọng cao nhất về giá trị trong tổng tài sản quốc gia, là nguồn lực kinh tế quan trọng. Vì vậy, việc tiếp tục sửa đổi Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước (luật sửa đổi đổi tên thành Luật Quản lý, sử dụng tài sản công) là rất cần thiết.

Dự thảo Luật Quản lý, sử dụng tài sản công đang được Quốc hội thảo luận đã có nhiều điều mới so với trước đây. Dự thảo luật đã cụ thể hóa nhiều vấn đề về nguyên tắc quản lý tài sản, tách bạch quản lý tài sản của các cơ quan nhà nước với các tài sản sử dụng kinh doanh, bao quát được các tài sản theo nguyên tắc quản lý. Dự thảo cũng quy định rất rõ về cơ chế quản lý, cơ quan quản lý tài sản công, phân loại tài sản công. Những điểm mới của dự thảo luật được kỳ vọng sẽ cải thiện hiệu quả sử dụng tài sản công trong tương lai. Tuy nhiên, để có thể áp dụng luật này, trong thực tiễn quản lý, vẫn có một số thách thức cần giải quyết.

Trong dự thảo luật, tài sản công được định nghĩa “là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Điều đó cho thấy những tài sản chung khác của cộng đồng nhưng không do Nhà nước đại diện chủ sở hữu thì không áp dụng luật này. Nói cách khác thì tài sản của các hiệp hội, tổ chức phi lợi nhuận, hoạt động vì cộng đồng hay các tổ chức công khác không phải là Nhà nước vẫn cần có luật riêng để điều chỉnh.

Cho dù vậy, phạm vi điều chỉnh của luật cũng là quá rộng, trong khi mỗi loại tài sản lại có những đặc điểm kinh tế – kỹ thuật khác nhau, đòi hỏi mô hình tổ chức quản lý và thực hiện khác khau. Hệ quả là sẽ cần rất nhiều các văn bản hướng dẫn thực hiện dưới luật và cũng sẽ cần tham chiếu nhiều luật chuyên ngành khác khi thực thi. Điều này dẫn đến nguy cơ chồng chéo khi thực hiện luật với các luật chuyên ngành khác nếu không có những rà soát thật kỹ lưỡng.

Dự thảo Luật Quản lý, sử dụng tài sản công đã có tham vọng quá lớn khi muốn quản lý mọi tài sản thuộc về Nhà nước theo nghĩa rộng. Điều này sẽ đặt ra nhiều thách thức không nhỏ cho cơ quan hành pháp khi phải triển khai luật vào thực tiễn.

Bên cạnh các nguồn hình thành tài sản công từ việc Nhà nước giao tài sản bằng hiện vật hoặc giao ngân sách nhà nước để đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản, dự thảo luật còn bổ sung quy định cho phép sử dụng nguồn quỹ khấu hao tài sản và nguồn kinh phí hợp pháp khác để đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản hoặc đi thuê tài sản. Đặc biệt, đơn vị sự nghiệp công lập được phép huy động vốn, nhận góp vốn, liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản theo quy định của pháp luật. Dự thảo luật cũng quy định cụ thể tám hình thức khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công, bao gồm: giao quyền sử dụng tài sản; cấp quyền khai thác tài sản; cho thuê tài sản; chuyển nhượng quyền khai thác, quyền sử dụng tài sản; góp vốn, liên doanh, liên kết; sử dụng tài sản công để thanh toán các nghĩa vụ của Nhà nước.

Việc áp dụng quy định này vào thực tiễn sẽ gặp những thách thức không nhỏ vì nguyên tắc kế toán của khu vực công hiện nay vẫn có những khác biệt đáng kể so với khu vực doanh nghiệp. Hơn nữa, dữ liệu về quản lý tài sản và định giá tài sản công còn nhiều hạn chế. Vì vậy, để tính đúng, tính đủ giá trị tài sản công, nhất là trong các đơn vị sự nghiệp công lập, để đảm bảo việc khai thác hiệu quả nguồn lực này sẽ không dễ dàng.

Dự thảo luật bổ sung quy định về huy động vốn để đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản tại đơn vị sự nghiệp công lập. Điều 57 của dự thảo quy định đơn vị sự nghiệp công lập có hoạt động dịch vụ theo chức năng, nhiệm vụ được giao được huy động vốn của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản khi đáp ứng đủ các điều kiện gồm: có dự án đầu tư mua sắm tài sản được cấp có thẩm quyền phê duyệt; Nhà nước không bố trí hoặc bố trí không đủ vốn cho việc đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản; có phương án huy động và hoàn trả vốn; đơn vị sự nghiệp công lập tự chịu trách nhiệm về việc hoàn trả vốn huy động. Tuy nhiên, trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ (ví dụ, trường đại học mang một phần đất được giao trong khuôn viên trường để làm tài sản bảo đảm khi thực hiện vay vốn, huy động vốn, nhận góp vốn, liên doanh, liên kết) nhưng sau đó lại rơi vào tình trạng khó khăn thì xử lý tài sản công này như thế nào cũng là thách thức trong thực tiễn.

Dự thảo luật quy định rõ hơn các yêu cầu bắt buộc khi khai thác, sử dụng tài sản công vào mục đích kinh doanh dịch vụ, cho thuê, liên doanh, liên kết; đồng thời bổ sung bốn yêu cầu mới, gồm: được cấp có thẩm quyền quy định tại luật này cho phép; không làm mất quyền sở hữu về tài sản của Nhà nước; tính đủ khấu hao tài sản cố định và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với Nhà nước. Việc tính đủ khấu hao tài sản cố định sẽ làm giá dịch vụ công trong các đơn vị sự nghiệp tăng lên đáng kể. Đây cũng là vấn đề cần tính tới để đảm bảo an sinh xã hội và bảo vệ người yếu thế.

Cuối cùng, dự thảo luật chưa có những quy định cụ thể về chế tài khi thực hiện trong khi lại đặt ra rất nhiều yêu cầu. Điều này khiến cho việc triển khai luật trên thực tế dễ rơi vào tình trạng hình thức.

Tóm lại, dù có rất nhiều điểm tích cực, song dường như dự thảo Luật Quản lý, sử dụng tài sản công đã có tham vọng quá lớn khi muốn quản lý mọi tài sản thuộc về Nhà nước theo nghĩa rộng. Điều này sẽ đặt ra nhiều thách thức không nhỏ cho cơ quan hành pháp khi phải triển khai luật vào thực tiễn.

QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƯỚC: THỬ BÀN MỘT CÁCH TIẾP CẬN MỚI

MỸ LỆ/ TBKTSG 19-6-2017

Luật sư Nguyễn Tiến Lập

(TBKTSG) – LTS: Ngày 29-5-2017, Quốc hội đã thảo luận về dự thảo Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước (sửa đổi) với nhiều ý kiến khác nhau. Theo kế hoạch, ngày 21-6-2017, Quốc hội sẽ biểu quyết thông qua luật này. Cuộc trao đổi với luật sư Nguyễn Tiến Lập(*) cho thấy một cách tiếp cận khác về vấn đề quản lý, sử dụng tài sản nhà nước hiện nay, TBKTSG xin giới thiệu với bạn đọc.

TBKTSG: Vấn đề nổi cộm trong việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước (tài sản công) là sự thất thoát, lãng phí. Theo ông, chúng ta nên nhìn nhận căn nguyên của việc này như thế nào, để từ đó mới có biện pháp giải quyết từ gốc?

– Luật sư Nguyễn Tiến Lập: Có thể nói đất nước đang có nhiều vấn đề “nổi cộm” mà “thất thoát, lãng phí” chỉ là một. Nhìn vào căn nguyên, trước hết là căn bệnh về đạo đức và thứ hai là căn bệnh của cơ chế. Ở nhiều nước như chúng ta biết, ai đó làm thất thoát hay lãng phí bất cứ tài sản gì, chưa nói là tài sản công, thì trước hết bị xã hội lên án về đạo đức. Ở nước ta, nạn lãng phí thất thoát tài sản nhà nước bắt đầu từ cơ chế lãnh đạo, quản trị.

Về học thuật, người ta gọi đó là cơ chế tập thể và đồng thuận đa số. Mặt phải của cơ chế này là tạo được sự ủng hộ chung cho mọi quyết sách, nhưng mặt trái của nó là không có khả năng quy trách nhiệm cho ai cả, lâu dần dẫn đến vô trách nhiệm trên phạm vi đại trà. Một cá nhân có đạo đức sẽ biết giữ gìn và tiết kiệm tài sản công, bởi đó là tôn trọng công lao, sức lực của mọi người khác. Nhưng trong khi tôi làm điều đó mà những người khác cứ phá tán và lại không bị sao cả, thì tôi có giữ gìn và tiết kiệm mãi được không?

Do đó, một khi nhìn nhận nghiêm túc rằng nếu cứ “thất thoát và lãng phí” mãi như thế này thì đất nước ta sẽ không bao giờ giàu có lên được thì theo tôi phải xử lý cả hai vấn đề: tiếp tục giáo dục về đạo đức và thay đổi cơ chế. Nếu chỉ thực hiện một trong hai việc đó, hay tiến hành không đồng thời và đồng bộ thì các căn bệnh và vấn nạn nói trên sẽ không bao giờ chấm dứt được.

TBKTSG: Dưới góc nhìn trên, ông bình luận như thế nào về những sửa đổi thể hiện trong dự thảo Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước (sửa đổi) hiện nay?

– Nhìn vào các nỗ lực của Quốc hội trong việc sửa đổi, ban hành luật để xử lý nạn thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước thì ta thấy sự bức xúc lớn từ các đại biểu Quốc hội. Tuy nhiên, câu hỏi là sửa đổi và ban hành luật hay sử dụng biện pháp lập pháp nói chung có giải quyết được vấn đề không?

Trước hết là tham vọng và kỳ vọng quá lớn với việc mở rộng phạm vi điều chỉnh của Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008, từ quản lý trụ sở, trang thiết bị và phương tiện của các cơ quan, tổ chức nhà nước đến toàn bộ các tài sản thuộc sở hữu toàn dân, bao gồm cả công trình kết cấu hạ tầng và tài nguyên, đất đai. Cá nhân tôi rất nghi ngờ về cách tiếp cận mới này, bởi nó thiếu sự phân định đối tượng, mục tiêu và phương thức quản lý một cách rành mạch.

Ngoài ra, với việc luật trước đây có đối tượng tài sản hẹp và rõ hơn mà còn chưa quản lý hiệu quả thì nay mở rộng ra, đồng nghĩa với tăng tính phức tạp lên, thì liệu có cách nào để bảo đảm tính thực thi?

Về nguyên lý, công cụ luật pháp luôn luôn có giới hạn của nó, đặc biệt trong điều kiện của nước ta, khi cả kỷ cương và văn hóa tôn trọng và tuân thủ pháp luật đã cơ bản bị phá vỡ. Chưa nói tới một thực tế là nhiều năm trước đây, khi không có một đạo luật riêng về quản lý, sử dụng tài sản công mà chỉ có các văn bản dưới luật thì tình trạng thất thoát, lãng phí vẫn không nghiêm trọng hơn so với thời gian gần đây, kể từ khi luật năm 2008 được ban hành. Bên cạnh đó, về phương diện kỹ thuật, đọc dự thảo luật lần này, chúng ta thấy bóng dáng của rất nhiều luật chuyên ngành khác, vốn đã và đang được áp dụng cho các cơ chế quản lý về tài sản đặc thù và khác nhau như Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh, Luật Đầu tư công… Điều này e rằng sẽ dẫn đến một hệ quả khó tránh là luật mới này sẽ trở thành một “luật ống” và “luật khung”, như Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An ngày trước đã cảnh báo, và như vậy khó đi vào cuộc sống.

Từ góc độ người dân đóng thuế, tôi tin rằng điều người dân quan tâm nhất hiện nay không phải là các tài sản công được quản lý thế nào mà làm sao giảm được tỷ lệ chi ngân sách quá lớn tới mức phi lý để nuôi bộ máy công bộc của mình, thay vì chi cho phát triển quốc kế dân sinh vì lợi ích của chính họ.

Xin lưu ý rằng để soạn thảo, ban hành một đạo luật có thể chỉ mất thời gian tính bằng tháng nhưng để tổ chức thực thi được nó thì phải cần tới nhiều năm. Do đó, cách tiếp cận của việc xây dựng luật mới với phạm vi quá rộng và phức tạp như vậy, giống như việc phá bỏ căn nhà cũ để xây lại, sẽ có nguy cơ gây thất thoát, lãng phí hơn nữa đối với các tài sản thuộc sở hữu nhà nước, vốn còn lại đến nay không nhiều.

TBKTSG: So với trước đây, dự thảo luật có điểm mới là cho phép khai thác nguồn lực sẵn có từ tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập gắn với việc huy động các nguồn lực của xã hội để cùng với Nhà nước đầu tư phát triển, khai thác nguồn lực tài sản công. Quá trình này đặt ra yêu cầu quản lý rất mới, với nhiều thách thức nếu nhìn lại những vấn đề tiêu cực phát sinh trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước hiện nay. Ông hình dung việc quản lý quá trình này sẽ như thế nào?

– Về thực chất, các giải pháp nói trên trong dự thảo luật là tạo ra cơ sở pháp lý cho đồng quản lý, đồng sở hữu hay nói một cách khác là tình trạng hỗn hợp trong cả sở hữu và quản lý các tài sản công, đặc biệt là các tài sản hữu hình như trụ sở và phương tiện phục vụ hoạt động quản lý nhà nước và các công trình kết cấu hạ tầng. Trong phạm vi nhất định, điều này là hợp thức hóa hiện trạng trong một số lĩnh vực và ở một số địa phương hay cơ quan, tổ chức đã triển khai.

Tuy nhiên, nếu đi theo xu hướng này, các cơ quan nhà nước cần lường trước các thách thức không nhỏ, xét cả về phương diện quản lý tài sản cho mục tiêu bảo đảm tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình để chống thất thoát, lãng phí, cũng như các rủi ro tiềm tàng về pháp lý. Đối với các đối tượng tài sản công cụ thể, một khi có sự tham gia của sở hữu tư nhân thì một khung pháp luật khác sẽ được áp dụng, thay cho các cơ chế quản lý hành chính, và e rằng mức độ tranh chấp, khiếu kiện liên quan đến quyền quản lý, sở hữu và hưởng lợi có thể sẽ tăng lên. Do đó, cần hỏi là trong bối cảnh năng lực quản trị công của bộ máy nhà nước đang yếu kém như hiện nay thì về phương diện lập chính sách, có nên mở ra hướng đi này trong luật mới hay không?

TBKTSG: Vậy, từ góc độ nghiên cứu về pháp luật và thể chế, ông đưa ra đề xuất chính sách gì để cải thiện tình trạng quản lý và sử dụng tài sản nhà nước (tài sản công) hiện nay nhằm chống thất thoát, lãng phí? Ví như người dân là chủ thì phải ứng xử với bộ máy công bộc là nhà nước trong khía cạnh này như thế nào?

– Quan điểm của tôi khác với cách tiếp cận của dự thảo luật. Trước hết cần phân biệt rành mạch giữa tài sản công (tức mọi tài sản của quốc gia do nhà nước tức cơ quan chính quyền các cấp làm đại diện quản lý) và các tài sản vật chất cụ thể của các cơ quan, tổ chức của bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị có nguồn gốc ngân sách nhà nước và thuộc sở hữu của các cơ quan, tổ chức này.

Loại tài sản thứ nhất đã và đang được quản lý theo các luật chuyên ngành như đã nói ở trên, bởi nó gắn với các cơ chế bảo vệ đặc thù. Loại tài sản thứ hai cần được coi là một phần của tổng chi phí ngân sách để tài trợ cho chính bộ máy nhà nước. Mức chi phí này cần được khống chế theo tỷ lệ phần trăm nhất định trên GDP hoặc tổng ngân sách và trong phạm vi đó, các cơ quan, tổ chức nhà nước được toàn quyền quyết định phương án sử dụng nguồn lực được giao để bảo đảm thực thi chức năng và nhiệm vụ của mình.
Với cách tiếp cận như thế, tại sao không thể để các cơ quan, tổ chức nhà nước đi thuê trụ sở hoạt động thay vì cứ phải tự đầu tư, xây dựng, sở hữu và quản lý? Từ góc độ người dân đóng thuế, tôi tin rằng điều người dân quan tâm nhất hiện nay không phải là các tài sản công được quản lý thế nào mà làm sao giảm được tỷ lệ chi ngân sách quá lớn tới mức phi lý để nuôi bộ máy công bộc của mình, thay vì chi cho phát triển quốc kế dân sinh vì lợi ích của chính họ.

(*) Văn phòng Luật sư NHQuang và Cộng sự, trọng tài viên VIAC

QUẢN LÝ TÀI SẢN NHÀ NƯỚC: TIẾP TỤC NỬA VỜI TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP

LAN NHI/TBKTSG 19-6-2017

Chỉ tính riêng trong phạm vi quản lý của Bộ LĐTB&XH, cả nước hiện có gần 2.000 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trong đó 1.337 cơ sở là công lập, với gần 91.000 người làm việc tại các cơ sở này, trong đó gần 72.000 người (78%) thuộc biên chế. Ảnh: MAI LƯƠNG

(TBKTSG) – Đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL) trên toàn quốc hầu hết sống bám vào bầu sữa ngân sách, hầu hết không tự chủ được hoàn toàn hoặc tự chủ theo kiểu nửa vời. Dự thảo Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước (sửa đổi), có tên mới là Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, đang được lấy ý kiến tại Quốc hội, có một chương quy định riêng về chế độ quản lý, sử dụng tài sản công tại các đơn vị kiểu này nhưng vẫn để ngỏ nhiều cánh cửa cho ĐVSNCL tiếp tục bám vào Nhà nước.

Thúc giục đổi mới nhưng thực trạng không khác gì thời bao cấp

Để chuẩn bị cho Đề án đổi mới cơ chế quản lý, cơ chế tài chính và tổ chức lại hệ thống ĐVSNCL trình Hội nghị Trung ương 6 thảo luận vào tháng 10-2017, Ban cán sự Đảng Chính phủ đã có hàng loạt cuộc làm việc với các bộ, ngành và UBND các tỉnh nhằm rà soát, kiểm tra thực trạng của các ĐVSNCL và tìm hướng nâng cao chất lượng hoạt động của các đơn vị, giảm áp lực ngân sách. Từ nhiều cuộc làm việc đã diễn ra, có thể thấy một thực trạng chung đã tồn tại nhiều năm nay là các đơn vị chủ yếu vẫn sống dựa vào tiền Nhà nước cấp, có tự chủ được tài chính một phần nhưng do chưa có sức ép thật mạnh và tâm lý ỷ lại nên ít thay đổi.

Như tại cuộc làm việc của Phó thủ tướng Vương Đình Huệ với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (LĐTB&XH) tuần trước, ông Huệ đề nghị bộ này đánh giá thực trạng tổ chức hoạt động của các ĐVSNCL thuộc bộ, ví dụ như các trung tâm dạy nghề thuộc các hội nghề nghiệp, tổ chức chính trị-xã hội, nhất là các trung tâm dạy nghề cấp huyện (vì đây là địa chỉ gây nhiều lãng phí, xây ra để đấy, nếu còn tồn tại thì còn phải rót kinh phí). Phó thủ tướng nhận định các ĐVSNCL cơ bản không khác gì thời bao cấp, thậm chí còn phình to ra.

Chỉ tính riêng trong phạm vi quản lý của Bộ LĐTB&XH, cả nước hiện có gần 2.000 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trong đó 1.337 cơ sở là công lập, tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng. Gần 91.000 người làm việc tại các cơ sở này, trong đó gần 72.000 người (78%) thuộc biên chế. Thế nhưng, chất lượng đào tạo học viên tại các cơ sở dạy nghề lại không đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp, của xã hội.

Hà Nội đã giao quyền tự chủ tài chính cho 2.596 đơn vị từ năm 2016 song hiện chưa có đơn vị nào tự chủ được hoàn toàn (đảm bảo cả chi thường xuyên và chi đầu tư), chỉ có 70 đơn vị đảm bảo được chi thường xuyên và 1.353 đơn vị đảm bảo một phần chi thường xuyên và chi đầu tư. Nghĩa là Nhà nước đang phải nuôi gần 150.000 người tại các đơn vị này, đồng thời phải cung cấp tài sản, cơ sở làm việc và các điều kiện làm việc đi kèm do nguồn thu chỉ đáp ứng được 40% nhu cầu chi thường xuyên.

Hai ví dụ như trên cho thấy, ngay tại các thành phố lớn, các bộ ngành mà điều kiện xã hội hóa được khuyến khích cao, việc tự chủ tài chính đối với các ĐVSNCL, một yêu cầu tất yếu, đã không thể thực hiện được hoặc bản thân các ĐVSNCL không muốn thực hiện vì nhiều lý do khác nhau.

Quá trình tự chủ tài chính của các ĐVSNCL chuyển động rất chậm chạp, không đồng đều vì không có áp lực nào quá lớn buộc các đơn vị phải tiến hành nhanh hơn, mạnh hơn và triệt để hơn để cạnh tranh với các doanh nghiệp tư nhân.

Phải gỡ bỏ những quy định “chống lưng”

Để các ĐVSNCL chịu và có thể tự chủ như một doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường, không có cách nào khác hơn là phải tiến hành cổ phần hóa các đơn vị này, để chúng hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.

Xét nguyên nhân sâu xa, sự ỷ lại và nguy cơ phình to của các ĐVSNCL xuất phát từ hai chỗ dựa mà các nhà quản lý ở nhiều đơn vị dạng này không muốn từ bỏ: được quản lý, sử dụng tài sản nhà nước với cơ chế khá thoáng và được ngân sách nhà nước cấp để hoạt động, nuôi bộ máy.

Điều đó cho thấy, muốn thực sự đưa các ĐVSNCL hoạt động tự chủ, rời bầu sữa ngân sách, nhất là trong điều kiện bội chi ngân sách cao do chi thường xuyên quá lớn, chỉ còn cách đưa các đơn vị thoát ly dần hai chỗ dựa nêu trên.

Nhưng việc ban hành các văn bản, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật gần đây lại chưa phối hợp tốt với chủ trương lớn mà Đảng và Chính phủ đang hướng tới này. Trong khi muốn các ĐVSNCL tự chủ dần đến tự chủ hoàn toàn, rồi cổ phần hóa thì dự thảo Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước (sửa đổi) lại giữ lại rất nhiều chỗ dựa cho các ĐVSNCL.

Điểm mới của dự thảo luật này là đã đặt mục tiêu tính đúng, tính đủ giá trị tài sản nhà nước tại các ĐVSNCL khi các đơn vị này đưa chúng vào kinh doanh để tránh lãng phí, thất thoát và có thể xảy ra tham nhũng. Dự thảo luật yêu cầu các ĐVSNCL đủ điều kiện kinh doanh và hạch toán kế toán chuyển sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp. Song quy định này chủ yếu hướng tới các đơn vị cung cấp dịch vụ nghỉ dưỡng (nhà khách, khách sạn), vốn đang hoạt động theo cơ chế thị trường. Các đơn vị này đã thực hiện cơ chế riêng được cho là chưa hợp lý (khoán 5% thuế giá trị gia tăng trên doanh thu, 5% thuế thu nhập doanh nghiệp trên doanh thu và 30% lợi nhuận được trích về đơn vị chủ quản). Chưa có con số thống kê chính thức nào cho thấy cả nước có bao nhiêu khách sạn, nhà hàng đang được các ĐVSNCL như các hiệp hội, tổ chức công đoàn… kinh doanh hoặc liên kết với các đơn vị bên ngoài để kinh doanh theo cơ chế này.

Ngoài điểm tiến bộ ở trên, các điểm mới được đưa ra hoặc bổ sung, sửa đổi chưa giải được bài toán: việc khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công phải tuân thủ theo cơ chế thị trường, hiệu quả, công khai, minh bạch, đúng pháp luật.

Lấy ví dụ, dự thảo luật quy định tài sản được đầu tư từ ngân sách để thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao mà không sử dụng hết công suất thiết kế (trước và sau khi dự luật này có hiệu lực) thì được phép kinh doanh dịch vụ để lấy nguồn nuôi bộ máy, tiến dần tới tự chủ. Bản chất lớn nhất của quy định này vẫn là cho phép các ĐVSNCL được cho thuê nhà đất và không khó để tìm ví dụ hàng chục ngàn cơ sở ĐVSNCL trên toàn quốc như nhà xuất bản, nhà hát… sẵn sàng thu gọn trụ sở làm việc (thực chất do không dùng hết), dành các vị trí đẹp cho tư nhân kinh doanh. Thậm chí nhiều nơi cho đây là nguồn thu chính của các ĐVSNCL được nhà nước giao đất giá rẻ, cho thuê lại với giá cao.

Số tiền thu được, theo quy định hiện hành và theo quy định sửa đổi sắp tới, được dùng để chi trả các chi phí có liên quan, nộp thuế. Phần còn lại trích lập các quỹ tại đơn vị, nếu còn thì nộp ngân sách nhà nước. Nhưng thực tế, ngân sách chỉ thu được thuế. Phần chênh lệch khác rất khó quay lại ngân sách vì ĐVSNCL chủ yếu trông chờ vào nguồn này. Như vậy, mục tiêu cho khai thác tài sản công tạo điều kiện cho các đơn vị tự chủ ngày càng cao hơn hoặc chuyển đổi sang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp còn lâu mới đạt được.

Đáng chú ý là điều 53 của dự thảo luật quy định ĐVSNCL không được sử dụng tài sản để thế chấp vay vốn, huy động vốn vì tài sản này thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, nhưng lại cho phép ĐVSNCL nào trả tiền thuê đất một lần (tiền trả không có nguồn gốc từ ngân sách) được phép dùng phần đất đó để thế chấp, góp vốn. Quy định tưởng chặt chẽ (vì các nhà soạn thảo nghĩ rằng nhiều ĐVSNCL không có tiền chi thường xuyên và chi đầu tư thì lấy đâu ra tiền thuê đất trả cho thời gian dài) lại hóa ra lỏng. Bởi lẽ, nếu được sử dụng nhà, đất ở vị trí đắc địa, ĐVSNCL hoàn toàn có thể “bắt tay” với các đơn vị liên doanh, liên kết để các bên liên doanh góp vốn bằng cách hợp thức hóa việc chi trả tiền thuê đất một lần, giúp ĐVSNCL có thể dùng những tài sản ở vị trí đắc địa đó mang ra kinh doanh, thế chấp, góp vốn mà vẫn đúng quy định của pháp luật.

Vì vậy, để các ĐVSNCL chịu và có thể tự chủ như một doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường, không có cách nào khác hơn là phải tiến hành cổ phần hóa các đơn vị này, để chúng hoạt động theo Luật Doanh nghiệp như các đơn vị khác; tránh dùng tài sản nhà nước với những cơ chế đặc thù có thể phát sinh tham nhũng, lách luật.

QUAN CHỨC VỀ HƯU VÀ CHUYỆN TRẢ NHÀ CÔNG VỤ

TS NGUYỄN SĨ DŨNG/ TVN 19-6-2017

Quan chức,Nhà công vụ,Bộ trưởng Hà Hùng Cường,Dịch vụ công,Quốc hội,Hội đồng nhnhnhân dân

Chuyện quan chức về hưu vẫn giữ nhà công vụ đang được dư luận quan tâm. Ảnh minh hoạ

Ở Thụy Điển có một dinh thự dành riêng cho Thủ tướng, nhưng hầu như không một Thủ tướng nào chịu vào đó ở cả. Họ phần lớn vẫn sống trong căn hộ của mình, và nhiều người hàng ngày vẫn đến cơ quan làm việc bằng tàu điện. Ở Hà Lan, Thủ tướng thậm chí hàng ngày đi làm bằng xe đạp, không có xe dẫn đường cũng không có người bảo vệ. Chi phí cho hoạt động điều hành chính phủ ở Thụy Điển và Hà Lan nhờ đó được cắt giảm rất nhiều.

Hoạt động điều hành chính phủ, cũng như các hoạt động quản lý nhà nước khác suy cho cùng cũng chỉ là những dịch vụ công. Đây là những dịch vụ cần thiết để bảo đảm công lý, trật tự, pháp luật và thúc đẩy sự phát triển.

Tuy nhiên, đây là những dịch vụ mà giá cả của chúng chủ yếu nằm ngoài quy luật cạnh tranh của thị trường. Về bản chất, giá cả của những dịch vụ công này được quyết định bởi biên chế, tiền lương và chế độ, chính sách. Trong quá trình hội nhập quốc tế, yếu tố biên chế và yếu tố tiền lương đang ngày càng trở nên minh bạch hơn.

Và chúng ta đã có cơ hội nhận biết không ít những bất hợp lý rất lớn ở đây. Ví dụ, như số lượng công chức của Việt Nam ta là quá lớn so với nhiều nước trên thế giới hay lương trả cho các công chức, đặc biệt là các công chức mới được tuyển dụng là quá thấp. Riêng yếu tố chế độ, chính sách thì lại đang ít minh bạch hơn rất nhiều.

Nhà công vụ là một phần cấu thành thành của yếu tố chế độ, chính sách. Nhà công vụ càng nhiều thì tất nhiên giá cả của các dịch vụ công nói trên càng đắt đỏ.

Điều đáng nói hơn, nếu quan chức đã về hưu vẫn còn tiếp tục được ở nhà công vụ, thì những người dân vẫn đang phải tiếp tục chi trả cho những người chẳng còn cung cấp dịch vụ gì cho mình nữa cả. Đây là một thứ chi phí hết sức bất hợp lý mà thị trường sẽ không bao giờ chấp nhận, thế nhưng, rất tiếc, trong lĩnh vực công thì lại rất dễ được cho qua. Lý do, thì như đã nói ở trên, không hề có cạnh tranh trong lĩnh vực công.

Thực ra, không có cạnh tranh không phải là khiếm khuyết duy nhất. Một khiếm khuyết rất đáng lưu tâm khác là: khách hàng không có khả năng mặc cả. Khách hàng của các dịch vụ công tất nhiên là nhân dân. Và nhân dân thường không có cách thức nào để thương lượng về mức chi phí thế nào là hợp lý cho các dịch vụ công.

Để bảo đảm một sự công bằng nhất định ở đây, các chế độ, chính sách cho các quan chức nên được đưa ra thảo luận Quốc hội và Hội đồng nhân dân và phải được Quốc hội và Hội đồng nhân dân phê chuẩn. Thôi thì khách hàng không có điều kiện mặc cả, thì ít nhất những người đại diện cho khách hàng phải làm được điều này.

Cuối cùng, nếu chế độ, chính sách là những chi phí góp phần nâng cao chất lượng của các dịch vụ công, thì có lẽ chi trả thêm cũng là hợp lý. Tuy nhiên, các quan chức cũng cần tìm cách chứng minh cho công chúng thấy rõ đó là những chi phí thật sự hợp lý hay nói như trong dân gian là hoàn toàn “đáng đồng tiền, bát gạo”.

TS Nguyễn Sĩ Dũng

Sáng 17/6, trao đổi với VietNamNet, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường cho biết, thứ 2 tới (19/6) ông sẽ làm thủ tục trả nhà công vụ.

Như VietNamNet đã đưa tin, mới đây Bộ Xây dựng đã có văn bản thông báo gửi ông Hà Hùng Cường – nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc bàn giao lại căn hộ nhà ở công vụ cho đơn vị quản lý vận hành nhà theo quy định.

Theo đó, nguyên Bộ trưởng Hà Hùng Cường hiện đã được Nhà nước cho nghỉ hưu theo chế độ nên đã hết tiêu chuẩn được thuê nhà ở công vụ, cụ thể là căn hộ tại nhà chung cư CT1-CT2 khu đô thị Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội.

 

 

ĐIỂM BÁO MẠNG

XỬ LÝ NỢ XẤU CŨNG GIỐNG NHƯ GIẢI QUYẾT TAI NẠN GIAO THÔNG

MAI ANH/ GDVN 18-6-2017

Theo Tiến sĩ Trần Du Lịch cần chia ra nợ xấu tự nhiên và nợ xấu do những người làm sai vi phạm pháp luật gây ra để xử lý trách nhiệm – ảnh Ngọc Quang.

Dự thảo Nghị quyết về xử lý nợ xấu tổ chức tín dụng thu hút sự quan tâm của giới chuyên gia cũng như toàn xã hội bởi tính cấp bách và thực tế bức tranh nợ xấu hiện nay.

Theo Ngân hàng Nhà nước, tính đến thời điểm tháng 1/2017, toàn hệ thống đã xử lý được 616,7 nghìn tỷ đồng nợ xấu, trong đó nợ xấu do các tổ chức tín dụng tự xử lý là 349,7 nghìn tỷ đồng (chiếm 56,7% tổng số nợ xấu được xử lý), còn lại là bán nợ cho các tổ chức, cá nhân khác (chiếm 43,3%).

Tuy nhiên trong tổng số nợ xấu được xử lý, thì hình thức bán, phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ ở mức khá thấp 17,1 nghìn tỷ đồng (chiếm 2,8% tổng nợ xấu được xử lý).

Bên cạnh giải quyết nút thắt về thanh lý tài sản bảo đảm, tài sản thế chấp vấn đề xử lý trách nhiệm tổ chức, cá nhân được dự thảo nghị quyết đặt ra.

Chia nợ xấu để xử lý

Góp ý về Dự thảo Nghị quyết về xử lý nợ xấu tổ chức tín dụng Đại biểu Trần Thị Quốc Khánh đoàn Thành phố Hà Nội đề nghị Quốc hội yêu cầu ngân hàng sớm có báo chi tiết cụ thể tên của các tổ chức, cá nhân nào đang gây ra nợ xấu, trên cơ sở đó Quốc hội sẽ xem xét, nếu tổ chức, cá nhân nào thực sự đang gây ra nợ xấu do thiên tai, bão lũ.

Theo bà Khánh với tổ chức, cá nhân nào gây ra những nợ xấu liên quan đến các vụ án tham nhũng, chúng tôi đề nghị “truy tận gốc, trốc tận ngọn”, không cho phép nhập nhằng nợ xấu.

“Chỉ có như thế chúng ta mới bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Những ai gây ra nguy hiểm cho xã hội, làm thất thoát tài sản của Nhà nước, phải đối mặt với Bộ luật hình sự, không thể đưa vào vấn đề giải quyết, xử lý nợ xấu như thế này được”, bà Khánh nhấn mạnh.

Cùng chung quan điểm, Đại biểu Quốc hội Đinh Duy Vượt (đoàn Gia Lai) cho rằng, nợ xấu của các tổ chức tín dụng vẫn là “cục máu đông” gây ách tắc nền kinh tế, chậm bị xử lý ảnh hưởng đến nguồn vốn, doanh nghiệp khó vay, khó trả lãi suất ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng và cơ hội phát triển của các doanh nghiệp.

Theo Đại biểu Vượt cần làm rõ trách nhiệm chủ quan trong từng giai đoạn của từng cá nhân đặc biệt lãnh đạo ngân hàng.

Nếu không làm rõ trách nhiệm từng giai đoạn thì vô hình trung đã tạo điều kiện để phủi, đùn đẩy trách nhiệm và miễn trừ trách nhiệm, thậm chí bỏ lọt tội phạm trong lĩnh vực này, tạo ra tiền đề xấu.

Đồng tình quan điểm xử lý trách nhiệm tổ chức, cá nhân gây ra nợ xấu được dự thảo nghị quyết nêu ra cũng như các ý kiến của đại biểu Quốc hội, trao đổi với phóng viên Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Trần Du Lịch Đại biểu Quốc hội khóa XIII cho biết: “Trước hết chúng ta cần chia ra nợ xấu tự nhiên và nợ xấu do những người làm sai vi phạm pháp luật gây ra để xử lý trách nhiệm”.

Tiến sĩ Trần Du Lịch phân tích, nợ xấu là vấn đề hết sức bình thường trong hoạt động ngân hàng, doanh nghiệp vay để kinh doanh nhưng thua lỗ phá sản khoản nợ đó trở thành nợ xấu.

“Có thể nói nợ xấu là “bạn đồng hành” của các tổ chức tín dụng. Chính vì vậy trong luật quy định ngân hàng phải thiết lập quỹ dự phòng để xử lý nợ xấu. Nợ xấu xảy sinh trong hoạt động ngân hàng là vấn đề bình thường tuy nhiên nợ xấu của ta là bất thường, Dự thảo Nghị quyết về xử lý nợ xấu tổ chức tín dụng đưa ra để giải quyết bất thường đó”, ông Lịch nói.

Theo ông Trần Du Lịch, Dự thảo Nghị quyết về xử lý nợ xấu tổ chức tín dụng chủ yếu giải quyết tắc nghẽn trong vấn đề quyền của chủ nợ trong xử lý tài sản thế chấp, tài sản bảo đảm.

Khi giải quyết không loại trừ trách nhiệm người làm sai gây ra nợ xấu.

Ví von nợ xấu của hệ thống ngân hàng hiện nay như tai nạn trên đường gây ùn tắc giao thông ông Trần Du Lịch cho biết, khi xe va chạm xảy ra tai nạn, công việc đầu tiên người ta xác định vị trí xe tai nạn sau đó vận chuyển đưa các xe tai nạn khỏi hiện trường đảm bảo lưu thông. Sau đó mới xem xét ai gây ra cũng như cách xử lý.

“Giải quyết nợ xấu cũng vậy, quan trọng nhất hiện nay phải khai thông tài sản sản bảo đảm, tài sản thế chấp để chuyển thành vốn cho nền kinh tế, còn việc xem xét quá trình ai cho vay, ai gây ra nợ xấu thì xử lý theo hai hướng:

Nếu doanh nghiệp vay vốn nhưng kinh doanh thua lỗ phá sản không trả được nợ bán hết tài sản không thu hồi được thì đó là nợ xấu tự nhiên sẽ tùy từng trường hợp cụ thể để xử lý.

Ngược lại nếu cán bộ tín dụng cấu kết để gây nợ xấu thì xử lý hình sự thiếu trách nhiệm. Xử lý tổ chức, cá nhân gây ra nợ xấu là cần thiết nhưng không phải vì tập chung vào đó mà làm chậm trình xử lý nợ xấu”, ông Lịch cho biết .

Vai trò lớn của ngân hàng

Cũng liên quan đến vấn đề xử lý trách nhiệm tổ chức, cá nhân gây ra nợ xấu được nêu ra trong dự thảo nghị quyết xử lý nợ xấu, trao đổi với phóng viên Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam Luật sư Trần Minh Hải, giảng viên Bộ môn pháp luật tài chính ngân hàng (Học viện Tư pháp) cho rằng, việc xử lý trách nhiệm tổ chức, cá nhân gây ra nợ xấu là cần thiết nhưng không không dễ nêu tên vì việc phân định trách nhiệm trong lĩnh vực ngân hàng không rõ ràng.

“Thực tế khoản nợ xấu xảy ra chưa chắc người ký tá hợp đồng ấy là người gây ra mà đôi khi lại là người khác. Ví dụ một khoản nợ quá hạn do nhân viên A cho vay do thẩm định sơ sài dẫn đến nguy cơ nợ xấu. Sau đó nhân viên A chuyển công tác, nhân viên B được cử thay thế theo dõi hợp đồng.

Lúc này để tránh khối lượng nợ xấu ngân hàng cho người vay được đảo nợ. Nhân viên B được cử thay thế để theo dõi hợp đồng thực hiện thủ tục đảo nợ, nếu khoản nợ đó vẫn không trả được thì nhân viên B người theo dõi hợp đồng đảo nợ sau này phải chịu trách nhiệm.

Rõ ràng nguyên nhân sâu sa gây ra nợ xấu từ khoản nợ đầu tiên nhưng xử lý thì lại chỉ xử lý nhân viên B vì bản chất đảo nợ là cho vay mới. Nói như vậy để thấy xử lý trách nhiệm cá nhân rất khó”, Luật sư Hải cho biết.

Luật sư Trần Minh Hải, giảng viên Bộ môn pháp luật tài chính ngân hàng (Học viện Tư pháp) – ảnh Hoàng Lực

Theo Luật sư Hải trong xử lý nợ xấu trước hết cần để ngân hàng chủ động làm rõ trách nhiệm giữa các pháp nhân và các cá nhân trong ngân hàng. Nội bộ ngân hàng phải xử lý trước, nếu việc xử lý không có sự thống nhất thì mới cần cơ quan quản lý nhà nước vào cuộc.

“Nếu xảy ra nợ xấu mà ngay lập tức các cơ quan quản lý nhà nước vào cuộc sẽ gây rối tung đôi khi không giải quyết được nợ xấu. Đồng ý rằng người gây ra nợ xấu phải bị xử lý nhưng mục tiêu cuối cùng phải thu hồi, xử lý tài sản bảo đảm để có vốn cho nền kinh tế”, Luật sư Hải cho biết.

Vấn đề ông Hải tâm đắc nhất trong Dự thảo Nghị quyết về xử lý nợ xấu tổ chức tín dụng đang được Quốc hội thảo luận chính là việc trả lại quyền xử lý tài sản bảo đảm, tài sản thế chấp cho tổ chức tín dụng.

Luật sư Hải cho rằng, từ trước đến nay quan điểm khi xây dựng luật vẫn nghiêng và bảo vệ quyền lợi người đi vay. Quyền lợi đó thể hiện rất rõ trên tài sản bảo đảm, tài sản thế chấp. Về nguyên tắc khi anh mang tài sản đi thế chấp thì quyền sở hữu đã mất đi.

Trong khi đó anh vay tiền nhưng không trả nợ đúng hạn đã là vi phạm nghĩa vụ trả nợ lúc đó tài sản thế chấp phát huy tác dụng. Tài sản thế chấp để khắc phục sai phạm tín dụng vì vậy tổ chức tín dụng cần được quyền chủ động thu hồi và xử lý.

Mai Anh

ĐIỂM BÁO MẠNG

VỀ THỎA THUẬN ĐỒNG TÂM

LÊ TUẤN HUY/ BVN 17-6-2017

clip_image002

Những điều đạt được giữa Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung với người dân Đồng Tâm ngày 24/02/17 có thể gọi là thỏa thuận Đồng Tâm.

Đó không phải là câu chữ bột phát và thiếu ý thức, không phải hành động đơn phương và nhất thời, mà là một giao ước ràng buộc lẫn nhau. Về phía người dân, là giao trả người và trở về đời sống dân sự. Về phía ông Chung, là những gì đã viết trong Bản cam kết.

1.

Có ý kiến cho rằng viết cam kết này, ông Chung không có cơ sở pháp lý và đã xâm phạm đến tư pháp. Theo luật định và thực tế thì sao?

Khoản 3 Điều 22 Luật Tổ chức Chính quyền Địa phương quy định Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh có quyền: Lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện các nhiệm vụ thi hành Hiến pháp, pháp luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh; thực hiện các nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh, phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác, phòng, chống quan liêu, tham nhũng (…).

Khoản 2 Điều 20, cũng của Luật trên, quy định: Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban Nhân dân tỉnh gồm có các sở và cơ quan tương đương sở.

Cơ quan công an cấp tỉnh hiện nay không còn dùng chữ “Sở” (mà chỉ vỏn vẹn chữ “Công an”), nhưng theo phân cấp tại Khoản 1 Điều 16 Luật Công an Nhân dân, Công an tỉnh là một cơ quan tương đương sở. Và do đó, Công an tỉnh phải chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Chủ tịch tỉnh khi ông này thực hiện nhiệm vụ về an ninh, trật tự, an toàn xã hội…

Khoản 1 Điều 153 Bộ luật Tố tụng Hình sự trao cho cơ quan điều tra thẩm quyền khởi tố vụ án. Ngoài việc tự mình ghi nhận dấu hiệu tội phạm và quyết định khởi tố, cơ quan này còn khởi tố dựa trên những căn cứ khác, quy định tại Điều 143 và Điều 155 của cùng Bộ luật. Theo đó, là các trường hợp sau: tố giác, có tin báo, tin từ truyền thông, kiến nghị, tự thú, người bị hại yêu cầu…

Đối chiếu qua trường hợp Đồng Tâm, giả như, cho dù cơ quan điều tra không ra quyết định khởi tố – như cam kết không truy cứu trách nhiệm hình sự của ông Chung – thì, nếu bất bình với cam kết của ông Chủ tịch, cá nhân nào đó vẫn có quyền tố giác, cơ quan nhà nước nào đó vẫn có quyền kiến nghị, người nào đó trong số 38 người bị giữ vẫn có quyền yêu cầu…, để công an Hà Nội phải khởi tố. Tuy nhiên, với thẩm quyền của mình (như đã nêu), Chủ tịch Chung hoàn toàn có thể chỉ đạo không khởi tố.

Điều đó có phải là can thiệp của hành pháp vào công việc của tư pháp? Dù có khác biệt trong vận hành tư pháp giữa Việt Nam và chuẩn mực tiến bộ của thế giới, thì bộ máy an ninh công quyền (tức “công an”) ở đâu cũng thuộc về hành pháp. Nên, nếu Nguyễn Đức Chung có chỉ đạo không khởi tố, thì đó vẫn nằm trong thẩm quyền hành pháp của ông. Và công cụ để kiểm soát và điều chỉnh sự lạm dụng thẩm quyền này – nếu có – là hội đồng nhân dân cùng cấp, hành pháp cấp trên, và công luận.

Cũng có ý cho rằng Bản cam kết do ông Chung viết tay và lăn tay đó không có con dấu, nên không có hiệu lực. Thế nhưng, hiệu lực là ở đâu nếu trước hết không phải là ở chính tư cách Chủ tịch Thành phố Hà Nội của ông?

Chỉ với buổi làm việc với tư cách ấy thôi, đã cho ông thẩm quyền viết Bản cam kết.

Nó sẽ đương nhiên vô hiệu nếu ông Chung đến Đồng Tâm chỉ với tư cách một người bình thường. Nhưng với tư cách ấy, trong trường hợp ấy, thì dân Đồng Tâm cũng đã đương nhiên không cần cái gọi buổi đối thoại ấy, không cần phải tiếp cái ông có tên Nguyễn Đức Chung đồng dân vô quyền ấy.

Cùng với tư cách và thẩm quyền như vậy, với sự chứng kiến và xác thực bằng chữ ký của hai đại biểu quốc hội, trước sự chứng kiến và xác thực thực tế của người dân Đồng Tâm, Bản cam kết của Chủ tịch Chung không những có giá trị pháp lý mà còn mang giá trị đạo lýgiá trị chính trị.

Muốn hủy bỏ nó, nếu trên tinh thần của công lý và công minh, của sự chính trực và chính danh, không thể đơn giản là nại ra con dấu, mà phải xem xét đến sự tồn tại của chính chức vị của ông Chủ tịch, cũng như cần đến những định chế và tiến trình chính trị lẫn pháp lý khác (chẳng hạn, tòa án hiến pháp, ủy ban điều tra độc lập của quốc hội… mà hiện không có). Không thể không ghi nhận sự vận hành theo cơ chế con dấu ở Việt Nam, nhưng cần thấy rằng, khi đi ngược lại với chữ “nếu” vừa nêu, phủ nhận giá trị pháp lý của nó theo kiểu giũ áo phủi bỏ, thì dứt khoát cũng là đã chà đạp lên giá trị đạo lý và hủy diệt giá trị chính trị, mà hậu quả chắc chắn không thể nhỏ.

2.

Tiến trình của sự việc và thời điểm của quyết định khởi tố ngày 13/06/17 khiến cho khó mà không có nghi vấn, rằng đấy chỉ là việc bình thường của công an, hay có những toan tính khác thường? Đấy là những giả định có thể có, theo mức độ tiêu cực giảm dần:

· Thỏa thuận Đồng Tâm chỉ là biện pháp tình thế và giả tạo ngay từ đầu, chính quyền vẫn quyết thắng dân cho bằng được.

· Các thế lực tương nghịch trong Đảng Cộng sản Việt Nam chống nhau hoặc chống lại hướng đối thoại vừa manh nha.

· Trước nguy cơ mất sân golf Tân Sơn Nhất, nhóm lợi ích có liên quan dùng Đồng Tâm để đổi chác, hoặc ít ra là “đáp lễ”.

· Cá nhân Nguyễn Đức Chung bị chống đối, bị chơi xỏ.

· Khởi tố như một đòn gió, nhằm thỏa mãn nhóm người bảo thủ muốn giữ “kỷ cương phép nước”, hoặc để đáp ứng cho thế lực công an không muốn bị mất mặt.

· Khởi tố như một đòn gió, để một vài nhân vật sẽ ghi điểm khi thay đổi được tình thế.

· Khởi tố như một đòn gió, giữ cho tất cả trong thế cùng thắng.

· Khởi tố như một đòn gió, nhân đang nóng vụ sân golf Tân Sơn Nhất, tái kích hoạt công luận về dự liên quan của quân đội tại đây nói riêng, và hoạt động kinh tế của quân đội nói chung, cũng như về sở hữu đất đai.

· Và, những kết hợp của vài trường hợp trên.

Dù với bất kỳ trường hợp nào vừa nêu, nếu có bất cứ án tù nào cho người dân Đồng Tâm, thì cá nhân ông Nguyễn Đức Chung cùng toàn thể Bộ Chính trị đương nhiệm cũng sẽ gánh lấy trách nhiệm.

Thỏa thuận Đồng Tâm vẫn là một thỏa thuận lịch sử hay sẽ là một sự lật lọng lịch sử, là tùy ở các vị ấy.

Cơ may giữ lại một niềm tin mong manh cuối cùng cho sự cải tổ hòa bình, đã sơ khởi mở ra từ đối thoại Đồng Tâm, sẽ được tiếp tục hay bị kết liễu sớm, để rồi sẽ đi đến một cuộc động loạn rộng khắp trong tương lai, là tùy ở các vị ấy.

14 – 16/06/17

L.T.H.

Tác giả gửi BVN

SAO KHÔNG KHỞI TỐ VỤ BẮT GIỮ TÙY TIỆN VÀ ĐÁNH GẪY XƯƠNG HÔNG CỤ KÌNH? *

PHẠM ĐOAN TRANG/ BVN 17-6-2017

Vụ cụ Kình bị công an lừa bắt, mà còn là bắt giữ tùy tiện, và bị đánh gãy xương hông, xảy ra trước và chính nó mới là nguyên nhân dẫn đến vụ dân Đồng Tâm tạm giữ 38 cảnh sát cơ động cơ; tại sao không khởi tố trước?

Vì dân thường không bao giờ có hân hạnh được “có thông tin” như các chiến sĩ công an bám càng lãnh đạo, như các đại biểu Quốc hội và các đại nhà báo, cho nên dân thường có phỏng đoán, tâm tư, rồi thắc mắc này nọ cũng là điều dễ hiểu (và dễ cảm thông nữa, nếu các chiến sĩ, các đại biểu quốc hội và đại nhà báo đủ khoan dung, độ lượng).

Sau đây là một vài “tâm tư” như vậy về vụ Đồng Tâm:

1. Vào thời điểm tướng Chung ký và điểm chỉ vào bản cam kết với dân Đồng Tâm cũng như vào các ngày sau đó, các vị, nhất là các dân biểu và các đại nhà báo, có ý thức được rằng bản cam kết đó hoàn toàn không có giá trị pháp lý không?

2. Nếu câu trả lời là “có”, tại sao các vị không có những bài viết nói rõ điều đó ngay sau khi tướng Chung ký, để dân Đồng Tâm và mọi người dân khác khỏi hiểu lầm?

Trên thực tế, thay vì có những tác phẩm báo chí vạch rõ sự thực về tính chất pháp lý của bản cam kết giữa tướng Chung và dân Đồng Tâm, đã chỉ có những bài báo rưng rưng xúc động vì tâm và tài của tướng Chung. Hình ảnh tướng Chung đối đầu, à quên, đối thoại với dân, được báo chí mô tả thật chẳng khác gì Trương Phi trên cầu Trường Bản hay là Triệu Tử Long ôm ấu chúa A Đẩu phá vòng vây giặc.

* * *

Vậy, có lẽ đã có một trong các khả năng sau:

I. Hoặc: Các vị đã dính bẫy nghiệp vụ của công an Hà Nội, nói cụ thể hơn là đảng ủy công an TP. Hà Nội, mà người “phụ trách” là Chủ tịch Thành phố Nguyễn Đức Chung, một cán bộ an ninh lão luyện.

II. Hoặc: Các vị biết tỏng tờ giấy viết tay đó chẳng có giá trị pháp lý gì, nhưng vẫn cố tình làm báo theo hướng tung hô Chung con và khiến bà con Đồng Tâm cũng như hàng triệu người dân khác không ý thức được điều họ cần phải biết rõ. Nói cách khác, các vị đã chủ ý tham gia vào và/hoặc hưởng ứng một vụ lừa đảo có quy mô.

Hoặc là con gà, con bệnh Stockholm. Hoặc là kẻ lừa đảo. Các vị chọn mình là bên nào?

Đừng nói rằng “đây mới là khởi tố vụ án, chưa truy tố bị can nào, phải khởi tố vụ án mới điều tra được đúng, sai” nhé. Vì vụ cụ Kình bị công an lừa bắt, mà còn là bắt giữ tùy tiện, và bị đánh gãy xương hông, xảy ra trước, và chính nó mới là nguyên nhân dẫn đến vụ dân Đồng Tâm tạm giữ 38 cảnh sát cơ động cơ; tại sao không khởi tố trước?

Đừng vờ vịt như thể bọn ta đang sống trong chế độ pháp quyền nữa đi các vị; chúng mình hiểu nhau quá mà.

P.Đ.T.

Nguồn: https://www.facebook.com/pham.doan.trang/posts/10155657457988322

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Sáu 16, 2017

20170616. QUANH VỤ KHỞI TỐ ĐỒNG TÂM

ĐIỂM BÁO MẠNG

XÃ LUẬN: KHỞI TỐ VÀ LỜI KÊU GỌI THƯỢNG TÔN MỘT THỨ PHÁP LUẬT BẤT CÔNG

VI YÊN/ BVN 16-6-2017

clip_image002

Ảnh: VnExpress – Zing.

ý kiến cho rằng, lời hứa của tướng Nguyễn Đức Chung không có giá trị pháp lý, và ông cũng không có thẩm quyền trong các hoạt động điều tra để có thể quyết định không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người dân Đồng Tâm, rằng để đảm bảo tiêu chí của một nền pháp quyền, cơ quan điều tra cần phải độc lập khỏi sự chi phối của cơ quan hành pháp, và rằng hành động truy tố của CA Hà Nội lần này là đúng đắn theo các nguyên tắc pháp quyền.

Song cách lập luận như thế liệu có thực sự chính đáng? Và có nơi nào mà pháp quyền sinh ra là để bảo vệ cho chính quyền không? Hay, một cách tổng quát hơn, thế nào là một nền pháp quyền?

Thế nào là một nền pháp quyền chính đáng

Một thể chế được coi là có pháp quyền thì phải đảm bảo cả tiêu chuẩn hình thức lẫn thực chất. Xét về mặt hình thức, nhà nước và cá nhân phải tuân thủ theo các thủ tục pháp luật. Song, bản chất của nền pháp quyền chính là nhằm ngăn chặn sự tùy tiện của chính quyền, qua đó bảo vệ lợi ích của người dân. Quan trọng nhất vẫn là tiêu chuẩn về thực chất, vì rốt cuộc thì thủ tục chẳng qua chỉ để đảm bảo cho chính cái bản chất ấy được thực thi.

Một thể chế dù thực hiện khắt khe các tiêu chuẩn hình thức song không đảm bảo tiêu chuẩn thực chất, thì không nên nói rằng nó sở hữu một nền pháp quyền. Thậm chí ta có thể hiểu rằng thể chế này đang sử dụng cái mỹ từ “pháp quyền” như một đôi găng nhung để bảo vệ cho bàn tay sắt giấu bên trong nó.

Ở Việt Nam, rõ ràng toàn bộ quyền lực nằm trong tay đảng Cộng sản: Đảng có địa vị tối cao, đứng trên luật, và sử dụng pháp luật để cai trị. Các cơ quan khác nhau – như hành pháp, lập pháp, tư pháp – chỉ là các công cụ được Đảng thiết lập nhằm phục vụ các chức năng mà Đảng giao cho. Một nền chính trị như vậy, dù có đảm bảo tiêu chuẩn hình thức đến mấy, thì vẫn không thể được coi là một nền pháp quyền.

Tại sao có thể tuyên bố chắc nịch như vậy? Bởi cái tính hình thức đó được sinh ra nhằm phục vụ cho lợi ích của Đảng, chứ không phải là để kiểm soát quyền lực của giới cai trị và bảo vệ các quyền và lợi ích của người dân. Nó hoàn toàn đi ngược lại với tinh thần pháp quyền rằng, một nhà nước pháp quyền phải đảm bảo người dân có khả năng chống lại sự tuỳ tiện của chính quyền.

clip_image004

Đảng Cộng sản Việt Nam hiện diện trong mọi ngõ ngách của đời sống chính trị và pháp lý Việt Nam. Ảnh: Viện Kiểm sát Bắc Giang.

Đồng Tâm: Bất công chồng lên bất công

Quay lại trường hợp ở Đồng Tâm, chúng ta có thể thấy rằng người dân có dấu hiệu vi phạm pháp luật khi bắt giữ một số người của chính quyền khi phải tự bảo vệ chính họ trước bạo quyền. Và cũng có thể cho là ông Chung đã lạm quyền khi cam kết một điều không thuộc thẩm quyền của ông. Như vậy, giao dịch giữa ông Chung và người dân đã vi phạm tiêu chuẩn về hình thức. Vậy thì để đảm bảo thủ tục pháp quyền, ông Chung phải bị luận tội lạm quyền, còn người dân phải bị khởi tố.

Song câu hỏi đặt ra là: Liệu tuân theo thủ tục pháp quyền như thế có thực sự đảm bảo tính công bằng hay không? Và có đáng để chúng ta đấu tranh cho một thứ pháp quyền thuần túy hình thức như thế?

Thứ nhất, như lập luận ở trên, chúng ta đã thấy rằng Việt Nam không sở hữu một nền pháp quyền chính đáng. Người dân luôn ở thế yếu hơn và không có khả năng chống lại sự tùy tiện của các cơ quan công quyền: họ còn biết trông cậy vào công cụ nào để bảo vệ chính mình khi mà kẻ đẩy họ vào đường cùng lại là những người có thừa quyền năng để đem họ ra truy tố?

Thứ hai, quan trọng hơn, chính là về những nguồn cơn đã dẫn đến hành vi của người dân Đồng Tâm. Đó là quá trình đối xử bất công kéo dài xâm phạm các lợi ích của họ, là những hành vi bạo lực đối với họ khiến họ phải phản kháng. Rõ ràng ở đây họ là người bị hại trước nhất, không một thứ “thủ tục pháp quyền” nào được thực thi ngay từ đầu, và rồi họ phải phản kháng để tự bảo vệ mình, vì vậy mà họ bị coi là có tội. Điều này là hoàn toàn bất công. Và một nền pháp quyền giả tạo như vậy hoàn toàn không đáng cho chúng ta theo đuổi.

clip_image006

Nên hay không nên ủng hộ thực hiện lời hứa của ông Chung? Ảnh: Zing.

Cần áp dụng tinh thần pháp quyền thực chất

Để tạo dựng một nền pháp quyền chính đáng, chúng ta nên ủng hộ thực thi bản cam kết của ông Chung. Có như vậy mới đảm bảo được tiêu chuẩn thực chất của pháp quyền.

Khi mà quyền lợi của người dân bị xâm phạm, chính quyền giải quyết không công bằng, thậm chí còn sử dụng đến bạo lực, thì người dân có quyền nổi dậy để bảo vệ chính họ. Trong trường hợp này, chính quyền đã xâm phạm tới quyền lợi của người dân trước tiên, do đó chính quyền mới là phía sai trái, mới đáng bị kết tội.

Việc ông Chung đại diện cho chính quyền đưa ra cam kết không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người dân cho thấy rằng quyền lực của chính quyền đã bị giới hạn khi gặp phải sức phản kháng của người dân. Thêm vào đó, các quyền lợi của người dân được bảo toàn. Đó mới chính là tinh thần của pháp quyền: kiểm soát sự cai trị, giới hạn quyền lực nhà nước, và bảo vệ lợi ích của người dân.

Vụ việc lần này ở Đồng Tâm khá giống với tinh thần của giới quý tộc Anh cách đây hơn 800 năm. Khi bị chính quyền đối xử tùy tiện, giới quý tộc Anh đã nổi dậy, ép vua Anh phải ký kết Đại Hiến chương Magna Carta – ghi rõ cam kết bảo vệ các quý tộc và cá nhân không bị bắt giam. Nội dung chính của bản Hiến chương nêu lên tinh thần tôn trọng các quyền không thể xâm phạm của con người, và đây chính là nền tảng của nền pháp quyền Anh.

Điều này cũng tương tự như khi nước Mỹ còn là thuộc địa của Anh. Do bị đối xử bất công, người Mỹ đã nổi dậy chống lại luật pháp Anh, và tuyên bố trở thành quốc gia độc lập với tuyên ngôn nổi tiếng:

“Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc. Rằng để đảm bảo cho những quyền lợi này, các chính phủ được lập ra trong nhân dân và có được những quyền lực chính đáng trên cơ sở sự nhất trí của nhân dân, rằng bất cứ khi nào một thể chế chính quyền nào đó phá vỡ những mục tiêu này, thì nhân dân có quyền thay đổi hoặc loại bỏ chính quyền đó và lập nên một chính quyền mới, đặt trên nền tảng những nguyên tắc cũng như tổ chức thực thi quyền hành theo một thể chế sao cho có hiệu quả tốt nhất đối với an ninh và hạnh phúc của họ”.

Dù thủ tục tố tụng có được thực thi khắt khe đến thế nào thì chúng vẫn là thứ vô ích và không đáng được bảo vệ khi mà chính quyền hãy còn giữ thế độc tôn nắm giữ quyền lực, và lợi ích của người dân hãy còn bị xâm phạm đến mức họ phải chống lại luật pháp để bảo vệ chính mình. Muốn gầy dựng một nền pháp quyền chính đáng, thứ chúng ta cần theo đuổi chính là tinh thần của nó.

Như vậy, trường hợp ở Đồng Tâm với cam kết giữa người dân và ông Chung, hay nói rộng hơn là thỏa ước giữa người dân và chính quyền, là một bằng chứng cho thấy dấu hiệu của pháp quyền. Và việc thực thi bản cam kết này chính là một bước tiến để bắt đầu hiện thực hóa tinh thần pháp quyền thực chất.

V.Y.

Nguồn: http://luatkhoa.org/2017/06/khoi-to-va-loi-keu-goi-thuong-ton-mot-thu-phap-luat-bat-cong/

NẾU TÔI LÀ CHỦ TỊCH THÀNH PHỐ HÀ NỘI

NGUYỄN ĐÌNH CỐNG/ BVN 16-6-2017

Việc công an Hà Nội khởi tố bà con Đồng Tâm làm nổi lên 2 luồng dư luận:

1- Cho rằng đây là âm mưu, thủ đoạn của ông Chung vì ông là người cầm đầu chính quyền. Việc này ông tự chủ trương rồi lệnh cho CA thi hành hoặc ông được biết rõ và đồng ý để CA thực hiện.

2- Cho rằng đây là việc của bên Tư pháp, mà ông Chung là bên Hành pháp, hai bên độc lập với nhau. Việc ông Chung ký với bà con Đồng Tâm cam kết không truy cứu là không đúng chức năng và bây giờ CA khởi tố không liên quan gì đến ông.

Tôi xin đặt mình vào vị trí của ông Chủ tịch thành phố để xem nên như thế nào.

Sau khi đối thoại với bà con ở Đồng Tâm về, tôi xin phô tô bản cam kết để trình lên Thành ủy và ông bí thư Hoàng Trung Hải để xin được ủng hộ và tìm biện pháp thi hành. Đồng thời làm báo cáo lên Bộ Chính trị để nhận được chỉ đạo. Nếu ông Hải và Bộ chính trị buộc không được thi hành cam kết, buộc phải khởi tố thì tôi sẽ công khai thông báo lại cho bà con và công luận biết, tôi sẽ về lại Đồng Tâm, gặp lại bà con để cùng nhau tìm biện pháp khác. Tôi sẽ không im lặng tìm thủ đoạn đối phó. Bây giờ sự việc đã ra thế này, biết làm sao.

Trường hợp (1), khi việc khởi tố là do tôi chỉ đạo hoặc đồng ý thì tôi đã làm một việc quá ngu dại, quá đểu cáng, đã tự bóc trần mặt nạ, đã làm mất hết danh dự. Một người như vậy, nếu còn chút lương tri, còn biết trọng danh dự thì làm sao còn dám chường mặt ra để thiên hạ nhìn thấy. Có thể là vì áp lực của Đảng mà tôi phải làm như thế. Vậy thì trước khi giấu mặt đi phải nói ra cho nhân dân biết để cầu xin một sự thông cảm và tha thứ. Có thể việc làm như vậy sẽ dẫn đến hậu quả bị thi hành kỷ luật đảng. Đã ngu dại rồi có bị kỷ luật tôi cũng cố chịu để vớt vát một chút liêm sĩ đã đổ đi.

Trường hợp (2), nếu bên CA, lấy quyền độc lập về tư pháp để khởi tố mà không báo cho tôi biết thì khác gì chúng nó nhổ vào mặt tôi. Thế mà tôi chịu được à! Tôi sẽ lên tiếng. Trước hết tôi báo cho ông Hoàng Trung Hải, Bí thư Thành ủy. Đảng lãnh đạo toàn diện mà. Chuyện này có thể tôi không được biết trước, nhưng ông Hải thì chắc phải được biết chứ. Tôi sẽ báo và khiếu nại lên Bộ Chính trị, Thủ tướng chính phủ và Quốc hội vì bị bọn CA, không biết được ai chống lưng đã trát cứt lên mặt Chủ tịch thành phố. Khi mà tôi không được ông Hải, Bộ Chính trị, Chính phủ và Quốc hội đồng tình, họ cho tôi phạm sai lầm trong việc cam kết với bà con thì tôi sẽ ngay lập tức xin từ chức và về Đồng Tâm xin bà con tha tội. Đối với tôi làm một người trung thực, biết trọng danh dự quan trọng hơn chức Chủ tịch thành phố. Làm Chủ tịch là để lo cho dân, bảo vệ quyền lợi chính đáng của dân chứ không phải để lừa dối dân.

*

Vài lời với ông Hoàng Trung Hải và ông Nguyễn Phú Trọng.

Sự việc Đồng Tâm vừa qua và gần đây các ông biết cả chứ. Quan điểm của các ông thế nào khi việc này trực tiếp ảnh hưởng đến uy tín của Đảng? Phải chăng các ông làm ngơ, kệ cho ông Chung và CA Hà Nội làm gì thì làm? Không được. Các ông chủ trương Đảng lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối. Trong việc này tôi thấy lờ mờ bóng của các ông đàng sau lưng CA. Có thế nào các ông nên có ý kiến công khai để dân còn biết đường xoay xở.

N.Đ.C.

Tác giả gửi BVN

NGUỒN CƠN NÀO KHIẾN HÀ NỘI TRỞ MẶT VỚI ĐỒNG TÂM ?

PHẠM CHÍ DŨNG/BVN 16-6-2017

clip_image001

Một cảnh sát lạy tạ dân làng Đồng Tâm hôm 22 tháng Tư sau khi được phóng thích. (REUTERS/Kham)

Một cán bộ hưu trí hơn 50 tuổi đảng ở Sài Gòn thở ra với tôi: “Nếu Công an Hà Nội đè dân Đồng Tâm ra mà khởi tố, thằng Chung sẽ cạn ráo uy tín, sẽ mất mặt hết. Đảng cũng mất mặt luôn. Lúc đó thì bọn tao còn biết tin vào ai nữa?”.

‘Phản bội’!

“Thằng Chung” mà người cán bộ hưu trí nói đến là Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung. Chỉ cách đây chưa đầy hai tháng, chính ông hưu trí này còn hồ hởi khi nhìn thấy bản cam kết viết tay và ký tươi không truy tố nhân dân Đồng Tâm của ông Chung: “Phải thế chứ! Ít gì trong đảng còn có những tay như Nguyễn Đức Chung. Dân mình vẫn còn tin đảng lắm!”.

Từ lâu nay, tiếng nói của người cán bộ hưu trí trên vẫn được những người cùng giới coi là “trung kiên”, chỉ biết, chỉ nghĩ đến một đảng, tuyệt đối không có đảng thứ hai. Tất cả những tồn tại đều phải “còn nước còn tát”…

Nhưng còn bây giờ, câu hỏi thống thiết bật ra đối với số phận cuối cùng của đảng là nếu những người lý tưởng và trung thành nhất còn phải bật ngửa trước hành động trở mặt một trăm tám mươi độ của chính quyền Hà Nội với người dân Đồng Tâm, các giới khác – vốn ít hoặc chẳng hề tự nguyện “trung với đảng” – sẽ cảm thán đến thế nào!

Một đảng viên đã có đến 56 tuổi đảng như cụ Lê Đình Kình – nạn nhân của một nhóm nhân viên công an vật gãy xương đùi cụ và sau đó bắt cóc cụ – đã phải thốt lên rằng Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung đã “phản bội ý kiến và danh dự của chính ông ấy” và khiến “người dân phẫn nộ, Đồng Tâm lại trở thành điểm nóng”.

Sau cú bội phản trên của chính quyền Hà Nội, không ít đảng viên dày tuổi đảng đã phải ngửa mặt lên trời “Bác Trọng làm sao chống tham nhũng và kiểm soát quyền lực được nếu cứ khư khư chế độ một đảng như thế này! Một đảng cho nên muốn làm gì thì làm, muốn trở mặt lúc nào cũng được!”.

“Rửa nhục”

Kinh nghiệm xương máu của những cuộc “khởi nghĩa” trong dĩ vãng té ra vẫn còn quá giá trị nơi hiện tại.

Thọ Ngọc, Thanh Hóa năm 1989 và Quỳnh Phụ, Thái Bình năm 1997 – người nông dân cũng bước đầu giành thắng lợi như cái cách của người dân Đồng Tâm năm 2017. Nhưng sau đó không lâu, Thọ Ngọc và Quỳnh Phụ đã bị những đòn chơi bẩn của chính quyền và công an nhấn chìm trong lao tù.

Một kinh nghiệm đắt giá đã được nông dân các vùng đúc kết: thông thường, công an sẽ chờ vài ba tháng sau vụ việc để xoa dịu sự phẫn nộ dân chúng và khiến bầu không khí lắng lại, rồi tổ chức khởi tố vụ án, khởi tố bị can, kể cả “bắt nguội”. Kinh nghiệm cay đắng đã là quá nhiều ở Dương Nội, Văn Giang, Bắc Ninh, Thái Bình, Hà Tĩnh, Bình Thuận… và nhiều tỉnh miền Tây Nam Bộ.

Có nhiều lý do cho thấy vào năm 2017, công an nhất quyết muốn ăn thua đủ với dân. Trong những vụ Thọ Ngọc và Thái Bình trước đây và Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Tĩnh những năm gần đây, số cán bộ chính quyền và công an bị dân bắt chỉ 4-5 người là cao. Nhưng ở Đồng Tâm, người dân đã dám bắt đến cả một trung đội cảnh sát cơ động trong cả thảy 38 cán bộ và nhân viên công lực được dân đưa vào quy chế “trao đổi tù binh”. Đó chính là một sự sỉ nhục chưa từng có đối với ngành công an vốn chỉ biết lấy số đông đánh người mà chẳng mấy khi bị người đánh lại.

Đó cũng là nguồn cơn thiết thân mà đã khiến Công an Hà Tĩnh tung ra liên tiếp ba lệnh khởi tố vụ án về “gây rối, bắt người trái phép tại huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh” vào tháng 4/2017. Chi tiết rất đáng phiếm đàm trong những lệnh khởi tố này là có đến vài ngàn người dân có thể rơi vào dạng “bị can”, nhiều đến mức không chỉ Công an Hà Tĩnh mà có huy động hết các cơ quan nghiệp vụ của Bộ Công an cũng không “làm” xuể.

Tuy nhiên, cho đến nay cả ba lệnh khởi tố trên của Công an Hà Tĩnh đều hoàn toàn im hơi lặng tiếng. Thậm chí một người dân “bị can” khi bị triệu đến làm việc với Cơ quan điều tra còn kéo thêm hàng trăm người dân khác đi cùng, tất cả cùng đòi được vào phòng hỏi cung và đều đòi được hỏi cung. Cứ vui như trảy hội…

Còn bây giờ sau khi “nuốt nhục”, Công an Hà Nội có dám và có đủ sức để khởi tố đến hàng ngàn người dân Đồng Tâm, trong khi cơ quan này đã quên phắt những thủ phạm đã hành hung đến thương tật cụ Lê Đình Kình?

Đến đây, một lần nữa lại xảy ra trò chơi xảo chữ.

Không bắt toàn thể mà “cá thể hóa”!

Một số dư luận viên của đảng và công an một lần nữa, sau khi đe dọa trong vài tháng qua, đã tung ra lập luận cùng lúc với quyết định khởi tố ngày 13/6/2017 của Công an Hà Nội:

“Ông Chung có hứa “sẽ không truy cứu trách nhiệm đối với toàn thể dân Đồng Tâm”. Và xem chừng 2 tội danh (“Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật” (theo điều 123 BLHS) và “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản” (theo điều 143 BLHS) được cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an TP Hà Nội thực hiện sẽ không bao hàm tất cả người dân Đồng Tâm mà nó đã được cá thể hóa. Theo đó, cơ quan điều tra sẽ tính toán khởi tố bị can, tập trung điều tra làm rõ đối với một số cá nhân đóng vai trò cầm đầu, tổ chức và có hành vi quá khích… Vì thế, xét dưới khía cạnh logic hình thức thì lời hứa của ông Chung hoàn toàn không dẫm đạp lên động thái mới này!”.

Lập luận quá xảo ngôn và đầy sắc máu trên cho thấy quyết định khởi tố ngày 13/6 vừa qua có thể là một động tác “ném đá dò đường”, để nếu người dân Đồng Tâm không phản ứng, hoặc phản ứng không đủ mạnh, công an sẽ “tỉa từng em” – theo lối nói cợt nhả quen thuộc của lực lượng “vì dân” này, và cuối cùng sẽ dập tắt hoàn toàn “phong trào khởi nghĩa Đồng Tâm”, đồng thời rửa mặt cho nỗi nhục bị dân bắt giữ.

Để thực hiện được ý đồ trên, cựu tướng công an Nguyễn Đức Chung lần thứ hai phải chấp nhận tình trạng “khổ nhục kế”. Nếu như vào tháng 4/2017, ông Chung phải chịu cắm mặt trước dân Đồng Tâm mà ký cam kết, thì nay một lần nữa cắm mặt trước một sức ép, một thế lực chính trị trong đảng đang trùm lên đầu ông. Bởi nếu không, Nguyễn Đức Chung có thể mất chức chủ tịch Hà Nội.

Thực ra, tình trạng an nguy chính trị của Nguyễn Đức Chung đã râm ran từ khi nổ ra vụ Đồng Tâm. Khi đó có dư luận cho biết nếu ông Chung không giải quyết “êm” vụ này thì ông ta tất phải chịu trách nhiệm về điều hành yếu kém và phải bị thay thế tại Hội nghị trung ương 5 của đảng – diễn ra vào tháng 5/2017.

Nhưng cho dù đã phải cúi đầu cam kết với dân, hoạn lộ của Nguyễn Đức Chung vẫn chưa kết thúc. Hình như vẫn âm thầm đâu đó một thế lực chính trị muốn “bế” ông Chung khỏi cái ghế chủ tịch Hà Nội ngồn ngộn quyền và lợi. Đây có thể là nguyên nhân – nguồn cơn thứ hai mà đã khiến người dân Đồng Tâm một lần nữa phải mất ngủ vì sôi sục, trong khi lẽ ra chính quyền có thể tạm yên tâm trong không khí hoàn toàn ôn hòa và “tạm tin đảng” của nông dân thôn Hoành.

Song trên tất cả, nguồn cơn sống còn nhất – nguồn cơn thứ ba – là lợi ích kinh tế. Không chiếm được lợi ích này, kẻ mất ngủ không phải là dân mà sẽ là Tập đoàn Viễn thông quân đội (Viettel) cùng những quan chức theo đóm ăn tàn. Không đoạt được ít nhất vài chục ha đất của nông dân, toàn bộ chiến dịch “đánh Đồng Tâm” sẽ không còn ý nghĩa gì.

Hãy thử hình dung một kịch bản từ giới quan chức: dân Đồng Tâm muốn thanh tra đất đai, ừ thì thanh tra. Đã qua 45 ngày thanh tra và chỉ còn chưa đầy 30 ngày nữa để công bố kết quả. Thế là song song với quá trình thanh tra là lệnh khởi tố của Công an Hà Nội như một cách gây sức ép để kết quả thanh tra được “thuận thảo” hơn cho nhóm lợi ích. Khi đó, dân Đồng Tâm có muốn phản ứng cũng khó vì công an đã “nắm đầu” những người chủ chốt của phong trào…

Làm sao vượt được cái kết Ô Khảm?

“Chiếm đất”, “rửa nhục” và “tranh ghế” nhiều khả năng là “ba trong một” – ba nguồn cơn khiến lại bùng cháy ngọn lửa phẫn nộ và quyết đấu của một tinh thần Đồng Tâm.

Kịch bản đã, đang xảy ra ở Đồng Tâm, quay quắt thay, lại giống hệt với những gì ở Ô Khảm 6 năm về trước.

Năm 2011, làng Ô Khảm ở tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Cũng từ cuộc đấu tranh chống tham nhũng và trưng thu đất đai vô lối mà 13 ngàn người dân làng này đã giành thắng lợi trong một cuộc đấu tranh “rào làng kháng chiến”, bắt buộc chính quyền Bắc Kinh thời Thủ tướng Ôn Gia Bảo phải đàm phán và để cho Ô Khảm trở thành làng đầu tiên trong cả Trung Quốc được bầu cử tự do, với kết quả trưởng làng là một người được dân làng bầu lên chứ không phải là quan chức được chính quyền ấn xuống.

Nhưng chỉ sau vài năm, chính người trưởng làng đó đã bị chính quyền trả thù bằng việc vu tội và bắt giam ông. Quy chế tự do bầu cử của Ô Khảm đã bị chính quyền vùi dập ngay sau đó.

Giờ đây, bi kịch thực tại ở Việt Nam là cuộc đấu sống mái giữa các nhóm quyền lực và lợi ích trong đảng, xen kẽ bởi những mũi giáo nhọn hoắt của các nhóm này đâm thẳng vào trái tim dân chúng.

Sự tráo trở của chính quyền đang khiến những đại biểu quốc hội muốn ru ngủ dân theo cách “pháp luật luôn công bằng đại lượng”, hay “bà con Đồng Tâm cần bình tĩnh hợp tác với cơ quan điều tra”, trở thành một trò cười lố bịch và ti tiện.

Chỉ người dân mới tự quyết định được số phận của mình. Nếu không, họ sẽ phải đứng trước một vành móng ngựa đã mục nát và bị xô lệch từ lâu.

Tinh thần Đồng Tâm sẽ giúp cho người dân nơi đây tránh được cái kết bế tắc của Ô Khảm.

P.C.D.

Nguồn: https://www.voatiengviet.com/a/dong-tam-nguyen-duc-chung-so-huu-dat-dai/3899974.html

TRUY TỐ ĐỒNG TÂM: CỨU CÁNH BIỆN MINH CHO PHƯƠNG TIỆN

KÍNH HÒA/RFA/BVN 16-6-2017

clip_image002

Chủ tịch thành phố Hà Nội, ông Nguyễn Đức Chung (áo trắng) xuống xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Hà Nội vào ngày 22 tháng 4 năm 2017. AFP photo

Ngày 13 tháng sáu năm 2017, cơ quan cảnh sát điều tra thành phố Hà Nội công bố quyết định khởi tố điều tra vụ Đồng Tâm xảy ra hồi giữa tháng Tư năm 2017, dù trước đó ông Nguyễn Đức Chung, Chủ tịch thành phố Hà Nội đã ký cam kết không truy tố với người dân Đồng Tâm.

Ngày 14 tháng Sáu năm 2017, báo Tuổi Trẻ trong nước phỏng vấn một số đại biểu Quốc hội về việc này. Đa số các đại biểu cho rằng hành động ký cam kết của ông Chung là một giải pháp tình huống, là phù hợp với hoàn cảnh lúc bấy giờ.

Cứu cánh biện minh cho phương tiện

Tiến sĩ Nguyễn Quang A, nhà hoạt động xã hội dân sự sống ở Hà Nội cho rằng cái cách nói rằng việc ký cam kết không truy tố người dân Đồng Tâm của ông Nguyễn Đức Chung là một giải pháp tình thế, chứng tỏ rằng trong não trạng của những người cầm quyền hiện nay, họ luôn cho rằng họ đúng với bất cứ vấn đề gì. Ông nói thêm:

“Đấy là một lối nói mà nếu các đại biểu quốc hội nào, nói theo ý như vậy, hoặc là ông Chung ông ấy nói theo ý như vậy, thì đấy thực sự là một sự lật tẩy bộ mặt của họ. Tức là không thể tin được họ. Họ có thể dùng bất kể biện pháp gì, dẫu là biện pháp lừa dối bằng cách ký.

Những cái thủ đoạn, hay những mưu mô phục vụ cho những mục đích, cái cứu cánh mới là cái chính, thì như vậy tất cả mọi thứ nó lộn đầu đuôi hết”.

Ngay sau khi có tin cơ quan công an Hà Nội khởi tố vụ người dân Đồng Tâm bắt giữ 38 nhân viên cảnh sát và cán bộ chính quyền, một người dân Đồng Tâm là ông Lê Đình Kình nói với hãng tin BBC rằng ông đã gọi điện thoại cho ông Nguyễn Đức Chung, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, và được ông Chung trả lời rằng bảng cam kết ông Chung ký với dân Đồng Tâm hôm 22 tháng Tư chỉ có chữ ký chứ không có con dấu, và việc điều tra là của cơ quan công an chứ không phải của ông.

Đấy là một lối nói mà nếu các đại biểu Quốc hội nào, nói theo ý như vậy, hoặc là ông Chung ông ấy nói theo ý như vậy, thì đấy thực sự là một sự lật tẩy bộ mặt của họ. Tức là không thể tin được họ.

-TS Nguyễn Quang A

Chúng tôi có gọi điện thoại cho ông Nguyễn Đức Chung để hỏi về vụ việc nhưng không liên lạc được.

Giải thích hành động của chính quyền thành phố Hà Nội, đi từ việc ký cam kết không truy tố, cho đến phát lệnh truy tố, nhà văn Thùy Linh, hiện sống ở Hà Nội nói rằng:

“Chắc là họ muốn tháo cái ngòi nổ lúc đó, để làm sao nó không xảy ra những sự cố bạo lực, mà lại an toàn cho các phía. Họ chỉ cần cái trước mặt thế. Nhưng trong thâm tâm chắc họ đã dự tính dù có thế nào thì họ cũng vẫn sẽ khởi tố những người dân Đồng Tâm. Đấy là một sự lừa đảo, đấy là lừa dân. Nghe cái này nhiều người rất xúc động, xúc động một cách uât ức”.

Sự uất ức mà nhà văn Thùy Linh đề cập có thể cảm nhận trên không gian mạng xã hội. Một người hoạt động xã hội là anh Nguyễn Anh Tuấn viết trên trang facebook của mình rằng:

clip_image004

Chủ tịch thành phố Hà Nội, ông Nguyễn Đức Chung đối thoại với người dân bên trong hội trường UBND xã Đồng Tâm sáng thứ Bảy 22/4/2017. Courtesy of VTC online

“Chữ ký chưa ráo mực đã vội lật lọng.

Đừng nói người lãnh đạo cộng sản tráo trở, bởi không tráo trở, và không cực kỳ tráo trở thì làm sao trở thành lãnh đạo đảng cộng sản cho được?

Lịch sử đảng cộng sản cầm quyền khắp nơi trên thế giới, bao gồm cả Việt Nam, là một chuỗi những tráo trở liên tục của những người lãnh đạo đối với nhân dân lẫn đồng chí của họ. Chỉ khác một điều là trong quá khứ sự tráo trở có thể bị giấu nhẹm nhờ vào bưng bít thông tin, thì ngày nay, trong một bối cảnh truyền thông cởi mở hơn, nó công nhiên xuất hiện giữa bàn dân thiên hạ.

Một số người thì nói rằng chuyện hứa hẹn với dân làng Đồng Tâm làm họ nhớ tới những ngày tháng Tư năm 1975 tại miền Nam Việt Nam, nhà cầm quyền mới đã nói với các sĩ quan binh sĩ của chế độ cũ là họ chỉ phải đi học tập cải tạo trong vài ngày, nhưng cuối cùng rất nhiều người đã phải sống đằng đẳng hàng chục năm trong trại tù cải tạo khắc nghiệt.

Não trạng cầm quyền không thay đổi

Sau khi chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung ký được bản cam kết với dân làng Đồng Tâm, vào ngày 22 tháng Tư, vài ngày sau chúng tôi có đặt câu hỏi với một nhà quan sát chính trị Việt Nam là Tiến sĩ Vũ Tường, hiện dạy khoa chính trị tại Đại học Oregon, Hoa Kỳ, rằng phải chăng nhà cầm quyền Việt Nam đã thay đổi cách hành xử cũng như quan niệm của họ về chính sách đất đai, Tiến sĩ Tường cho biết ông không nhận thấy điều đó:

“Tôi nghĩ là họ không có những thay đổi lớn. Vừa qua họ chỉ thay đổi cách xử lý một vụ việc cụ thể, còn họ có nhận thức được rằng vụ việc này phản ảnh một vấn đề lớn hơn thì tôi chưa thấy dấu hiệu họ nhận thức được ra điều đó, nhất là những người lãnh đạo tối cao”.

Tuy nhiên có nhiều người đã có hy vọng sau khi ông Nguyễn Đức Chung và người dân Đồng Tâm ký được bản cam kết, giải quyết được chuyện cầm giữ con tin. Một trong những người đó là nhà văn Thùy Linh. Bà nói với chúng tôi sau khi biết rằng nhà cầm quyền sẽ khởi tố điều tra vụ bắt con tin tại Đồng Tâm:

“Tôi không ngạc nhiên, nhưng người ta thì cũng cứ nuôi một hy vọng gì đấy, một đổi thay nào đấy. Bản thân mình cũng nuôi một chút hy vọng gì đấy. Cuối cùng hóa ra vẫn như cũ”.

Cách giải quyết những vấn đề xã hội

Trong một xã hội thì có nhiều lợi ích khác nhau, những chính kiến khác nhau, và cái cuộc ở Đồng Tâm thực sự là một cuộc đấu với các lợi ích khác nhau.

-TS Nguyễn Quang A

Nhận định bản chất của cuộc khủng hoảng Đồng Tâm từ góc độ một nhà hoạt động xã hội dân sự, Tiến sĩ Nguyễn Quang A cho rằng:

“Trong một xã hội thì có nhiều lợi ích khác nhau, những chính kiến khác nhau, và cái cuộc ở Đồng Tâm thực sự là một cuộc đấu với các lợi ích khác nhau: các lợi ích của quân đội, các lợi ích của chính quyền, các lợi ích của người dân, và trong cuộc đấu này, không có cách nào khác hơn là thỏa hiệp với nhau, nhìn thấy cái gì đúng, thỏa hiệp lựa theo cái đúng ấy, dựa theo dân mà làm. Đấy là con đường tự nhiên của một đời sống lành mạnh của một xã hội”.

Sau khi các thông tin về việc truy tố vụ Đồng Tâm được loan tải trên báo chí chính thống lẫn mạng xã hội, Tiến sĩ Nguyễn Quang A so sánh vụ việc này với cái cách mà nhà cầm quyền tuyên truyền về những cộng đồng Công giáo tại Nghệ An, Hà Tĩnh biểu tình phản đối nhà máy Formosa gây ô nhiễm biển miền Trung. Ông cho rằng đó là cách tuyên truyền gây chia rẽ:

“Một cái cách như vậy nó chỉ dẫn đến sự đối đầu hơn, một sự chia rẽ hơn, và cái đó không tốt cho ai cả. Và tôi nghĩ là không tốt nhất là cho chính những người đương quyền này. Cho nên thực sự tôi khuyên họ nên tĩnh lại, họ phải tĩnh táo và suy nghĩ lại, để họ sống với dân, chứ còn cái cách này của họ là đẩy người dân sang phía phải chống lại họ. Xét về mặt chính trị, thì xử lý những vấn đề xã hội thì không có cái cách nào ngốc hơn cái cách họ đang làm”.

Tiến sĩ Ngô Đức Thọ, nguyên trưởng Ban Văn học của Viện nghiên cứu Hán Nôm ở Hà Nội thì viết trên trang facebook của ông rằng không phải là chỉ Hà Nội, mà cả đảng và nhà nước trung ương đã bỏ lỡ cơ hội vàng để lấy điểm với dân.

Ông Lê Đình Kình thì nói với hãng tin BBC rằng cho đến giờ phút này, ông vẫn tin vào Đảng, có Đảng là có tất cả, nhưng nếu cứ tiếp tục để những kẻ tham ô không bị xử lý mà lại đi xử lý người dân tố tham ô thì Đảng có nguy cơ mất quyền lãnh đạo.

K.H.

Nguồn: http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/dong-tam-case-finality-justifies-means-06142017122606.html

AI ĐÃ ‘HÂM NÓNG’ ĐỒNG TÂM ?

BBC/BVB 15-6-2017

Ông Lê Đình Kình nói với BBC hôm 14/6 rằng Chủ tịch UBND Hà Nội Nguyễn Đức Chung “phản bội ý kiến và danh dự của chính ông ấy” và khiến “người dân phẫn nộ, Đồng Tâm lại trở thành điểm nóng” sau khi thành phố quyết định khởi tố vụ án bắt 38 cán bộ tại xã này.
Tối 13/6, việc khởi tố vụ án được công bố “nhằm điều tra làm rõ các hành vi bắt giữ người trái pháp luật theo Điều 123 và hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo Điều 143 Bộ luật Hình sự”.

Hôm 15/4, người dân Đồng Tâm đã bắt giữ hơn 30 người gồm cán bộ, cảnh sát cơ động để đòi giới chức thả chín người dân bị công an bắt, đồng thời xử lý các khiếu nại đất đai.

>Hà Nội khởi tố vụ án bắt 38 cán bộ ở Đồng Tâm

>Gia đình ông Kình ‘bác thông tin chính quyền’

>Thấy gì từ vụ Đồng Tâm?

>Vụ Đồng Tâm – Mỹ Đức ‘chưa có hồi kết’

Hôm 14/6, trả lời BBC qua điện thoại từ thôn Hoành, xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Hà Nội, ông Lê Đình Kình nói: “Tối hôm qua, sau khi có tin Ban An ninh Công an Hà Nội quyết định khởi tố vụ án bắt 38 cán bộ ở Đồng Tâm, tôi có gọi điện ngay cho ông Chung.
Đến giờ phút này, tôi vẫn tin vào Đảng, có Đảng là có tất cả, nhưng nếu cứ tiếp tục để những kẻ tham ô không bị xử lý mà lại đi xử lý người dân tố tham ô thì Đảng có nguy cơ mất quyền lãnh đạo.

ông Lê Đình Kình

“Ông Chung nói rằng bản cam kết mà ông ấy ký hôm 22/4 về việc không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với toàn thể nhân dân xã Đồng Tâm là ông ấy ký chứ không có con dấu.”

“Ông ấy nói là quyền khởi tố là của cơ quan pháp luật chứ không phải của ông ấy.”

‘VẪN TIN VÀO ĐẢNG’

“Nhưng ông Chung quên rằng, bản cam kết tuy không có con dấu nhưng ông ấy có lăn tay vào đó, và việc điểm chỉ còn đảm bảo hơn vì không ai có vân tay trùng nhau trong khi con dấu nào thì cũng có khả năng bị làm giả được.”

Người được cho là dẫn dắt người dân Đồng Tâm trong vụ việc này, nói thêm: “Mọi sự khởi đầu từ 59 ha đất nông nghiệp tại Đồng Tâm mà phía chính quyền muốn người bên ngoài hiểu rằng đó là đất quốc phòng và người dân tại đây đang cản trở việc thực thi pháp luật.”

“Trong vụ này, người dân Đồng Tâm chỉ vì muốn bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình và đối xử tốt, nuôi ăn uống với những cán bộ bị tạm giữ mà đã bị đánh đập, bắt cóc, rồi bây giờ lại bị thổi phồng sự việc, ghép tội hủy hoại tài sản và bắt giữ người trái pháp luật.”

“Xin nhớ rằng chúng tôi đang giữ trong tay bản tường trình viết tay của những cảnh sát cơ động rằng họ được Thiếu tướng Đoàn Duy Khương, Giám đốc Công an TP Hà Nội điều động về đàn áp người dân.”

“Bản thân tôi năm nay 82 tuổi, 56 tuổi Đảng mà đến hôm nay, sau vụ bị bắt cóc và đánh đập vẫn chưa hồi phục hẳn, phải nằm ngồi trên giường chứ chưa đi lại được.”

“Lẽ ra hôm 20/6 này là đến hạn công bố kết quả thanh tra vụ việc như cam kết của ông Chung thì lại có tuyên bố hoãn việc này đến 23/8.”

“Việc thanh tra kéo dài như vậy nhằm cố tình gây bức xúc, khống chế quyền lợi của người dân.”

Chủ tịch Nguyễn Đức Chung không có quyền quyết định tất cả hay dẫm đạp lên thẩm quyền của người khác. Về mặt uy tín với dân, sau vụ khởi tố này, có vẻ như ông Chung đang mất rất nhiều.

luật gia Nguyễn Đình Hà

“Tôi khẳng định là sau khi có quyết định khởi tố hôm qua, người dân Đồng Tâm kiên quyết đấu tranh đến cùng trước việc chính quyền định cướp không 59 ha đất nông nghiệp.”

“Chúng tôi đề nghị ông Chung đình chỉ việc khởi tố, công bố kết luận thanh tra về đất đai trước đã, khi đó ai vi phạm gì thì hãy xử lý.”

Ông Lê Đình Kình cũng nói với Ben Ngô của BBC Tiếng Việt rằng “Đến giờ phút này, tôi vẫn tin vào Đảng, có Đảng là có tất cả, nhưng nếu cứ tiếp tục để những kẻ tham ô không bị xử lý mà lại đi xử lý người dân tố tham ô thì Đảng có nguy cơ mất quyền lãnh đạo.”

‘TƯ DUY XỬ LÝ KHỦNG HOẢNG’

Cùng ngày, Luật gia Nguyễn Đình Hà bình luận với BBC từ Hà Nội: “Dưới góc độ pháp lý, ngay từ khi ông Nguyễn Đức Chung ký vào bản cam kết với người dân Đồng Tâm, tôi đã nói ngay đó là văn bản không có giá trị pháp lý.”

“Trên nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền, ai có tội thì sẽ phải chịu trách nhiệm, chứ không có ngoại lệ – bởi điều đó là tiền lệ xấu, bất bình đẳng.”

“Tuy nhiên, tôi đánh giá văn bản cam kết của ông Chung có ý nghĩa về mặt truyền thông và chính trị.”

“Nó giúp giảm căng thẳng giữa người dân và chính quyền khi đó.”

“Xét về nhiều khía cạnh khác, tôi cho rằng, nội bộ chính quyền Hà Nội có nhiều “phe” và ông Chung chỉ là một.”

“Do đó, ông Chung không có quyền quyết định tất cả hay dẫm đạp lên thẩm quyền của người khác. Về mặt uy tín với dân, sau vụ khởi tố này, có vẻ như ông Chung đang mất rất nhiều.”

“Còn về vụ án mà cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố, đó mới chỉ là bước đầu, giống như ném đá dò phản ứng, sau đó còn có thể có nhiều kịch bản khác nhau.”

“Nếu “happy ending” (kết thúc có hậu) thì sẽ không có khởi tố bị can, đình chỉ điều tra vụ án và kết luận người dân Đồng Tâm làm vậy trong thế phòng vệ, bất khả kháng. Còn khả năng xấu nhất, vài người bị bắt và kết án.”

“Nhưng nhìn chung lại, mọi chuyện phụ thuộc vào tư duy xử lý khủng hoảng và thái độ chính trị mà các bên dành cho nhau.”

“Nếu văn bản ông Chung ký với người dân Đồng Tâm là một bản thỏa thuận chính trị, hai bên cùng ký và người ký về phía chính quyền lẽ ra phải là Chủ tịch Trần Đại Quang, thì khi đó may ra người dân Đồng Tâm mới không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.”

Hôm 14/6, BBC gọi điện cho ông Nguyễn Đức Chung nhiều lần nhưng ông không nghe máy. Lần gần nhất liên quan vụ Đồng Tâm, ông bắt máy và nói với phóng viên: “Tôi đang bận họp” rồi cúp máy.(BBC)

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Sáu 15, 2017

20170615. PHẢN ỨNG TRƯỚC KHỞI TỐ ĐỒNG TÂM

ĐIỂM BÁO MẠNG

GỬI ÔNG NGUYỄN ĐỨC CHUNG- CHỦ TỊCH UBND TP HÀ NỘI

                                                          MẠC VĂN TRANG/ BVN  14-6-2017

Không có văn bản thay thế tự động nào.

Hà Nội, ngày 14/6/2017

Thưa ông Nguyễn Đức Chung,

Ngày 22/4/2017, tại xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức thuộc TP Hà Nội, trước sự chứng kiến của đông đảo nhân dân và những người dự họp đối thoại, giữa thanh thiên bạch nhật, ông với tư cách Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung đã ký vào “BẢN CAM KẾT” với 03 điều:

“1. Trực tiếp kiểm tra Đoàn thanh tra, chỉ đạo sát sao làm đúng sự thực khách quan, đúng pháp luật. Khu vực đất Đồng Xênh rõ ràng đâu là đất quốc phòng, đâu là đất nông nghiệp, không mập mờ, đảm bảo quyền lợi của nhân dân Đồng Tâm, đúng pháp luật.

2. Không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với toàn thể nhân dân xã Đồng Tâm. ”.

3. Cam kết chỉ đạo điều tra xác minh việc bắt và gây thương tích cho Cụ Lê Đình Kình, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật”.

Dưới BẢN CAM KẾT, Ông không chỉ ký tươi và còn điểm chỉ đỏ cùng ông Dương Trung Quốc (đại biểu QH). Bên dưới đó, UBND xã Đồng Tâm đã xác nhận chữ ký của ông Nguyễn Đức Chung là đúng, và đóng dấu đỏ.

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người

BẢN CAM KẾT nói trên đã được chụp, in ra cho mỗi người dân xã Đồng Tâm, từ em bé đến cụ già; đã đăng trên các báo chí, lan truyền trên mạng xã hội; toàn dân Việt Nam, toàn thế giới đều có thể thấy. Sự kiện Đồng Tâm nói chung và BẢN CAM KẾT nói riêng đã trở thành tài liệu lịch sử. Có nghĩa là tên tuổi ông Nguyễn Đức Chung và sự kiện Đồng Tâm được ghi trong sử sách lưu truyền mãi mãi…

Tất cả mọi người có lương tri đều đánh giá cuộc đối thoại của Ông với dân Đồng Tâm và BẢN CAM KẾT lịch sử này là một cái kết có hậu, có lý, có tình, thấu tỏ lòng dân. Một niềm vui mới râm ran trong dân Đồng Tâm và trong xã hội… Khắp nơi, người ta nhắc đến Nguyễn Đức Chung như một con người tử tế, người của nhân dân và đặt nhiều hy vọng vào Ông sau này…

Nhưng thật bất ngờ, điều 2 và 3 của BẢN CAM KẾT chưa thấy được thực hiện, thì các báo chính thống đồng loạt đăng tin: “Ngày 13/6, Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an Hà Nội cho biết, đã ra quyết định khởi tố vụ án Bắt, giữ hoặc giam người trái luật và Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản liên quan đến vụ việc ở xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Hà Nội”…

Đây là một việc làm vô cùng tai hại cho chính quyền nói chung và cá nhân ông, rói riêng. Rõ ràng là một sự bội ước, lật lọng, phản bội nhân dân và phản bội chính mình! Một con người tử tế không thể bội ước bạn bè; một chính khách đứng đầu Thủ đô ngàn năm văn hiến không thể phản bội người dân và phản bội chính mình như vậy; một chính thể không thể lừa dối nhân dân trắng trợn đến thế!

Để cứu vãn tình thế, ông phải làm gì?

1.Ông phải quyết tâm đấu tranh đến cùng với các thế lực “cản phá”, kiên quyết thực hiện đúng BẢN CAM KẾT ông đã ký ở Đồng Tâm ngày 22/4/2017, vì đó là lương tâm, danh dự, trách nhiệm chính trị – đạo đức của cá nhân ông và của cả Chính quyền, của cả chế độ này…

2. Nếu đấu tranh thất bại thì ông và những người chứng kiến đã ký vào BẢN CAM KẾT (trong đó có ĐBQH Dương Trung Quốc…) phải ra TUYÊN BỐ phản đối hành động của những người đã chà đạp lên BẢN CAM KẾT mà ông đã ký và nhiều người làm chứng đã ký. Rồi chuyện gì đến ông đều chấp nhận. Đó là hành động của một người trọng danh dự, có nhân cách, một chính nhân quân tử. Làm như vậy, ông sẽ đi vào lịch sử như một người chân chính, biết đứng về phía nhân dân.

3. Còn nếu như đây là “kịch bản” của ông; hoặc vì sức ép, ông cứ bưng tai, bịt mắt, làm ngơ để CA Hà Nội điều tra, truy tố người dân Đồng Tâm, phản bội lại BẢN CAM KẾT, thì xin lỗi, ông sống không bằng chết! Nhiều người dân, trong đó có tôi, nhìn thấy mặt ông ở đâu là nguyền rủa, phỉ nhổ! Và chắc ông cũng biết: “Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”!

Nói những điều này với Ông, vì tôi là người ngay thật và tin vào tính thiện lương của con người.

Chào ông!

Mạc Văn Trang, một công dân Hà Nội

THƯ NGỎ GỬI NHỮNG NGƯỜI CỘNG SẢN V/V KHỞI TỐ ĐỒNG TÂM

HỘI CỰU TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM VN/ BVN 15-6-2017

Hỡi những người cộng sản đã đi theo đảng một cách chân thành, vì coi đó là lý tưởng cao đẹp, xin quý vị nên nghĩ lại, xem tổ chức mà quý vị đang đứng trong hàng ngũ liệu có và còn xứng đáng là một chính đảng phục vụ đất nước dân tộc hay không?

Ngay sau khi ông Nguyễn Đức Chung ký bản cam kết, nhiều luật sư đã phân tích sự lừa đảo đó, bởi lẽ đơn giản là ông ta không có thẩm quyền đại diện và thay mặt cơ quan tố tụng cam kết không khởi tố vụ án Đồng Tâm.

Nhiều người, và rất nhiều người, đã cả tin đến mức phê phán các luật sư, rằng kết quả đạt được là tốt rồi, không nên quá nghi ngờ “thiện chí” của giới lãnh đạo Hà Nội, và rằng người dân Đồng Tâm đã làm hết sức của mình, không nên đòi hỏi hơn nữa. Tất nhiên, chúng tôi hiểu cảm xúc trung thực đó.

Bây giờ mọi người đã thấy rõ, hệ thống tuyên truyền của nhà cầm quyền đang lập luận rằng ông Chung không có thẩm quyền cam kết như thế, và cùng lắm ông chỉ hứa không khởi tố “toàn thể người dân Đồng Tâm”, chứ có cam kết không khởi tố một cá nhân nào đâu (!?).

Ông Chung thậm chí còn vu cáo người dân Đồng Tâm ép buộc ông ký cam kết, và vì tránh cảnh người dân phải đổ máu lúc đó, nên ông đành làm như thế. Cam kết trong khi bị ép buộc nên không có giá trị pháp lý (!).

Nói cách khác, họ chẻ chữ ra để lấp liếm. Tất nhiên, lấp liếm thì dễ thôi, nhưng hành động lật lọng và lừa đảo không thể che giấu ai. Lật lọng và lừa đảo là hai mặt của một đồng xu mang hình hài cộng sản.

Nếu ông Chung có thẩm quyền cam kết, thì rõ ràng bây giờ nhà cầm quyền đang lật lọng. Nếu ông Chung không có thẩm quyền mà vẫn cam kết, thậm chí khôn lỏi đến mức chơi chữ để lấp liếm, thì đó là gì nếu không phải lừa đảo?

Lật lọng và lừa đảo là bản chất của mọi chế độ cộng sản từ khi chúng đoạt được quyền bính trên toàn thế giới vào năm 1917 ở nước Nga và sau đó lan rộng trên phạm vi quốc tế. Dù cộng sản đã sụp đổ trên toàn cầu nhiều thập kỷ trước, cặn bã của nó vẫn còn đọng lại ở Trung Quốc và Việt Nam.

Do đó, hỡi những người cộng sản Việt Nam thành tâm, quý vị nghĩ gì về tổ chức mà mình đang gửi gắm niềm tin và hy vọng? Người dân Đồng Tâm là những dân quê chân chất, lam lũ bên mảnh đất tổ tiên để lại, liệu đủ sức chống chọi sự lật lọng và lừa đảo tinh vi một cách có hệ thống như thế không?

Người dân Đồng Tâm mới chính là đồng bào yếu thế của quý vị trong cộng đồng dân tộc suốt hàng ngàn năm lịch sử, chứ không chỉ có những kẻ trong một tổ chức mới hình thành từ vài chục năm qua bởi sự vay mượn một tư tưởng ngoại lai xa lạ.

Chế độ mà quý vị tưởng còn chia sẻ chung lý tưởng ấy thật ra đã lộ nguyên hình thành một băng đảng chủ trương lấy cướp bóc làm mục đích sinh tồn, lấy dối trá và bạo lực làm phương tiện… Chế độ đó đang hoảng loạn đến mức phải bảo toàn quyền thống trị độc tôn của mình mà không ngần ngại bộc lộ rõ bản chất lật lọng và lừa đảo của nó.

Vậy, xin hãy bình tâm suy nghĩ và từ bỏ băng đảng cướp bóc đó. Thời gian vẫn còn kịp cho những ai thành tâm yêu nước, và dân tộc ta luôn bao dung đối với những ai thực tâm xem lợi ích tổ quốc vượt trên tất cả.

Việt Nam, ngày 14/6/2017,

Đồng Chủ tịch Hội CTNLT:

BS. Nguyễn Đan Quế, LM. Phan Văn Lợi

ẦM ẦM CƯ DÂN MẠNG VỀ KHỞI TỐ VỤ ĐỒNG TÂM

LƯƠNG NGỌC HUỲNH/ BVN 15-6-2017

Chiều 13-6 đồng loạt các báo đưa tin công an Hà Nội sẽ khởi tố hình sự vụ bắt giữ trái pháp luật 38 cảnh sát và cán bộ tại Đồng Tâm!

Tối nay, Cụ Kình đã có cuộc điện thoại trao đổi thẳng thắn với chủ tịch Chung.

Quan điểm của cụ Kình là 59 hec ta đất ở đồng Xênh là của dân vì chưa có bất kỳ một văn bản nào chứng minh đất đó là của quốc phòng. Cụ nói: “Chúng tôi có đầy đủ tất cả các giấy tờ chứng minh điều đó”.

Trao đổi về việc tội phá tài sản là xe của công an. Cụ Kình nói: “Dân có làm vỡ một vài cái kính, tháo xịt lốp vài cái xe, nhưng đó là phương tiện của bọn cướp đất thì dân không có tội”. Theo quan điểm của cụ thì khi chưa có kết luận bằng văn bản mà thu hồi đất là hành động ăn cướp, cho nên dân tháo xịt lốp xe của kẻ cướp thì sao có tội?

Chủ tịch Chung phân trần: “Công an là đi bảo vệ dân chứ công an không đi ăn cướp!”.

Hai bên nói đi nói lại khoảng 16 phút qua điện thoại.

Chủ tịch Chung cho rằng: “Dân tự viết biên bản rồi ép tôi ký và lăn tay, anh Đồng và cô Lan xử lý thế là không được! Nếu lúc đó tôi không ký thì chỉ cần ai hô một câu thì hậu quả như thế nào cụ biết rồi,… Tôi cũng lo cho dân chứ”.

Theo chủ tịch Chung nói: “Thời hạn 45 ngày đến 23-6 là hết nhưng anh em còn mất 15 ngày báo cáo, và 15 ngày xem xét kết luận và công bố, cho nên phải giữa tháng 8… (hơi ngập ngừng một chút)… tháng 8 tháng 7 mới công bố được, mà tôi sẽ công bố công khai”.

Cụ kình cũng phân trần: “Vụ Đồng Tâm đang sóng yên gió lặng, bà con đang chờ kết luận thanh tra, bây giờ làm thế này khác gì thổi nóng lên, như vậy làm mất uy tín của cách mạng đảng nhà nước”.

Câu chuyện dừng lại vì chủ tịch nói: “Thôi muộn rồi, và điện thoại cũng không tiện, cụ nghỉ đi cho khoẻ”…

Việc cãi ai đúng ai sai trong câu chuyện này thật là buồn cười. Nếu đã làm theo Hiến pháp và pháp luật thì phải làm triệt để công tâm, công bằng.

Thành phố đang thanh tra chưa trả lời ai đúng ai sai mà lại đi khởi tố vụ án khi chưa có kết luận của thanh tra thì liệu có nên không? Chính quyền cũng cần xem xét phần sai của mình vì không rõ ràng và minh bạch trong hồ sơ đất đai.

Cứ để cho thanh tra làm rõ hai bên ký kết đúng sai rồi lúc đó ta ngồi bàn về vấn đề ai vi phạm ai? Lúc đó khởi tố vụ án để làm cho rõ mọi vấn đề… Vậy mới thấu tình đạt lý.

Tôi khuyên chính quyền nên xem lại việc này, vì tôi cảm nhận thấy sự bất ổn trong cách xử lý!

Chúng ta không thể chiến đấu với dân bằng mọi giá hay mọi thủ đoạn! Điều đó là sai lầm hoàn toàn!

Chính quyền phải biết lắng nghe và học thuộc bài “Thua Dân” thế mới là chính quyền thông minh.

Mình thua dân mình có gì mà xấu hổ? Thua giặc ngoại xâm, giặc tham ô, tham nhũng mới nhục chứ còn thua dân là vinh quang.

Tôi đã nghe hết cuộc điện thoại của cụ Kình và chủ tịch Chung.

Tôi thấy thành phố còn non tay ấn lắm, chưa vững vàng và chưa linh hoạt. Tự mình hạ thấp giá trị lời hứa của mình là không nên các anh ạ!

Tôi cũng hy vọng các đại biểu Quốc hội nên quan tâm việc này, thậm chí cả các lãnh đạo đảng, nhà nước nên theo dõi và chỉ đạo sát vụ này vì không khéo thì sẽ làm cho niềm tin của dân bất ổn với cách vận dụng thực thi pháp luật của chính quyền.

Hà nội 14-6-2017

L.N.H.

Nguồn: https://www.facebook.com/huynh.luongngoc/posts/783221255187379

SỰ KIỆN ĐỒNG TÂM KHÔNG PHẢI LÀ HÌNH SỰ ĐƠN THUẦN

TÔ VĂN TRƯỜNG / BVN 15-6-2017

Sự kiện Đồng Tâm, người dân cả nước đều nghĩ đã kết thúc có hậu, cả hai bên đều thắng, nhưng lại vừa mới rộ lên thông tin: “Chiều 13/6, Thiếu tướng Đoàn Duy Khương, Giám đốc Công an thành phố Hà Nội cho biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự xảy ra tại xã Đồng Tâm (huyện Mỹ Đức, Hà Nội) để điều tra về 2 tội danh “Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật” theo quy định tại Điều 123 – Bộ luật Hình sự và “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại Điều 143 – Bộ luật Hình sự. Việc khởi tố nhằm điều tra, làm rõ những hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật trong vụ việc. Trên cơ sở đó, cơ quan tiến hành tố tụng mới có đủ căn cứ xem xét để ban hành hoặc không ban hành quyết định khởi tố, truy cứu trách nhiệm hình sự các bị can liên quan”.

Có ý kiến cho rằng tình hình của nước ta nhìn chung, nó rối như khu rừng nhiệt đới, tầng trên, tầng dưới, cây to, cây bé, dây leo chằng chịt, hoặc như cái cột điện “tổ quạ” trên phố. Mối quan hệ giữa các thực thể, các yếu tố cực kỳ phức tạp, do thể chế đan xen. Pháp luật không nghiêm, điều hành thiếu minh bạch, dân chủ hình thức, cho nên tuy nó dở, nó mục… nhưng khó sửa.

Về vụ Đồng Tâm, cam kết của Chủ tịch thành phố Hà Nội Nguyễn Đức Chung khéo lắm là không truy tố dân Đồng Tâm vụ việc này, chứ không nói không truy tố những người chống người thi hành công vụ. Ngược lại, dân Đồng Tâm cũng rất khôn ngoan, khi cho toàn phụ nữ ra bắt giam các chú cảnh sát cơ động. Nếu cảnh sát cơ động không tình nguyện cho dân bắt, thử hỏi những người phụ nữ tay không này có dám giữ cảnh sát ở giữa đất Thủ đô mà còn lại được nuôi ăn, đối xử tử tế?

Đương nhiên nhà cầm quyền ở thế khó, không thể “xí xóa” sự việc một cách đơn giản. Quy luật cuộc sống là cái mà chủ quan chúng ta nhiều khi không thể nhận thức ra ngay.

Khi xem ông Nguyễn Đức Chung ký, điểm chỉ Cam kết với dân Đồng Tâm, nhiều người dân kể cả ở đất Nam bộ xa lắc, vui đến rơi nước mắt. Nhưng sau lúc thăng hoa về sự “tái hồi” tình quân dân keo sơn từng có trong quá khứ mà truyền thông thế giới hay gọi là “Truyền thống” họ lại hồi hộp về sự “tái hồi” “Thái Bình Diễn nghĩa”! (sự kiện khởi đầu từ huyện Quỳnh Phụ năm 1997). Và nay đã rõ! Nhưng đây là cái lô-gích hình thức không thể không làm, bởi một số cái “đầu ấm” cay cú, nhưng quan trọng là “tiến trình” nầy lâu hay mau và có hậu như vụ án Đồng Nọc Nạn hay không mà thôi.

Thời Pháp thuộc, khi Nam bộ còn là thuộc địa của Pháp, một nông dân giết chết người điền chủ định cướp đất của anh ta, và Toà xử trắng án, vì giết người để tự phòng vệ chính đáng. Anh Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng, Hải phòng, bị kết án 5 năm tù cũng vì tội tự vệ với vũ khí tự tạo, chống lại bộ đội và công an dưới sự lãnh đạo của chính quyền cơ sở. Kết thúc tương đối có hậu (Anh Vươn được đặc xá trước thời hạn) và tiếp tục quản lý ao hồ do mình có công khai phá, cải tạo nhưng cái giá phải trả rất đắt.

Trớ trêu là trên FB của ông Lương Ngọc Huỳnh có tường thuật buổi điện đàm mới nhất giữa Chủ tịch thành phố Nguyễn Đức Chung với cụ Kình nguyên văn như sau: ”Dân tự viết biên bản rồi ép tôi ký và lăn tay. Anh Đồng, và cô Lan xử lý như thế là không được. Nếu lúc đó, tôi không ký thì chỉ cần có ai đó hô một câu thì hậu quả sẽ như thế nào,cụ biết rồi. Tôi cũng lo cho dân lắm chứ”.

Từ chỗ được người dân cả nước tung hô, ca ngợi, bây giờ chỉ cần nghe tường thuật lại các câu nói trên (nếu đúng sự thật) thì ông Chung có bị công luận “ném đá” cũng không có gì lạ!

Có 3 vấn đề cần đặt ra:

– Thứ nhất là những người lừa cụ Kình dẫn đi chỉ địa giới, rồi đột ngột bắt giam cụ Kình làm cụ Kình bị gãy xương đùi, sao lại không bị truy tố hình sự về việc bắt giam người không phép và gây tổn thương sức khỏe cho người già bị bắt. Công bằng xã hội ở đâu trước pháp luật giữa người dân và người của cơ quan nhà nước?

– Thứ hai là sau khi ông Chung về Đồng Tâm đối thoại với dân giải quyết sự việc êm thỏa, công luận cho rằng đó là có ý kiến chỉ đạo của cấp trên về phương thức tiếp cận và nội dung văn bản ký kết với người dân. Trong văn bản có điều quan trọng là không truy tố người dân Đồng Tâm về sự việc này. Nay lại khởi tố những người chống người thi hành công vụ. Hóa ra Chính quyền do Đảng chỉ đạo “chơi chữ” với người dân.

– Thứ ba là đẩy dân về phía đối địch, đó là hành động sẽ gây nên những hậu quả khôn lường. Người dân đang mong chờ công bố kết quả thanh tra đất đai, theo lời hứa của chính quyền thành phố, sao lại đột ngột đi khởi tố, phải chăng quan điểm trong lãnh đạo chưa được nhất quán?

Vụ Đồng Tâm bị khởi tố mà kết quả lại đi ngược với lời hứa của ông Nguyễn Đức Chung thì chưa biết điều gì sẽ xảy ra. Không khéo lại dẫn đến chuyện “Quân ta chiến thắng Dân mình”. Trong trường hợp này, nếu đã chót khởi tố rồi thì hãy nhìn vào vụ án Đồng Nọc Nạn từ thời Pháp thuộc để mà nhìn lại mình cho rõ hơn và biết vượt lên chính mình. Thời gian là phương thuốc hữu hiệu cả cho chính quyền và cả cho người dân Đồng Tâm. Hai bên có thể vẫn trong ấm ngoài êm được lâu dài.

Nhà báo Huy Đức vừa mới phone cho tôi nhấn mạnh sự kiện Đồng Tâm là vấn đề chính trị, không phải hình sự đơn thuần. Nếu không tỉnh táo, xử lý cứng nhắc thì vô cùng nguy hiểm, nhất là mất lòng tin của dân, v.v.

T.V.T.

Tác giả gửi BVN

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Sáu 14, 2017

20170614. BÀN THÊM VỀ ‘ĐỐI THOẠI’

ĐIỂM BÁO MẠNG

CẦN LÀM RÕ NHIỀU VẤN ĐỀ TRONG NHỮNG CUỘC ĐỐI THOẠI TƯƠNG LAI

VIỆT LONG/ TBVN TPHCM / BVB 12-6-2017

​Ông Võ Văn Thưởng trúng cử đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai

Ông Võ Văn Thưởng

Trong hai tuần vừa qua, từ nào được nhắc đến nhiều nhất trên các trang mạng xã hội, thậm chí cả các hãng tin, báo chí trong ngoài nước bàn về chính trị Việt Nam? Tôi khẳng định ngay, đó là từ “đối thoại”.
Ngày 18/5/2017, tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc sơ kết một năm triển khai thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, ông Võ Văn Thưởng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, đã nói: “Chúng ta không sợ đối thoại, không sợ tranh luận, bởi vì sự phát triển của mỗi lý luận và của học thuyết cách mạng nào rồi cũng phải dựa trên sự cọ xát và tranh luận. Và cũng chính sự tranh luận đó tạo ra cơ sở để hình thành chân lý”. Ông Thưởng cho biết, Ban Tuyên giáo Trung ương đang chờ Ban Bí thư thông qua một văn bản hướng dẫn về việc tổ chức trao đổi và đối thoại với những cá nhân có ý kiến và quan điểm khác với đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Chỉ một ngày sau, trên google, đánh từ khóa “đối thoại” chỉ trong 0,44 giây đã có trên 8,3 triệu mục từ. Gần như tất cả các bản tin tiếng Việt của các hãng tin trên thế giới, các báo chí từ nghiêm túc đến lá cải, các trang mạng chính trị, các nick nổi tiếng đều lên tiếng bàn về ý kiến của ông Võ Văn Thưởng. Ngay lập tức, có rất nhiều người hoan nghênh chủ trương này của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhiều người xin được tham gia đối thoại. Bên cạnh đó cũng có hàng ngàn ý kiến tiêu cực, chửi bới chủ trương này. Hầu hết trong đó là những kẻ lưu manh về chính trị, những kẻ phản bội, vài người thuộc đối tượng thiếu hiểu biết thường được gọi là “trẻ trâu”, những kẻ có truyền thống thù địch với Việt Nam. Dĩ nhiên, những kẻ này cũng biết thừa, chẳng bao giờ chúng có thể bén chân tới các cuộc đối thoại bởi tư cách kém cỏi của chúng cũng như sự hạn hẹp về kiến thức, thậm chí gọi đúng chữ là sự ngu xuẩn của chúng.
Thật ra chủ trương đối thoại với tất cả những người có ý kiến và quan điểm khác với đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước đã có từ lâu, thể hiện sự cầu thị vì sự phát triển Đất nước. Nhưng mong muốn đó đã không thành hiện thực bởi nhiều lý do, trong đó quan trọng nhất là do sự chống đối quyết liệt của những thế lực phản động đã ngăn cản nhiều người  có quan điểm khác biệt nhưng có lòng yêu nước, muốn tận hiến cho sự phát triển đất nước tham gia đối thoại. Tình hình hiện nay đã tốt hơn nhiều. Với chủ trương minh bạch chính sách và hoạt động của Đảng và Nhà nước, sự phân liệt giữa các tổ chức chống đối càng ngày càng quyết liệt, những người yêu nước đã có thể công khai thể hiện quan điểm chính trị của mình. Và việc tổ chức các cuộc đối thoại phản biện chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đã có điều kiện để tổ chức. Tuy nhiên, cũng cần làm rõ những nội hàm của đối thoại sắp tới.
Điều kiện cần quan trọng nhất cho tất cả mọi người tham gia không chỉ cuộc đối thoại này mà mọi cuộc đối thoại là những người tham gia phải cùng chung mục đích. Vậy thì trước hết phải xác định được mục đích của cuộc đối thoại. Có mục đích rồi mới đến thành phần tham gia đối thoại. Không cùng mục đích thì đối thoại vô ích, các thành phần không liên quan đến lĩnh vực cần đối thoại mà có mặt thì chỉ tổ loạn, không đối thoại được. Bàn về mục đích của cuộc đối thoại tương lai là gì? Không ai điên bàn về chuyện đúng sai của chủ nghĩa cộng sản, hay Mác đúng hay sai, chuyện ấy các nhà triết học thế giới đã làm, còn làm. Cũng không ai điên để đối thoại với mục đích đưa ông Đào Minh Quân hay bất kỳ đám cờ vàng ba sọc về Việt Nam cầm quyền. Cũng không thể đối thoại để hủy bỏ hệ thống pháp luật hiện hành ở Việt Nam, chắc chắn vậy, cho nên cũng đừng hy vọng đối thoại để nhà nước thả các tù nhân được tòa án xác định phạm tội ra khỏi tù… Có những giá trị mà cả dân tộc đã trả bằng máu để giành lấy cũng không bao giờ được đem ra bàn thảo đối thoại. Đó là Độc lập, Thống nhất, Quyền tự chủ không phụ thuộc ngoại bang. Đó là nền kinh tế thị trường đầy đủ với mục tiêu xã hội mang tính xã hội chủ nghĩa. Đó cũng là hòa bình, ổn định xã hội, nền tảng cho mọi sự phát triển. Đó là một xã hội pháp quyền với một hệ thống các quy định pháp luật đảm bảo cho mọi người bình đẳng trước pháp luật.
Vậy mục đích của các cuộc đối thoại là gì? Là làm sao để Đất nước chúng ta phát triển cả về kinh tế, cả về xã hội, làm sao để con người Việt Nam phát triển cả về kiến thức, cả về kỹ năng, để giá trị người Việt tương bằng với mọi dân tộc văn minh trên thế giới. Hãy đối thoại để có những phương cách đạt được điều đó
Về thành phần tham gia đối thoại là tất cả công dân VN nói chung quan tâm tới hiện tình đất nước và dĩ nhiên có khả năng trong từng lĩnh vực đối thoại. Điều này không có nghĩa là nhà nước công nhận một tổ chức đối lập nào đó. Phải nói thẳng, cho đến nay chưa có một tổ chức, một phong trào, một hệ thống quan điểm xã hội nào có năng lực làm đối lập với Đảng Cộng sản. Để có một tổ chức đối lập, lực lượng chống, hay khác biệt, với Đảng Cộng sản còn phải cố gắng nhiều năm nữa. Trước hết những người đối lập cần làm ngay một việc để quần chúng có thể tin cậy, dù là tối thiểu vào họ: Đó là nói thật, nói đúng, đừng nói dối, đừng trá ngụy, lừa mỵ. Vậy thành phần tham gia đối thoại hãy hạn chế trong những công dân Việt có năng lực và có lòng với Đất nước (# – Chủ trang xin góp ý trực tiếp luôn: Đúng ra là ‘không nên hạn chế’ – sao lại ‘cần hạn chế?’, … “có năng lực, có lòng với đất nước” thì hại gì? – tác giả ơi! – BVB). Và dĩ nhiên, họ cần phải có kiến thức trong lĩnh vực họ định đối thoại. Không thể bàn những vấn đề về khoa học hạt nhân, nền tảng của điện hạt nhân với một ông chuyên nghiên cứu dã sử. Đó là nguyên tắc.
Vậy cuối cùng, đối thoại cái gì? Theo tôi, cái có thể là đối thoại về chính sách. Từ chính sách phát triển kinh tế đến chính sách ổn định xã hội. Đó là lĩnh vực có thể đối thoại và sẽ mang lại lợi ích lớn bởi có sự đóng góp của nhiều trí thức đang ở nước ngoài, ở ngoài hệ thống chính quyền. Họ có nhiều trải nghiệm, nhiều kiến thức từ các nước phát triển. Hy vọng, họ sẽ mang lại hơi thở mới, những tư vấn tốt để chính sách tiệm cận được với cuộc sống, hỗ trợ thúc đẩy sự phát triển của kinh tế – xã hội Việt Nam. Và cũng cần nói thêm, để những cuộc đối thoại mang lại lợi ích thực sự cho Đất nước, còn cần thêm nhiều thời gian và những điều kiện để công tác tổ chức có thể hoàn chỉnh. Dĩ nhiên là không vội vàng.
Việt Long/(Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 452).
TRAO ĐỔI ‘BÀN VỀ ĐỐI THOẠI’ VỚI TÁC GIẢ VIỆT LONG
NGUYỄN ĐÌNH CỐNG/ BVB 13-6-2017

Ngày 12 tháng 6 trang Bùi Văn Bồng1 đăng bài của Việt Long, đầu đề : “Cần làm rõ nhiều vấn đề trong những cuộc đối thoại tương lai”. Qua bài viết thấy tác giả muốn hướng dẫn dư luận về đối thoại. Đọc xong bài, thấy không thể đồng ý vài điểm, tôi xin nêu để tác giả và bạn đọc tham khảo

Tác giả cho rằng : “mong muốn ( đối thoại ) đó đã không thành hiện thực bởi nhiều lý do, trong đó quan trọng nhất là do sự chống đối quyết liệt của những thế lực phản động đã ngăn cản nhiều người  có quan điểm khác biệt nhưng có lòng yêu nước, muốn tận hiến cho sự phát triển đất nước tham gia đối thoại”.

Việt Long viết như thế nhưng liệu có tin vào điều ấy không, có nêu được dẫn chứng nào không. Theo những nguồn thông tin khác đáng tin cậy thì việc không tổ chức được đối thoại chính là từ các cơ quan của Đảng . Chẳng có thế lực phản động nào ngăn cản đối thoại theo các đề nghị của Nguyễn Trung, Chu Hảo và nhiều người khác.

Tác giả lại viết : “Trước hết những người đối lập cần làm ngay một việc để quần chúng có thể tin cậy, dù là tối thiểu vào họ: Đó là nói thật, nói đúng, đừng nói dối, đừng trá ngụy, lừa mỵ.” Những người đối lập ở đây chắc là những người bất đồng chính kiến ở trong hoặc ngoài một số tổ chức dân sự. Câu trích dẫn vừa rồi ám chỉ những người bất đồng đó chưa nói thật. Phải chăng đây là lời vu vạ thiếu căn cứ. Ngược lại thì nhiều người đã thấy rõ  sự dối trá là biện pháp trong tuyên truyền của các tổ chức Đảng.

Tác giả cho rằng : “Điều kiện cần quan trọng nhất cho tất cả mọi người tham gia không chỉ cuộc đối thoại này mà mọi cuộc đối thoại là những người tham gia phải cùng chung mục đích”.

Đây là ý cần bàn. Đối thoại có nhiều loại. Có đối thoại sự vụ, nhằm giải quyết những bất đồng trong một việc cụ thể nào đó, ví dụ cuộc đối thoại ở Đồng Tâm vừa rồi. Lại có những cuộc đối thoại về quan điểm giữa các bên khi họ có ý kiến khác nhau, có chủ trương khác nhau trên cùng một vấn đề. Lúc này đối thoại nhằm giải thích quan điểm của mình, nghe và phản bác quan điểm của đối phương. Quan trọng hơn là đối thoại được công khai để cho mọi người chứng kiến, tự mình hiểu và đánh giá ý kiến của mỗi bên để có sự lựa chọn cần thiết. Ví dụ đối thoại loại này là giữa các ứng viên tổng thống . Trong đối thoại giữa 2 ứng viên thì mục đích của mỗi người là giành phần thắng về mình và đánh bại người kia. Liệu như vậy họ có chung một mục đích hay không. Trong trường hợp như vậy, có mục đích chung của cuộc đối thoại và mục đích riêng của từng bên.

Về mục đích, Việt Long viết : “Vậy mục đích của các cuộc đối thoại là gì? Là làm sao để Đất nước chúng ta phát triển cả về kinh tế, cả về xã hội, làm sao để con người Việt Nam phát triển cả về kiến thức, cả về kỹ năng, để giá trị người Việt tương bằng với mọi dân tộc văn minh trên thế giới. Hãy đối thoại để có những phương cách đạt được điều đó”. Quá hay, quá đúng. Nhưng đó là mục đích xa, là điều trừu tượng mà ta cần hướng tới chứ chưa phải là mục đích cụ thể của từng cuộc đối thoại. Trong từng cuộc đối thoại phải nhằm đến mục tiêu cụ thể hơn, thì dụ những cam kết của 2 bên trong sự việc Đồng Tâm, vấn đề nên hay không nên duy trì chế độ công hữu ruộng đất, nên hay không nên có cái đuôi trong kinh tế thị trường, nên hay không nên có đảng đối lập, nên hay không nên kiên trì Chủ nghĩa Mác Lê ( CNML) v.v…Việt Long không viết ra nhưng qua bài viết có thể đoán là : Muốn đối thoại gì thì cũng phải giữ nguyên sự độc quyền lãnh đạo của Đảng, giữ nguyên thể chế, kiên trì CNML Nếu thế thì trước mắt có thể sửa đổi một vài chính sách nào đó, xoa dịu một vài căng thẳng đâu đó chứ làm sao đạt được mục đích xa như mong muốn.

Trong lúc Đảng kiên trì CNML và hầu hết những người bất đồng chính kiến, những nhà hoạt đông dân chủ đều cho rằng cần từ bỏ nó, thì tác giả viết : “Không ai điên bàn về chuyện đúng sai của chủ nghĩa cộng sản, hay Mác đúng hay sai, chuyện ấy các nhà triết học thế giới đã làm, còn làm”. Vâng, người ta đã làm, còn làm, nhưng Đảng vẫn kiên trì vì cho nó là đúng. Người ta làm, thế tại sao ta làm thì lại là điên. Ta khẳng định rồi à. Ta không đủ trình độ để đối thoại à.

Vạch ra một vài điều như thế để chứng tỏ đó không phải chỉ là những hạt sạn mà là những chất độc hại được cố tình giấu kín trong bài viết. Nếu không cảnh giác, cứ tin vào thiện chí và trình độ của tác giả thì có khi bị ngộ độc mà không biết.

NĐC (Tác giả gửi BVB)

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Sáu 13, 2017

20170613. ‘ĐẤT QUỐC PHÒNG’ VÀ NHÓM LỢI ÍCH QUÂN ĐỘI

ĐIỂM BÁO MẠNG

SÂN BAY & SÂN GOLF

HUY ĐỨC/ BVN 13-6-2017

sân bay Tân Sơn Nhất ngày càng quá tải

Thanh Niên là tờ báo đầu tiên phản đối việc xây dựng sân golf trong sân bay nhưng Tuổi Trẻ đã chọn đúng điểm rơi để đưa vấn đề trở lại. Đây là nỗ lực tốt để “hệ thống chính trị” phải đánh giá đúng mức độ nghiêm trọng của nó. Tuy nhiên, theo tôi, sân golf và sân bay không phải lúc nào cũng chỉ là một vấn đề, nếu không tách bạch chưa chắc đã có thể đưa ra được chính sách đúng.

Sân golf là vấn đề tham nhũng và sự tích lũy hoang dã của các nhóm tư bản thân hữu, liên quan đến việc chuyển mục đích sử dụng đất quân đội. Sân bay là vấn đề dự báo chiến lược liên quan đến tương lai của vùng tam giác phát triển Sài Gòn – Đồng Nai – Vũng Tàu. Tôi không phải là một người nghiên cứu về hàng không để có thể đưa ra một đánh giá đúng về việc xây dựng sân bay Long Thành hay mở rộng Tân Sơn Nhất. Tôi chỉ xin nhắc lại vấn đề đất quân sự, đề tài mà tôi đã viết từ năm 1989 và dành hẳn một tiểu mục trong Bên Thắng Cuộc.

Ngày 20-4-2017, nhân sự kiện Đồng Tâm, nhà báo Dương Đức Quảng đã có một bài rất hay về đề tài ĐẤT QUỐC PHÒNG. Trong thập niên 1990, nhà báo Dương Đức Quảng là Giám đốc Trung tâm Thông tin Báo chí của Văn phòng Chính phủ. Ông chứng kiến những nỗ lực cả về chính sách và chính trị của Thủ tướng Võ Văn Kiệt nhằm thuyết phục Quân đội bàn giao phần đất mà họ đang nắm giữ để sử dụng sao cho mang lại lợi ích cho quốc gia lớn nhất.

Hãy đọc ví dụ sau đây của nhà báo Dương Đức Quảng để thấy “đất quốc phòng” từng được quan niệm và đang được sử dụng thế nào: “Trong chiến tranh chống Mỹ, một đơn vị pháo phòng không Hà Nội đã bố trí trận địa ngay trên hồ Trúc Bạch để bảo vệ bầu trời thủ đô. Kết thúc chiến tranh, đơn vị pháo phòng không này đã không còn, các cán bộ, chiến sĩ đã chuyển sang các đơn vị khác, song trận địa cũ của đơn vị này vẫn tồn tại và bây giờ là đất quốc phòng. Hà Nội muốn thu hồi mảnh đất giữa hồ này nhưng không thu hồi được chỉ vì đây là đất quốc phòng. Và bây giờ chỗ trận địa pháo cũ ấy đã trở thành một nơi kinh doanh ăn uống và làm dịch vụ tổ chức sự kiện, cưới xin… do một đơn vị làm kinh tế của quân đội quản lý”.

Không chỉ có “những trận địa pháo” ở Trúc Bạch, sau năm 1975, Quân đội tiếp nhận hầu hết các cơ sở quân sự của VNCH. Trước 1975, VNCH là phần lãnh thổ chiến tranh nên nguồn lực chính, trong đó có đất đai, phần lớn được dùng phục vụ cho bộ máy chiến tranh. Lẽ ra sau 1975, đặc biệt là sau 1989, đất nước bắt đầu có hòa bình, Quân đội phải giao những phần đất không còn thực sự dùng cho quốc phòng nữa và yêu cầu Nhà nước làm tốt chính sách cho quân nhân (nếu chuyển đất đó sang thổ cư thì đối tượng ưu tiên phải là những người đã và đang phục vụ trong quân đội). Việc tiếp tục chiếm giữ hoặc lấy đất chia cho các quân nhân không bắt đầu từ một chính sách chung của nhà nước đã tạo ra sự bất bình đẳng ngay chính trong quân đội. Rất nhiều người xứng đáng được cấp đất nhưng hàng vạn người lính đã hy sinh, đã trải qua nhiều năm trong chiến tranh khác đã không hề được hưởng những ân huệ đó.

Thời “Tam Nhân Phân Quyền”, ông Võ Văn Kiệt không đủ sức mạnh chính trị để vượt qua đại tướng Lê Đức Anh, thuyết phục Quân đội chuyển giao đất quốc phòng. Thời kinh tế thị trường, các ông lớn “dân sự hóa” đất vàng trong các thành phố lớn âm thầm và nhẹ nhàng như móc cái chìa khóa từ trong túi quần ra – ngay cả những căn cứ quân sự khổng lồ như trận địa pháo của F367 trong Tân Sơn Nhất, như Ba Son, Tân cảng và nhà máy đóng tàu Sông Thu (Đà Nẵng)…

Sân golf xây trong Tân Sơn Nhất cho công luận một cơ hội lớn để lên tiếng. Không chỉ là mở rộng TSN hay không mà vấn đề chính là cần buộc các cơ quan quyền lực phải tuân thủ quyền lực nhà nước. Quân đội cần bao nhiêu đất để phục vụ cho mục đích quốc phòng thì dân sẵn sàng và nhà nước phải đáp ứng liền. Cần có chính sách cho sỹ quan quân đội, tại ngũ thì có khu gia binh; phục vụ bao nhiêu năm thì được cấp đất hay căn hộ và lâu dài là tinh, chuyên nghiệp hóa để lương có thể thuê hay tích lũy để mua nhà, căn hộ… Phần đất nào không còn phục vụ cho mục đích quốc phòng thì phải trả lại.

Nếu muốn sân golf không còn xây trong sân bay, cao ốc không còn mọc ra sau các bức tường quân sự, Chính phủ nên căn cứ Điều 65 của Luật Đất đai & Nghị định số 09/CP (Thủ tướng Võ Văn Kiệt ký ngày 12-2-1996) để tuyên vô hiệu một số hợp đồng chuyển mục đích và chuyển nhượng đất trái thẩm quyền của một số đơn vị quân đội cũng như của các cơ quan quyền lực khác. Và, từ nay phải nghiêm cấm các đơn vị công an, quân đội, các cơ quan công quyền khác chuyển quyền sử dụng đất hay tự ý thay đổi mục đích sử dụng đất (từ doanh trại, trận địa, trụ sở… sang đất phục vụ cho các nhu cầu dân sự).

Các đại biểu Quốc hội không chỉ lên tiếng mà nên ngồi lại soạn thảo một nghị quyết nhằm ngăn chặn tiến trình “dân sự hóa” một cách khuất tất đất quân đội và các loại đất chuyên dùng khác.

H.Đ.

Nguồn: https://www.facebook.com/Osinhuyduc/posts/1315660125135832

THUẬT NGỮ QUÂN SỰ MỚI: NHÀ HÀNG, SÂN GOLF LÀ ‘LÁ CHẮN PHÒNG THỦ’

THIỀN LÂM/ BVN 13-6-2017

(VNTB) – Vụ “sân golf trong sân bay” ở Sài Gòn đang đầy ắp dấu hiệu “nhiệm vụ quốc phòng an ninh” như lối ngụy biện trấn áp dân trước khi nổ ra cuộc khủng hoảng Đồng Tâm ở thủ đô của Bộ Chính trị.

Đầy đến nỗi, nhà văn Nguyễn Quang Vinh viết trên báo Dân Việt phải mỉa mai rằng không thể viện “quốc phòng an ninh” để xem nhà hàng, khách sạn, sân golf là “lá chắn phòng thủ” ở khu vực Tân Sơn Nhất.

clip_image002

Thuật ngữ quân sự mới: Nhà hàng, sân golf là ‘lá chắn phòng thủ’!

Tại kỳ họp quốc hội tháng 5 – 6 năm 2017, hẳn nhóm lợi ích sân golf Tân Sơn Nhất và Bộ Quốc phòng đã bị bất ngờ bởi một làn sóng “đấu tố” quyết liệt từ đại biểu Quốc hội về nạn “sân golf trong sân bay”.

Đến nỗi, lần đầu tiên đã hiện ra một viên tướng quân đội – Thiếu tướng Lâm Quang Đại, Phó chính ủy Quân chủng Phòng không – Không quân, phát ngôn thay cho Bộ Quốc phòng: “Bộ Quốc phòng thống nhất sẽ thu hồi sân golf trong Tân Sơn Nhất bất cứ thời điểm nào khi có nhu cầu về quốc phòng hoặc khi có chỉ thị của cấp trên”.

Không hiểu ông Lâm Quang Đại có được viên tướng Bộ trưởng Quốc phòng là Ngô Xuân Lịch ủy quyền hay không? Hoặc nếu được ủy quyền để phát ngôn như vậy thì khi nào mới có “nhu cầu về quốc phòng”?

Nhưng dù gì, phía quân đội vẫn chỉ viện dẫn “nhu cầu quốc phòng” mà cố tình bỏ qua một thực tế khốn quẫn là nhu cầu về dân sự của một sân bay Tân Sơn Nhất không còn chỗ len chân, trong khi sân golf Tân Sơn Nhất có thể đủ để làm cả một sân bay mới.

Gần đây, “người phát ngôn Bộ Quốc phòng” Lâm Quang Đại còn cố gắng bao biện cho nhóm lợi ích quân đội: “Tôi nghĩ sân golf chiếm diện tích nhỏ thôi, chỉ 132 ha trong số 157 ha. Còn giai đoạn 2 xây dựng một số hạng mục liên quan đến thể thao thì vẫn chưa triển khai”, đồng thời chỉ ra “giải pháp”:  “Sự tồn tại của sân bay hiện nay tôi thấy đã vô lý rồi. Nếu xảy ra sự cố hàng không, chuyện về chiếc máy bay là đương nhiên, nhưng ở mặt đất tai nạn sẽ khôn lường”.

Cái cách ông Đại nói là “vô lý” của sân bay hiện hữu cũng chính là “giải pháp” của nhóm lợi ích đã vận động chính phủ thời Nguyễn Tấn Dũng, Quốc hội để thông qua dự án sân bay Long Thành lên đến 18 tỷ USD.

Vào tháng 3/2017, một bài viết trên Facebook Chống quan tham còn nêu ra một khả năng cực kỳ đáng lo ngại: một khi sân bay Long Thành đi vào hoạt động và toàn bộ hành khách của sân bay Tân Sơn Nhất sẽ chuyển về sân bay Long Thành, 800 ha đất vàng của sân bay Tân Sơn Nhất sẽ rơi vào tay một đại gia của nhóm lợi ích quân đội là ông Dương Công Minh.

Còn nhớ vào cuối năm 2015, hoàn toàn ngược pha với cơn bức xúc của nhiều đại biểu Quốc hội về gánh nợ công quốc gia chồng chất như núi, hàng loạt sóng PR từ mặt báo, hội thảo đến “vận động hành lang” nơi nghị trường cho việc thông qua dự án sân bay Long Thành đã trở nên dồn dập và hết sức lộ liễu. Nhiều lý do “lợi ích kinh tế” và kể cả “ích lợi dân sinh” được nhóm PR dàn dựng, trong đó luôn nhấn mạnh đến nguyên nhân “sân bay Tân Sơn Nhất quá tải” và do đó cần phát triển hướng mới sang sân bay Long Thành.

Cũng trong thời gian trên, sân bay Tân Sơn Nhất “vô tình” bị liệt vào một trong 10 sân bay tệ nhất thế giới, được báo chí Việt Nam vừa vô tình vừa hữu ý ồn ào lan tỏa. Dù từ lâu đã bị cảnh “sân golf lấn sân bay,” nhưng chưa bao giờ trong lịch sử của mình, Tân Sơn Nhất lại bị hắt hủi rẻ rúng đến thế.

Đến sát thời điểm Quốc hội chuẩn bị “bỏ phiếu” về dự án sân bay Long Thành, vụ sập nguồn ở sân bay Tân Sơn Nhất bất ngờ nổ tung.

Ngay lập tức, một luồng dư luận bùng nổ, đề cập đến một âm mưu có thể đã được những bàn tay ma quái và tàn nhẫn nào đó sắp xếp nhằm biến sân bay Tân Sơn Nhất thành một hệ quả không thể không thay thế, bất chấp tai nạn hàng không tang thương hoàn toàn có thể xảy ra do sự cố mất điện.

Chỉ sang năm 2016 mới lộ hẳn vụ Tập đoàn Him Lam của ông Dương Công Minh đã chiếm dụng 157 ha đất của sân bay dân sự Tân Sơn Nhất từ nhiều năm qua. Dự án sân golf trong sân bay này cũng do Tập đoàn Him Lam làm chủ đầu tư…

Câu chuyện “lá chắn phòng thủ” chính là như thế.

T.L.

VNTB gửi BVN

TƯỚNG LÂM QUANG ĐẠI: ‘SẼ THU HỒI SÂN GOLF KHI CÓ LỆNH CẤP TRÊN”

P.THẢO /DT 12-8-2017

Thiếu tướng Lâm Quang Đại trao đổi với báo chí bên hành lang Quốc hội sáng 12/6.
Thiếu tướng Lâm Quang Đại trao đổi với báo chí bên hành lang Quốc hội sáng 12/6.

– Nhiều ý kiến cho rằng diện tích sân golf hiện tại nếu thu hồi sẽ xây dựng được một đường băng ngắn và hạ tầng nhà ga quốc nội cho sân bay Tân Sơn Nhất. Ông cũng từng cho biết, Bộ Quốc phòng sẽ thu hồi sân golf trong Tân Sơn Nhất bất cứ lúc nào để phục vụ việc này?

– Tôi không phải là dân thiết kế nên những vấn đề chi tiết đó tôi không nắm. Vấn đề hiện tại thực ra là, Tân Sơn Nhất đã có 2 đường băng, giờ cái thiếu là đường lăn và sân đỗ.

Như tôi được biết, vừa qua, Bộ GTVT và Bộ Quốc phòng đã có thảo luận về vấn đề này. Từ đó, chúng tôi đã có bàn giao 21ha đất quốc phòng ở phía Nam cho sân bay để tiếp tục mở rộng nhà ga và sân đỗ máy bay, dưới sự chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Quốc phòng. Việc này, tới đây sẽ mở ra một hướng mới là mở rộng giao thông sân bay sang bên đường Cộng Hoà.

Tức là phần lấy từ diện tích đất quốc phòng 21ha mà thực tế Bộ Quốc phòng đã thực hiện bàn giao này là để giải quyết bức xúc hiện nay của sân bay Tân Sơn Nhất. Phần đất này không liên quan gì đến chỗ sân golf vì đây là khu đất ở phía Nam trong khi khu sân golf là ở phía bắc sân bay.

– Sẽ làm được những gì với 21 ha đất đã bàn giao này?

– Sẽ xây được sân đỗ mới, 1 nhà ga hàng không lưỡng dụng mới và 1 hệ thống đường giao thông đi ra đến đường Hoàng Hoa Thám, theo tôi được biết là thế. Hiện phía Bộ Quốc phòng mới sơ bộ bàn giao đất cho Bộ GTVT.

– Nhưng những hạng mục công trình này được cho là không thể giúp giải quyết căn cơ vấn đề quá tải của Tân Sơn Nhất khi sân bay sẽ lại sớm đầy tải chỉ trong thời gian ngắn. Phần đất do Bộ Quốc phòng quản lý ở phía Bắc sân bay thì thế nào, thưa Thiếu tướng?

– Ở phía Bắc sân bay thì hiện còn có 11 đơn vị của quân đội đóng quân ở đó, gồm các đơn vị pháo của quân chủng phòng không không quân, các đơn vị ra đa…

– Quan điểm lấy nốt cả 157ha đất sân golf để nâng cấp, mở rộng, giải cứu cho Tân Sơn Nhất được cho là khả thi, mang lại thay đổi đột phá cho sân bay. Ý kiến của ông về việc này thế nào, nếu thực hiện, việc này có làm ảnh hưởng gì đến hoạt động an ninh quốc phòng?

– Thực ra 157ha này là đất dự phòng của Quốc phòng, để bảo vệ TPHCM và bản thân sân bay Tân Sơn Nhất. Ngày trước, đây là khoảng đất trống. Như các bạn đã biết, tại phiên thảo luận tại tổ đầu kỳ họp, tôi cũng có trả lời một số kiến nghị của cử tri là hiện tại Bộ Quốc phòng nhất quán quan điểm chỉ sử dụng đất quốc phòng nhàn rỗi để phát triển kinh tế, lấy một nguồn kinh phí để củng cố quốc phòng, để xây dựng các doanh trại quân đội.

Còn quan điểm thứ 2, nếu có nhu cầu về quốc phòng, Bộ Quốc phòng sẽ thu hồi vô điều kiện diện tích đất này khi có mệnh lệnh của cấp trên và liên quan đến nhiệm vụ quốc phòng.

– Ý kiến của nhiều người cho rằng việc tổ chức sân golf ở vị trí này không hợp lý, không đảm bảo an toàn vì sân nằm rất gần đường băng, sân bay?

– Là đơn vị quản lý của quân chủng Phòng không không quân quản lý tại đây, tôi biết rất rõ việc này. Thực ra, khu vực sân golf, trước khi sang đến phần diện tích của sân bay thì còn qua một vành đai, phần của các đơn vị quốc phòng đang đóng tại đó do quân chủng chúng tôi quản lý, như các đơn vị đại đội pháo phòng không bảo vệ sân bay chứ không phải liền kề với đường băng.

– Như ông nói, sân golf này thuộc đất dự phòng quốc phòng nhưng thực tế khi triển khai kinh doanh, nhà đầu tư thậm chí đã có kế hoạch làm và rao bán các hạng mục công trình như biệt thự, căn hộ cao cấp, trường học ở đây với thời hạn sử dụng đất tới 50 năm. Điều này có mâu thuẫn với nguyên lý là đất phục vụ quốc phòng?

– Khi có mục đích quốc phòng phát sinh thì kể cả là đất được giao sử dụng làm gì, xây nhà, làm trường học, trong hạn 50 năm hay bao nhiêu đi nữa thì cũng phải thu hồi, vô điều kiện. Đó là quan điểm đã được nhất quán.


Từ hướng đường Tân Sơn, phóng tầm mắt qua khu sân A của sân golf VIP này có thể nhìn thấy máy bay hạ cánh... (Ảnh: Nguyễn Quang)

 

Từ hướng đường Tân Sơn, phóng tầm mắt qua khu sân A của sân golf VIP này có thể nhìn thấy máy bay hạ cánh… (Ảnh: Nguyễn Quang)

– Doanh thu từ sân golf hiện tại thế nào, thực tế có đóng góp được nhiều kinh phí để đầu tư lại cho các hoạt động quốc phòng như ông nói? Lợi ích mang lại từ việc này, nếu có, so với lợi ích cao hơn là lợi ích quốc gia, để “giải cứu” Tân Sơn Nhất thế nào. Đó là còn chưa tính tới những lo ngại sân golf hiện thu hút lượng khách hầu hết là người nước ngoài đến, không có lợi gì với hoạt động quốc phòng an ninh?

– Thực ra sân golf này đã mở ra hướng ra bên ngoài, không liên quan đến các đơn vị quân đội trong sân bay. Ở đây có các hợp phần hợp tác giữa các đơn vị quốc phòng với phát triển kinh tế.

Còn doanh thu của sân golf thì tôi không nắm được. Tôi chỉ nói về những gì mình biết với tư cách một đơn vị quản lý đất sân bay. Còn để thực hiện sân golf này, tôi biết có tới 133 văn bản các cấp. Mình chỉ hiểu, đây là đất quốc phòng, còn để chuyển mục đích sử dụng đất thì cần có những quyết định cao hơn từ Bộ Quốc phòng.

– Có ý kiến băn khoăn, việc giao cho một đơn vị của Bộ Quốc phòng làm đơn vị tư vấn, xây dựng các phương án giải cứu Tân Sơn Nhất là không khách quan. Vậy nên phương án mở rộng sân bay về phía Bắc với phần đất lấy của sân golf được vẽ ra đầy khó khăn, bất khả thi. Ông kiến giải gì về vấn đề này?

– Tôi không có ý kiến về việc này.

– Liên quan đến việc quản lý, sử dụng đất quốc phòng, sau vụ việc ở xã Đồng Tâm liên quan đến đất tại sân bay Miếu Môn vừa qua, có ý kiến cho rằng, cần phân biệt rõ đất dùng cho mục đích quốc phòng và đất giao cho các đơn vị quốc phòng quản lý vì hiện có chuyện lẫn lộn giữa những khái niệm này khiến người dân không nhất trí?

– Đất quốc phòng trước hết phải sử dụng cho mục đích quốc phòng. Như tôi đã nói, quan điểm của Bộ Quốc phòng, chỉ khai thác đất này vào mục đích kinh tế trong thời kỳ đất còn nhàn rỗi để có một nguồn kinh phí quay lại phục vụ hoạt động quốc phòng, củng cố các doanh trại quân đội. Sau nữa, đất có thể thu hồi bất cứ khi nào thời điểm nào, vô điều kiện khi có mục đích sử dụng quốc phòng, khi có lệnh của cấp trên nếu việc sử dụng đất đó ảnh hưởng đến nhiệm vụ quốc phòng.

Còn đối với sân bay Tân Sơn Nhất, nếu có ý kiến cho là sân golf ảnh hưởng đến yêu cầu đảm bảo an toàn hàng không thì hai bên (Bộ GTVT và Bộ Quốc phòng – PV) sẽ thảo luận, trrao đổi và có ý kiến lên. Còn các vấn đề thu hồi hay không thì không phải là trách nhiệm của tôi.

– Xin cảm ơn Thiếu tướng!

Older Posts »

Categories