Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Mười 24, 2017

20171024.

ĐIỂM BÁO MẠNG

Advertisements
Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Mười 23, 2017

20171023. NGHĨ VỀ VỤ KỶ LUẬT BÍ THƯ ĐẢNG ỦY XÃ ĐỒNG TÂM

ĐIỂM BÁO MẠNG

THÔI CŨNG ĐÀNH, COI NHƯ ‘SÒNG PHẲNG CUỘC CHƠI’

FB LƯU TRỌNG VĂN/ BVB 22-10-2017

Khai trừ Đảng bí thư, kỷ luật 4 lãnh đạo xã Đồng Tâm - Ảnh 1.

Bà Nguyễn Thị Lan, bí thư Đảng ủy xã Đồng Tâm,
tại buổi chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đối thoại với người dân – Ảnh: NGUYỄN KHÁNH

Em Lan, bí thư đảng xã Đồng Tâm bị kỷ luật khai trừ. Nhiều người quan tâm vụ Đồng Tâm rất bất bình vì trong sự việc đất đai Đồng Tâm, em Lan tỏ ra đứng về phía bà con đòi đất.
Gã nghĩ khác. Em Lan bị khai trừ là đúng mặc dù lỗi của em bé bằng con kiến so với các bác bộ trưởng, bí thư tỉnh, thành, các bác ấy tội tầy trời, làm mất uy của đảng tầy trời nhưng chỉ bị cách cái chức… nguyên của mình thôi, chứ chả bác nào bị kỷ luật nặng nề như em Lan bị khai trừ, tức bị đuổi ra khỏi đảng.
Tại sao lại đúng?
Giản đơn là đảng viên phải tuân thủ kỷ luật và điều lệ của đảng. Khắp thế giới đảng nào chả thế. Điều lệ và kỷ luật của đảng rành rành, đảng viên phải tuyệt đối phục tùng chỉ đạo của lãnh đạo đảng cấp trên và không được bỏ vị trí của mình khi xảy ra sự cố liên quan đến sự lãnh đạo của đảng.
Luật chơi là thế. Đã chơi phải theo luật chơi.
Gã nhớ lại lẩu lâu rồi, gã có dự một cuộc họp của Hội VHNT tỉnh Lâm Đồng tuyên bố quyết định của thường vụ tỉnh uỷ Lâm Đồng cách chức chủ tịch hội của nhà thơ Bùi Minh Quốc và quyết định khai trừ đảng nhà thơ.
Gã ngồi bên ông Tám Cảnh bí thư tỉnh uỷ. Gã phản ứng, theo luật thì đảng không có quyền cách chức chủ tịch một đoàn thể. Ông Tám rướn chiếc kính gườm gườm gã rồi cất cái giọng Quảng Ngãi đặc sệt nói: Ở Lâm Đồng này đảng lãnh đạo tuyệt đối. Ai không thích thì đi chỗ khác. Dạ vâng, gã chào… thua.
Khi tan họp, gã gặp nhà thơ Bùi Minh Quốc tác giả của bài thơ đầy khí thế:
Cuộc đời vẫn đẹp sao
Tình yêu vẫn đẹp sao
Người mà gã bảo có cái tội duy nhất là: Yêu nước quá đà.
Gã kể lại lời gã và lời ông Tám bí thư. Rồi gã thêm một câu xanh rờn. Rằng, theo gã, đảng khai trừ ông Quốc là đúng. Nhà thơ ngớ ra nhìn gã, cái mũi vốn hay đỏ thêm đỏ rực rỡ.
Gã bảo, ông là đảng viên phải tuân theo kỷ luật, kỷ cương của đảng. Ông bỏ đi biên giới xem bọn Tàu lấn chiếm thế nào, trong khi đảng bộ Lâm Đồng không quan tâm chuyện đó, ra lệnh ông về, ông không về. Tội vô kỷ luật rành rành. Oan ức quái gì?
Gã lại nhớ tại Đại hội Nhà báo VN, gã xin không tham gia ứng cử vào ban chấp hành. Ông Trần Trọng Tân – trưởng ban Văn hoá Tư tưởng TW hỏi gã, sao lại rút lui. Gã đáp, theo gã thì bất cứ ai tham gia ban lãnh đạo một tổ chức đoàn thể nào của đảng cũng phải tuân theo tư tưởng của đảng. Gã do không thông các nghị quyết của đảng nên gã xin rút lui.
Ông Tân đã bắt tay gã và nói: như thế là sòng phẳng.
Vâng. Sòng phẳng. Em Lan à, em bị khai trừ là sòng phẳng. Cũng như nhà thơ Bùi Minh Quốc ngày nào thôi.
Cũng vì sòng phẳng mà nhà báo Tống Văn Công, nguyên tổng biên tập báo Lao Động, một tổng biên tập theo gã tử tế nhất nước đã xin ra khỏi đảng khi thấy đảng và mình khác biệt về mục tiêu, lý tưởng, tư tưởng.
Cũng vì sòng phẳng, mà mới đây GS. Tương Lai cũng tuyên bố ra khỏi đảng cộng sản để tham gia đảng Lao động.
Sòng phẳng, em Lan à. Không ai bắt em vào đảng. Em tự nguyện vào, thì em phải chấp nhận sòng phẳng cuộc chơi.
Lưu Trọng Văn/(FB Lưu Trọng Văn)
TRẦN ĐẠI QUANG, ‘NGƯỜI VỀ TỪ CÕI CHẾT’
VIỆT HÀ/ Vietfact 21-10-2017

Sau khi “từ cõi chết trở về”, mặc dù mình mẩy còn đang đau nhức ê ẩm, nước da tái nhợt, xanh xao, gò má hóp hẳn đi, “long thể” gầy đi cả chục ký. Đầu tóc rụng nhiều tạo thành một vùng hói sau gáy… Tất cả đều do thấm đòn của đối phương với những cú đánh trực diện vào “long nhan” của ngài. Khiến ngài phải liên tục đi nước ngoài “thay máu”. Làm cho dư luận một thời gian sôi sùng sục vì sự vắng mặt khó hiểu của ngài, và đồn ầm lên là ngài đã “ra đi”.

Và gần đây là những cú đánh “dưới thắt lưng” của phe Tổng Trọng, đòi đưa đám đàn em sân sau của ngài tại Đà Nẵng vào lò, khiến ngài Chủ tịch “long thể bất an”.

Thì mấy hôm nay, ngài phải lấy hết can đảm và nhuệ khí của một vị tướng CA, từng cầm đầu đoàn quân “Nam tiến” đi dẹp loạn tại vùng Tây Nguyên những năm đầu thế kỷ XXI.

Ngồi ở những hàng ghế đầu trong hội trường cả một tuần lễ trong cái gọi là Hội nghị TƯ 6, mà thực chất là cuộc dọn dẹp những cặn bã rác rưởi đã tràn ngập nhầy nhụa trong ngôi nhà ĐCSVN hiện nay sau những trận tỉ thí “một mất một còn”. Ngài phải nở những nụ cười thật tươi. Giấu những cơn đau vào lòng, như kiểu:

“Cây cúc đắng giấu lòng mình đang đắng
Nở hoa vàng bên suối để ong bay”

(thơ Phạm Tiến Duật).

Và ngồi yên lặng nghe “bên thắng cuộc” ba hoa chích chòe những lời chót lưỡi đầu môi có cánh về những chiến công của chúng. Như có ai xát muối vào vết thương lòng của ngài. Khi phải chứng kiến nhóm này đưa bọn đàn em lên thớt. Lòng ngài tê tái lắm.

Nhiều cử tri TP. Đà Nẵng chất vấn tại các buổi tiếp xúc cử tri của các vị ĐBQH TP. Đà Nẵng rằng, nhân vật Phan Văn Anh Vũ (Vũ nhôm) là ai mà có thể khuynh đảo cả lãnh đạo thành phố này. Làm cho nhân dân TP. Đà Nẵng phải chứng kiến một trận bom B52 khủng khiếp giữa thời bình trên chính trường trong những ngày qua?

Đại đa số họ không biết rằng, mẹ vợ của đại gia “Vũ nhôm” đầy quyền lực kia, là con chị con em với phu nhân ngài Chủ tịch nước Trần Đại Quang. Và trong số 9 dự án với 31 nhà công sản được bán một cách mờ ám không đấu giá tại Đà Nẵng những năm qua. Kể cả những dự án băm nát Bán đảo Sơn Trà, cũng có hình bóng của “Vũ nhôm”. Chiếc xe tiền tỷ và hai căn nhà số 45;47 Nguyễn Thái Học, TP. Đà Nẵng, cũng của “Vũ nhôm” biếu ngài cựu Bí thư Nguyễn Xuân Anh, thì nhiều người biết. Nhưng rất có thể còn nhiều điểu bí ẩn sau đó. Đợt thanh tra lần này chắc sẽ khui ra nhiều chuyện. Nhưng họ có dám công khai ra trước dân, để “dân giám sát” như họ thường rêu rao không lại là chuyện khác.

Điều này giải thích vì sao, giữa một bầy mối chúa nhan nhản khắp cả nước hiện nay, đang hàng ngày đục khoét và hút máu nhân dân một cách vô cùng tàn nhẫn. Làm cho nguy cơ sụp đổ cơ nghiệp của nhà sản không xa. Như tập đoàn BOT của Bộ GTVT; Tập đoàn VN Pharma của mụ Kim Tiến. Và bao nhiêu dự án ngàn tỷ đang đắp chiếu khắp cả nước chờ ngày thanh lý bán sắt vụn. Những Nguyễn Văn Bình, Võ Kim Cự, Trịnh Văn Chiến… mà nếu đánh vào chúng, thì chiến lợi phẩm thu được còn gấp trăm lần bọn chuột con tại Đà Nẵng.

Điều này giải thích vì sao, nếu nói làm giàu bất chính nhờ vơ vét của dân, thì Huỳnh Đức Thơ gấp trăm lần Nguyễn Xuân Anh. Tuy cùng bị kỷ luật, nhưng Huỳnh Đức Thơ chỉ được nói đến như kiểu “có liên quan”.

Thế mà phe nhóm ông Trọng bỏ qua tất cả. Và quyết tâm nghiến răng quyết diệt nhóm sân sau của ngài tại Đà Nẵng cho bằng được. Với hành động đánh vào “nhóm lợi ích” tại Đà Nẵng lần này, chứng tỏ ngài Tổng Trọng đã ra đòn đánh dằn mặt, cảnh cáo ngài Chủ tịch nước rồi đấy.

Ngài Chủ tịch ngồi lặng lẽ hồi tưởng lại sự nghiệp lẫy lừng của mình ở những năm bọn “mọi” Tây Nguyền vùng lên đòi làm chủ mảnh đất ngàn đời nay đã là giang sơn của tổ tiên họ.

Giữa lúc họ đang sống yên lành dưới những cánh rừng đại ngàn, được thiên nhiên ban tặng cho cho sự màu mỡ của đất và sự phong phú của những sản vật quý giá từ núi rừng. Sau khi đoàn quân của vị “cha già dân tộc” của ngài vượt Trường Sơn vào miền Nam để giải phóng cho nhân dân miền Nam, trong đó có người dân Tây Nguyên, thoát khỏi ách cai trị rên xiết của bọn Mỹ – Ngụy. Để cho “Bên thắng cuộc” ào ào “tiến về Sài Gòn chiếm nhà mặt tiền”.

Thế mà những người chân chất hiền hòa như con nai rừng này đã không biết ghi nhớ công ơn của bác của đảng, đã hy sinh hàng triệu sinh mạng mới cướp được chính quyền này. Giờ đây chúng đã nghe theo sự xúi dục của các thế lực thù địch, đòi vùng lên để thoát khỏi bàn tay cai tri sắt máu của đảng CSVN. Đòi lại tự do dân chủ thực sự cho nhân dân.

Họ không hề biết rằng, dưới chế độ độc quyền chính trị của cộng sản Việt Nam hiện nay, thì những quyền sơ đẳng nhất của con người như “tự do, dân chủ và nhân quyền”, chỉ là những món hàng xa xỉ, không bao giờ người dân có quyền mơ ước.

Trong cuộc chiến cam go nhằm dạy cho bọn người Thượng một bài học này, ngài được trao “Thượng phương bảo kiếm”, vào Tây Nguyên dẹp loạn.

Lúc này ngài còn mang hàm Thiếu tướng.

Không như những vị tướng quân oai hùng hét ra lửa khác. Ngài áp dụng chiến thuật của kẻ “mạt thế dùng mưu”. Ấy là cho đàn em trong ngành CA, ăn mặc như những người dân tộc Tây Nguyên, học nói tiếng của đồng bào dân tộc. Trà trộn vào các đám biểu tình đang hừng hực khí thế kia. Những người CA cải trang này đã cất giấu gạch đá trong người. Họ ném gạch đá vào các lực lượng của nhà nước được huy động để giữ trật tự. Thế là có lý do chính đáng cho các lực lượng vũ trang ra tay đàn áp khốc liệt.

Tất nhiên là những người biểu tình do lực lương yếu, và thiếu tổ chức chặt chẽ. Trước thế lực hùng hậu đầy thủ đoạn độc ác và gian manh của nhà cầm quyền, ngoài hàng chục ngàn CA được huy động khắp các tỉnh Tây Nguyên đến đàn áp người biểu tình ra, còn có Cảnh sát cơ động 113, chó nghiệp vụ, và lực lượng quân đội hùng hậu. Kể cả lực lượng đặc công tinh nhuệ nữa.

Với lực lượng chênh lệch như vậy, những người biểu tình phải tháo chạy tán loạn. Đây là lúc những kẻ đã được huấn luyện võ nghệ thuần thục mấy năm trời trong lực lượng CA, ra tay thi thố những ngón đòn độc đáo nhất. Họ nhắm vào những kẻ cầm đầu của nhóm người biểu tình, và đập chết hàng loạt.

Như rắn mất đầu. Thế là phong trào biểu tình đòi lại đất cha ông của những người Tây Nguyên bị tan rã. Họ chạy vào rừng sâu heo hút để trốn tránh sự lùng sục của chính quyền, đang quyết tâm bắt cho bằng được. Một số khác chạy sang Campuchia, Thái Lan để lánh nạn.

Chiến lợi phẩm cho các đồng chí CA là chiếm ngay những căn nhà mặt tiền ngon lành của những kẻ gây rối bỏ chạy, tại thành phố Ban Mê Thuộc và nhiều khu đô thị khác…

Không ai có thể kết tội CA đánh chết người vì không có bằng chứng. Mặc dù mọi người thừa biết thủ phạm là ai.

Vốn xuất thân bần hàn từ giới “khố rách áo ôm”: Cha ngài làm nghề xách dép cho những người đơm đó bắt cá trên sông Đáy. Mẹ làm nghề buôn thúng bán mẹt dọc đường. Hàng hóa là những mớ rau, nải chuối mua đi bán lại cho khách qua đường. Nhưng nhờ thành tích giết người man rợ tại chiến dịch đàn áp đồng bào Tây Nguyên năm 2004, Trần Đại Quang được “thăng” như diều gặp gió.

Năm 2007, được thăng hàm Trung tướng.

Tháng 1 năm 2011: Tại Đại hội XI của ĐCSVN, ngài được vào Bộ Chính trị.

Ngày 02- 8- 2011, ngài đá văng Đại tướng Lê Hồng Anh, vị tướng được ngành CA thân ái gọi là tướng 3 không (không làm nên tích sự gì, không nói được câu nào cho ra hồn, và không hiểu biết về nghiệp vụ chuyên môn).

Giành được ghế Bộ trưởng CA đầy quyền lực khi còn là Trung tướng. Ngành CA lúc đó gọi là cuộc chiến “Trung tướng châu chấu đá lật xe Đại tướng bị thịt”.

Cuối năm 2011, được phong hàm Thượng tướng.

Và chỉ một năm sau, cuối năm 2012, được phong hàm Đại tướng.

Phải công nhận nghệ thuật “cải lão hoàn đồng” của ngài là bậc thầy, và có tầm nhìn xa. Ngày 20/9/2004, khi còn là Thiếu tướng, ngài đã lái được ông Đinh Văn Hùng, Chủ tịch tỉnh Ninh Bình, ký cho ngài cái giấy xác nhận số 182/UB-VP7, trong đó công nhận ông Trần Đại Quang sinh ngày 12/10/1956. Quê quán: xóm 13 xã Quang Thiện, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.

Trước kỳ Đại hội Đảng CSVN khóa XI năm 2011, theo tuổi thật thì ông Trần Đại Quang sinh năm 1950, ở đội tuổi này, đáng lẽ ngài phải về hưu vì theo quy định nhân sự trong đảng, ứng viên tham gia Bộ Chính trị lần đầu phải dưới 60 tuổi. Nhờ cái Giấy xác nhận thần kỳ này mà trong ĐH XI, ngài được ngồi vào ghế UVBCT (2).

Trong cuộc đời làm Tướng CA của Trần Đại Quang, thành tích nổi bật nhất là học được miếng võ Becgie, tức chiến thuật đánh lén.

Nếu như trước đây, Võ Nguyên Giáp khoe khoang về việc sáng chế ra cái gọi là “chiến tranh nhân dân”, và mạnh miệng khoác lác rằng, trong thế kỷ XX, nhân loại có hai phát minh vĩ đại nhất về lĩnh vực quân sự, là vũ khí nguyên từ và Chiến tranh nhân dân. Thì nay, Trần Đại Quang cũng có thể tự hào, và lập hồ sơ xin xét cấp giải Nobel về phát minh nghệ thuật “đánh lén” này.

Dân gian có câu: “Võ nghệ cao tay không bằng dao phay chém lén” là vậy.

Sau này, ngành CA đã áp dụng chiến thuật đánh lén một cách tràn lan. Điển hình là các vụ tấn công vào LS Nguyễn Văn Đài, Trương Dũng, Trương Minh Tam, Trịnh Anh Tuấn, Trần Bang, Nguyễn Chí Tuyến… Kể cả những cú đánh “dưới đũng quần phụ nữ” đối với Phạm Đoan Trang, Trần Thị Nga, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh; Nguyễn Hoàng Vi v.v… Đều là những chiến công oanh liệt của họ.

Những vụ đánh đập này thường được đổ tại cho mâu thuẫn xã hội, khó có bằng chứng nào để dư luận bảo vệ nhân quyền quốc tế lên án nhà nước Việt Nam.

Sau khi Hội nghị TƯ6 kết thúc, ngài Chủ tịch phải gấp rút vào ngay thành Hồ, nơi người đồng hương họ Đinh vừa mất ghế Bí thư, để làm cái thủ tục gọi là “tiếp xúc cử tri”.

Nếu như ở các nước văn minh, việc hơn 100 người chết do lũ lụt và đất vùi tại các tỉnh phía Bắc vừa qua, người ta sẽ tổ chức Quốc tang để tưởng niệm các nạn nhân xấu số này. Và dẹp hết các cuộc vui chơi để chia sẻ nỗi đau với các gia đình nạn nhân. Hoặc như vợ chồng TT Mỹ còn mò đến vùng bão lụt thăm và động viên đồng bào của ông ấy. Nhưng với các vị lãnh đạo đảng ta, thì 100 người chết ấy có nhằm nhò gì so với con số hơn 300 người bị công an đập chết trong các trại tạm giam trong mấy năm qua. Mà dân số VN những hơn 90 triệu cơ mà. Chết bấy nhiêu thì ăn thua gì? Hãy quên các nạn nhân lũ lụt ấy đi. Để các vị cùng nhau đi nhảy múa và ăn mừng cuộc chiến vừa qua đã kết thúc cái đã.

Tại thành Hồ, ngài được “con chim mồi” Trương Văn Bình, cử tri Quận 3 “Bày tỏ vui mừng khi trực tiếp thấy Chủ tịch nước hồng hào mạnh khỏe, nỗi lo của tôi biến mất. Ông xuất hiện cho chúng tôi thêm niềm tin, sức mạnh”.

Và trước những đòi hỏi của nhân dân thành Hồ, đề nghị nhà nước phải công khai tài sản các quan chức. “Đề nghị học tập Singapore, đưa danh sách tài sản của quan chức lên website. Phải công khai như vậy thì dân mới giám sát được, chứ như hiện nay dân không thể nào biết”.

Đối với những nhà nước độc tài đảng trị như Việt Nam hiện nay, tuy yêu cầu này là chính đáng, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân. Nhưng để thực hiện yêu cầu này còn khó hơn yêu cầu ĐCSVN từ bỏ Điều 4 Hiến pháp, là từ bỏ sự độc tôn lãnh đạo đất nước của ĐCSVN. Vì nếu công khai tài sản của các vị này, thì họ làm sao dám vơ vét để mua nhà và gửi tài khoản, mua visa dài hạn nước ngoài? Lấy gì tài trợ cho con du học. Để khi trong nước có biến, thì họ đã có ổ lót sẵn, chỉ việc xách vali chuồn lẹ. Như cựu ĐBQH Nguyệt Hường và nhiều vị khác ấy.

Nghe vậy mà lòng ngài tê tái. Lúc này ngài đã nhận thấy rõ ràng là bàn tay lông lá của phe ông Lú đang thọc sâu vào vùng kín của phe nhóm mình.

Chẳng những vậy, ngài lại còn bị ám ảnh về việc sửa năm sinh, từ 1950 thành 1956, làm cho mấy người em của ngài có tuổi lớn hơn anh.

Việc ông Đinh Văn Hùng, Chủ tịch Ninh Bình, vì ký giấy xác nhận tuổi cho Trần Đại Quang, nên đã bị kỷ luật về hưu sớm. Vậy là kẻ trèo cây hái cam, bị gai đâm chảy máu, té nhào xuống hố. Để cho kẻ hưởng lợi ngồi dưới gốc cam, ung dung thưởng thức vị ngọt của trái cây một cách ngon lành.

Và ngài hồi tưởng lại những cái chết êm ái của mấy đồng chí đàn em như Phạm Quý Ngọ, Nguyễn Bá Thanh… Trong đó, với cái chết của vị Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Công an đầy sinh lực Phạm Quý Ngọ, làm cho ngài rất nhức nhối. Vì tên mất nết Dương Chí Dũng đã dám khai ra việc nó có đưa cho Phạm Quý Ngọ số tiền 1 triệu đô, của Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, để xin ngài bộ trưởng CA làm ngơ cho việc chuyển đổi công năng Cảng Sài Gòn. Vì “tụi chúng nó đã thống nhất với ngài Bộ trưởng CA Trần Đại Quang rồi”. Điều này đã khiến dư luận gọi mỉa mai về cái chết của Phạm Quý Ngọ như sau:

“Tin đâu như sét đáng ngang

Thượng tướng đang sống chuyển sang từ trần

Bạn bè đồng chí mừng thầm

Anh đi như rứa nhiều thằng yên thân”. 

Làm cho ngài lo âu và rất khó chịu. Hóa ra dù ngài đã bố trí tụi đàn em thực hiện kế hoạch một cách kín đáo như vậy. Tưởng không ai có thể biết được. Thế mà dư luận nghi ngờ có dấu vân tay của ngài trong cái chết của Phạm Quý Ngọ?

Ngài rùng mình nhớ đến cái Văn bản số 13-TB/TW Thông báo Kết luận của Ban Bí thư về việc xác định tuổi của đảng viên. Trong đó “thống nhất xác định tuổi của đảng viên theo tuổi khai trong hồ sơ lý lịch đảng viên (hồ sơ gốc) khi được kết nạp vào Đảng. Đây là căn cứ, cơ sở để các cấp ủy, tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét khi quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử; bố trí, sử dụng và thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ là đảng viên”(3).

Điều này chứng tỏ phe ông Trọng đang nhắm vào gót chân Achilles của ngài.

Chắc chắn cái Thông báo chết tiệt này của phe ông Tổng Trọng đầy thủ đoạn gian manh quỷ quyệt ấy, phải có sự tham mưu và hậu thuẫn hết mình của anh bạn “Bốn tốt” phương Bắc, đang căm thù ngài bầm gan tím ruột. Chắc chắn họ không để ngài yên thân khi họ đang trên đà thắng thế. Nếu tiêu diệt được ngài thì công cuộc Hán hóa càng mau thành công.

Vậy là hai gọng kìm rõ ràng là đang ngày càng siết vào cổ ngài.

Lúc này ngài mới thấm thía câu nói của ai đó rằng, “Chính trường là chiến trường”.

Vốn là một đảng viên ĐCSVN vô thần vô thánh, nên ngài không tin vào Luật Nhân quả. Nhưng với những gì đang diễn ra trước mắt, ngài nghĩ rằng, phải chăng đã đến lúc ngài phải trả giá cho những món nợ máu mà ngài và đám đàn em đã gây ra với nhân dân trong nhiều năm qua. Chính những chiến công này là những nấc thang đưa ngài lên bậc danh vọng trong sự nghiệp.

Với những cú ra đòn của phe ông Trọng, chứng tỏ phe Tổng Trọng chưa muốn dừng lại khi ông này tuyên bố trong bài diễn văn bế mạc Hội nghị TW6: “Những ai tay đã nhúng chàm thì phải kịp thời gột rửa gấp”. Phải chăng Tổng Trọng đang muốn lột trần truồng ngài? Thật là quá đáng.

Lời khuyên cho ngài Chủ tịch nước kính yêu lúc này là: Ngài hãy phát huy bản lĩnh của vị tướng CA khét tiếng oai hùng và gian xảo năm nào. Ngài và đàn em của ngài đã đập chết biết bao nhiêu người vô tội, trong và ngoài các trại tạm giam và trại tù từ trước đến nay, thì hãy dừng lại. Đừng gây thêm nợ máu với nhân dân. Ngài và lớp đàn em đông như kiến của ngài phải vận dụng câu nói của kẻ gian hùng Tào Tháo thủa xưa rằng: “Thà ta phụ người không để người phụ ta”. Hãy nhất tề vùng lên, bắt cho bằng được và bóp nát “con mối chúa” Nguyễn Phú Trọng quăng vào lò nó đã xây sẵn.

“Hãy trở về với chính nghĩa của nhân dân.

Hãy lập công chuộc những lỗi lầm.

Nhân dân VN sẽ ủng hộ và tha thứ cho ngài.

Ngài hãy tin tưởng vào chính nghĩa của nhân dân VN.

Hết những cơn mưa trời lại sáng. Đó là chân lý.

Quan nhất thời. Dân vạn đại. Đó là chân lý.

Xăng có thể cạn. Lốp có thể mòn. Song số máy số sườn là không bao giờ thay đổi”.

Chúc ngài Chủ tịch mau hồi phục sức khỏe để có sức chiến đấu.

HÃY TIN VINGROUP, NHƯNG CHỈ MỘT ĐIỀU THÔI

TRỌNG NHÂN/ BVN 23-10-2017

Chuyện cũ

Hải Phòng có thể được coi là địa phương có… truyền thống với nghề sản xuất ô-tô. Từ khoảng hơn 20 năm trước, Hải Phòng đã là địa phương có 2 nhà sản xuất ô-tô lớn nhất nước thời điểm đó. Đó là Công ty TNHH Chiến Thắng và Công ty TNHH Hoa Mai, cũng là 2 trong số những nhà sản xuất ô-tô đầu tiên của Việt Nam. Sản phẩm “đầu tay” của cả hai doanh nghiệp này là những chiếc công nông “đầu ngang”, “đầu dọc” lắp trên khung gầm tự chế hoặc tận dụng.

Có thể phì cười với danh xưng nhà sản xuất ô-tô đầu tiên mà Hoa Mai và Chiến Thắng được gán cho nhưng không thể phủ nhận thực tế những chiếc xe lai lắp máy công nông lên khung gầm ô-tô của hai doanh nghiệp này đã giải đúng nhu cầu về phương tiện vận tải giá rẻ, chất lượng chấp nhận được cho giai đoạn đó. Suốt đầu những năm 2000, khách cả nước thậm chí phải đặt hàng và chờ một thời gian thì mới được nhận xe do hai doanh nghiệp này sản xuất.

Tất nhiên, là những doanh nghiệp mở đường, cả Hoa Mai và Chiến Thắng đều không chịu “ngồi yên” với công nông đầu ngang. Đây cũng chính là hai doanh nghiệp tiên phong nhập khẩu động cơ, linh kiện ô-tô Trung Quốc và các nước khác về Việt Nam để sản xuất ra những xe tải mang thương hiệu và giá bán thuần Việt là Hoa Mai và Chiến Thắng. Đến thời điểm này, tức là những năm đầu thập kỉ 2000, Thaco Trường Hải chưa phải tên tuổi có thể so sánh với Hoa Mai và Chiến Thắng trong lĩnh vực sản xuất ô-tô. Khi đó, ông Nguyễn Sáng Mãi, chủ Công ty TNHH Chiến Thắng nhập linh kiện về và cho lắp ráp tại công ty một mẫu ô-tô 7 chỗ cỡ nhỏ của Trung Quốc. Ông tính giá thành mỗi chiếc ô-tô này khoảng 80 triệu đồng là đã có lãi. Giá này tương đương khoảng 3 chiếc xe máy Honda Dream Thái đang là mốt ngày đó. Ông Sáng Mãi tính nếu có tiền để đầu tư, có thể giảm giá chiếc xe xuống nữa, nhờ vào sản xuất nhiều linh kiện ngay trong nước, biến chiếc xe thành thuần Việt với khoảng 70% tổng thành được nội địa hóa. Gần 15 năm sau, Công ty TNHH Chiến Thắng của ông Sáng Mãi vẫn là một nhà sản xuất ô-tô cỡ nhỏ,  Thaco Trường Hải giờ đã là nhà sản xuất ô-tô lớn nhất Việt Nam, với quy mô công suất và doanh thu gấp hàng nghìn lần Công ty TNHH Chiến Thắng. Năm 2016, doanh số của Thaco đạt 110.548 xe, chiếm 32% thị phần ô-tô Việt Nam. Nhưng cả Công ty TNHH Chiến Thắng, Hoa Mai, hay Thaco Trường Hải đều không nâng được tỉ lệ nội địa hóa ở những khâu then chốt nhất. Giá thành ô-tô do các doanh nghiệp nội sản xuất vẫn ở mức cao quá khả năng thu nhập của đa số công chúng. Việt Nam vẫn hoàn toàn chưa có một thương hiệu ô-tô Thuần Việt cho đến khi hi vọng ấy được xới lại bởi một tập đoàn  nổi tiếng về bất động sản và chưa từng làm quen với sản xuất công nghiệp: Vingroup.

Chuyện mới

Về bản chất, ô-tô thương hiệu Việt mà Vingroup vừa công bố đầu tư là tham vọng lớn hơn hẳn và là sự khác biệt hoàn toàn với giấc mơ nâng cao tỉ lệ nội địa hóa trong sản xuất ô-tô. Nhưng đó chưa hẳn đã là nguyên nhân khiến sự kiện Vingroup chuyển qua sản xuất ô-tô lại ồn ào hơn câu chuyện Thaco đầu tư sang bất động sản vì nếu việc Thaco đầu tư sang bất động sản phần nào cho thấy sự bế tắc trong phát triển của công nghiệp ô-tô, khi doanh nghiệp dẫn đầu thị trường phải tìm mảng đầu tư khác thì ngược lại, việc doanh nghiệp bất động sản số một “ném tiền” vào ô-tô lại cho thấy tham vọng, và cả hi vọng, vào thị trường này còn nguyên chứ chưa hề thất bại như quy hoạch phát triển ngành.

Tất nhiên, chừng ấy chưa đủ bảo đảm thành công cho Vingroup trong sản xuất ô-tô, dù cho nghe nói hãng bỏ hàng chục triệu USD mỗi năm thuê những cựu kĩ sư của Tesla thiết kế công nghệ xe điện hay bắt tay với BMW thiết kế động cơ, mời phòng thiết kế Ý thiết kế mẫu cho xe thương hiệu Việt… Tất cả những thông tin ấy công chúng đã nghe tới nhàm tai từ những nhà sản xuất ô-tô đã khởi công nhà máy tại Việt Nam trước đó nhiều chục năm.

Tại một báo cáo gần đây của Bộ Công Thương về chiến lược phát triển ngành ô-tô Việt Nam, bộ này nhận định đến năm 2020, dự kiến nhu cầu thị trường ô-tô trong nước đạt khoảng 450.000 đến 500.000 xe mỗi năm, đến năm 2025 đạt khoảng 800.000 – 900.000 xe và năm 2030 khoảng 1,5 – 1,8 triệu xe. Nhu cầu ô-tô của thị trường trong nước được Bộ Công Thương dự báo như vậy là tăng gấp đôi sau mỗi 5 năm. Đó có lẽ là sức hút để Vingroup đầu tư vào ô-tô dù phải ít nhất 2 năm nữa, những chiếc ô-tô đầu tiên của hãng mới có thể xuất hiện trên thị trường.

Mục tiêu sản xuất với tỉ lệ nội địa hóa lên đến 60%, những chiếc xe chạy xăng của Vingroup được cam kết sẽ có tiêu chuẩn khí thải châu Âu 5.0 và 6.0, và sau 24 tháng, những sản phẩm xe chạy xăng đầu tiên sẽ là mẫu Sedan 5 chỗ, một SUV 7 chỗ… Phân khúc xe tầm trung là mục tiêu Vingroup hướng tới nhưng thách thức lớn nhất trong giấc mơ ô-tô của Vingroup có thể không chỉ ở việc tạo ra một thương hiệu xe thuần Việt hay dòng xe chạy xăng. Định hướng chiến lược sản phẩm của hãng là xe điện, bao gồm xe máy điện và ô-tô điện. Nhưng nếu xe máy điện đã hứa hẹn thành công về thị trường do nhu cầu cao, lượng tiêu thụ lớn thì thành công với ô-tô điện lại vẫn là ẩn số. Dẫu ô-tô điện đã bắt đầu bùng nổ tại Trung Quốc, Mỹ hay nhiều nước khác với lượng tiêu thụ hàng trăm nghìn xe mỗi năm thì tại Việt Nam, ô-tô điện vẫn chưa có đủ điều kiện để trở thành đại chúng. Hệ thống hạ tầng phục vụ ô-tô Việt Nam từ hàng chục năm qua xây dựng, vận hành là để phục vụ dòng xe sử dụng nhiên liệu hóa thạch như xăng, dầu. Do thế, để ô-tô điện có thể đại chúng hóa như xe chạy xăng, chạy dầu, việc hình thành hệ thống phục vụ loại xe này trên địa bàn cả nước có lẽ sẽ còn yêu cầu vốn đầu tư lớn hơn hẳn 3,5 tỉ USD để đầu tư sản xuất xe và hàng chục năm thay đổi thói quen sử dụng, lựa chọn của người tiêu dùng. Trong trường hợp xe điện, thương hiệu Việt hay thiết kế, chất lượng ngoại có lẽ không đóng vai trò quyết định bằng hệ thống chăm sóc, hạ tầng phục vụ xe.

Nói cách khác, với quyết tâm của mình, Vingroup đã phát động cuộc cách mạng về công nghệ giao thông tại Việt Nam và đó là một thách thức quốc gia chứ không là chuyện riêng của một doanh nghiệp có thể tự xử lí. Hãy tin vào quyết tâm của Vingroup còn chuyện thành hay bại trên thị trường ô-tô Việt, có lẽ còn phải chờ may rủi.

T.N

Nguồn: http://viettimes.vn/hay-tin-vingroup-nhung-chi-mot-dieu-thoi-138410.html

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Mười 22, 2017

20171022. BÀN VỀ KÍCH TÍN DỤNG

ĐIỂM BÁO MẠNG

KÍCH TÍN DỤNG- NÊN NHỚ BÀI HỌC CŨ

PHẠM XUÂN HÒE/ LĐO/ BVN 21-10-2017

Tăng trưởng tín dụng cao hơn tăng trưởng huy động có thể coi là có dấu hiệu tăng trưởng nóng. Ảnh: PV

Tăng trưởng tín dụng cao hơn tăng trưởng huy động có thể coi là có dấu hiệu tăng trưởng nóng. Ảnh: PV

Chúng ta không nên tăng trưởng bằng mọi giá mà nhất là tăng trưởng thông qua kích thích tín dụng để bơm tiền ra nền kinh tế trong khi các tế bào của nền kinh tế vẫn đang ốm yếu.

Để phấn đấu đạt tăng trưởng GDP vào các quý cuối năm 2017, Chính phủ đã “bật đèn xanh” để Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chỉ đạo hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) tăng trưởng tín dụng khoảng 21-22%. Tính đến cuối tháng 9-2017, tín dụng đã tăng 11,02%, như vậy room còn lại khoảng 10%. So dư nợ 5,5 triệu tỉ cuối năm 2016 thì việc tiếp tục bơm tiền từ kênh tín dụng 10% cho nền kinh tế sẽ tăng thêm khoảng 550 ngàn tỉ đồng.

Nhiều chuyên gia cảnh báo cần rất thận trọng khi kích thích tăng trưởng GDP bằng kích thích tăng nhanh tín dụng. Tôi hoàn toàn đồng tình quan điểm này và vì những bài học cũ mà việc tăng tín dụng đã làm kinh tế Việt Nam trả giá đắt cho rủi ro lạm phát, bất ổn kinh tế vĩ mô. Những bài học này đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Kí ức siêu lạm phát

Những năm 1986-1989 là thời kì siêu lạm phát. Có năm chỉ số CPI trên 800%. Phát kiến “sai lầm” trong việc in tiền thực hiện bù giá vào lương gây ra lạm phát phi mã, NHNN lúc đó buộc phải đẩy lãi suất huy động lên 9-12%/tháng (tương đương 108-144%/năm) để hút tiền về. Kết quả giảm lạm phát nhưng gây ra hệ lụy khoảng 68 ngàn doanh nghiệp nhà nước (DNNN) phá sản, trên 60 vạn lao động mất việc làm. Ở thời kì đó, Việt Nam nâng mặt bằng giá lên 10 lần nhưng phần chênh lệch giá vật tư nguyên liệu tăng lên 9 lần được bóc ra, chênh lệch đưa hết về ngân sách để chi tiêu, phần DNNN giữ lại chỉ là 1. Đó là căn nguyên làm cho gánh nặng vay nợ của DNNN gia tăng.

Tín dụng ngân hàng chính là rốn đựng cho số thiếu vốn này. Cái giá phải trả về rủi ro lạm phát ở thời kì này rõ nhất là người gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng lúc gửi là cả con bò đến khi rút ra không mua nổi bát phở. Những bài học về cái giá phải trả để chống lạm phát của thời kì đó đã được rút ra như bất cập trong chính sách quản lí cung cầu hàng hóa, quản lí giá, trong việc phối hợp giữa chính sách tiền tệ (CSTT) và chính sách tài khóa (CSTK) khi chuyển từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường… đã giúp Việt Nam tăng trưởng GDP ổn định ở mức khá cao trên 8%/năm cho đến đầu những năm 2000.

Tín dụng tăng nóng – bài học nợ xấu & thanh khoản

Khi nào tăng trưởng tín dụng cao hơn tăng trưởng huy động thì đều có thể coi là có dấu hiệu tăng trưởng nóng. Cả giai đoạn 2001-2007, tốc độ tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng bình quân trên 30%, năm cao kỉ lục là 51,54% (2006), trong khi huy động vốn chỉ trên 20%. Có thể xem đây là thời kì tín dụng tăng trưởng nóng nhất của hệ thống ngân hàng. Hệ quả là ngay cuối năm 2007 đầu 2008, Việt Nam đã phải tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Nhưng do ảnh hưởng khủng hoảng tài chính toàn cầu lan ra từ Mỹ, bắt đầu từ tháng 10-2008 đến cuối năm 2010, Việt Nam tập trung ngăn chặn đà suy giảm kinh tế. Lúc này, theo quyết định của Chính phủ, NHNN thực hiện gói hỗ trợ lãi suất 4%/năm có giá trị tương đương 1 tỉ USD, nghĩa là bơm tiền ra nền kinh tế được gia tăng hơn. Cộng hưởng của cả hai giai đoạn này đưa đến hệ quả ngay sau đó sang năm 2011 lạm phát bùng trở lại, chỉ số CPI ở mức 18,58%. Thêm nữa, chính sách tài khóa cũng cùng nhịp mở rộng, hàng ngàn dự án đầu tư ở các cấp được phê duyệt, vốn chưa có nhưng bên trúng thầu cứ đi vay ngân hàng thi công, chờ đợi mỏi mòn tiền thanh toán từ túi ngân sách vốn đã eo hẹp. Kênh tín dụng bùng nổ, dòng tiền làm cho “bóng bóng” bất động sản và chứng khoán gia tăng đến nỗi NHNN phải có Chỉ thị số 03 (2008) chỉ đạo các ngân hàng giảm dư nợ cho vay bất động sản và chứng khoán. Đến năm 2011, khi Nghị quyết 11 của Chính phủ ban hành chủ trương thắt chặt cả chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, tiền được hút về mạnh mẽ làm cho “bong bóng xì hơi”, hàng ngàn doanh nghiệp phá sản hoặc sống lay lắt, căn bệnh nợ xấu ngân hàng bùng phát lên đến đỉnh điểm trên 17% (tháng 9-2012) mà đến nay, qua 5-6 năm chúng ta vẫn loay hoay về bài toán xử lí nó.

Cũng ở các năm 2011-2012, căng thẳng thanh khoản của các ngân hàng vọt lên đến đỉnh điểm, lãi suất liên ngân hàng (các ngân hàng cho vay lẫn nhau) lên đến trên 30%/năm nhưng cũng không có tiền để cho nhau vay. Quay về huy động từ nền kinh tế thì buộc các NHTM lách trần lãi suất 14% để có được nguồn vốn duy trì thanh khoản. Cứu thanh khoản, đã rất nhiều người làm nghề ngân hàng vướng vào vòng lao lí với tội danh “vi phạm các quy định quản lí kinh tế, gây hậu quả nghiêm trọng”.

Chỉ trong thời gian chưa đầy 5 năm (2007- 2011), xuất phát từ nhiều nguyên nhân nhưng có lẽ nguyên nhân căn bản vẫn từ nội tại nền kinh tế và cách thức điều hành, đã đưa Việt Nam có tới 4 lần điều chỉnh mục tiêu và cách thức điều hành chính sách kinh tế vĩ mô, gồm:

Lần 1: từ năm 2007 tới nửa đầu năm 2008, mục tiêu là kiểm soát lạm phát nên các chính sách kinh tế hướng đến việc thắt chặt. Chính sách chủ đạo chống lạm phát vẫn là CSTT. CSTK gần như chưa đồng nhịp vì chi tiêu Chính phủ và đầu tư công vẫn gia tăng .

Lần 2:  từ cuối năm 2008 đến năm 2009, mục tiêu lại là chống suy giảm kinh tế, các chính sách tiền tệ và tài khóa cùng nới lỏng nhưng nghiêng nhiều về sử dụng CSTT bằng việc sử dụng gói hỗ trợ lãi suất 4% như đã nói ở trên, nguồn tiền cũng bơm từ NHNN (CSTT đã làm thay CSTK).

Lần 3: trong khoảng 10 tháng đầu năm 2010, mục tiêu là kiềm chế lạm phát và hỗ trợ đà phục hồi tăng trưởng (mục tiêu lưỡng hệ). CSTT được điều hành thận trọng, CSTK tiếp tục gia tăng đầu tư công.

Lần 4: từ  nửa sau của năm 2011 (NQ11), mục tiêu lại là chống lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. CSTT được sử dụng mạnh mẽ qua tăng lãi suất lên đến đỉnh điểm, thắt chặt chi tiêu công, đình hoãn các dự án đầu tư.

Điểm lại bài học từ lịch sử những thay đổi về mục tiêu và cách thức điều hành các chính sách vĩ mô của nền kinh tế, trong đó hai chính sách quan trọng là CSTT và CSTK để rút ra một kinh nghiệm sáng giá nhất là cần phải đổi mới, nâng cao công tác điều hành nền kinh tế một cách căn cơ, bài bản, kĩ trị hơn.

Chúng ta không nên tăng trưởng bằng mọi giá, nhất là tăng trưởng thông qua kích thích tín dụng để bơm tiền ra nền kinh tế trong khi các tế bào của nền kinh tế vẫn đang ốm yếu với các biểu hiện như: khu vực DNNN có nhiều dự án thua lỗ nghìn tỉ; khu vực doanh nghiệp dân doanh (chủ yếu doanh nghiệp nhỏ và vừa) thì tình hình tài chính còn hạn chế, quản trị kế hoạch kinh doanh chưa bài bản, thiếu điều kiện gọi vốn; khu vực kinh tế cá thể, hộ gia đình chủ yếu sản xuất nông nghiệp nông thôn, sản xuất nuôi trồng còn theo phong trào, chưa gắn kết theo chuỗi giá trị, gắn với thị trường nên tình trạng “cứu trợ” cho rớt giá vẫn diễn ra; khu vực có tăng trưởng cao là FDI thì hầu như không vay vốn từ ngân hàng Việt Nam.

Toàn cảnh về chủ thể vay vốn ngân hàng trong nước hầu như còn đang ốm yếu như vậy, nếu cứ thúc đẩy bơm tín dụng thì cuối cùng vốn sẽ chảy vào khu vực luôn “ngốn tiền” nhiều nhất là BĐS và chứng khoán. Xin hãy thận trọng, đừng để loại “bong bóng” này tái phát,  và đừng để lần nữa quốc gia lại đau đầu về nợ xấu ngân hàng.

P.X.H

Nguồn: http://laodong.vn/kinh-te/kich-tin-dung-nen-nho-bai-hoc-cu-568570.ldo

LIÊN TỤC SỬA ĐỔI THUẾ, LUẬT THUẾ VẪN RỐI

TÔ HÀ/NLĐ/ BVN 21-10-2017

Ngày 14-9-2017, Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) tiếp tục tổ chức hội thảo tại Hà Nội để lấy ý kiến rộng rãi của cộng động doanh nghiệp (DN) và các chuyên gia đóng góp sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sửa đổi 5 luật thuế nhằm bảo đảm tính hợp lí, khả thi của luật khi được ban hành.

Bao lâu thì lại điều chỉnh?

Bà Đặng Thị Bình An, chuyên gia thuế và hải quan cho biết Luật Thuế GTGT đã được sửa đổi rất nhiều lần trong các năm 2008, 2010, 2013, 2014 và gần đây nhất là năm 2016. Trong đó, nhiều nội dung không mang tính chất ổn định, “lúc rút ra, lúc đưa vào” khiến DN rất khó thực hiện. “Việc phân biệt đối tượng chịu thuế GTGT 5% hay 10% là vướng mắc từ nhiều năm nay của DN nhưng chưa giải quyết được. Ví dụ với thiết bị y tế, dự thảo kể ra mấy loại. Sau này, nếu phát sinh các loại máy móc, thiết bị mới, hiện đại hơn, cơ quan quản lí lại phải đưa người vào hướng dẫn, vừa không đúng luật vừa tốn kém mà DN vẫn không biết áp thuế suất bao nhiêu” – bà An phân tích.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan đặt vấn đề với đại diện Bộ Tài chính: “Ngân sách sẽ tăng thu bao nhiêu nếu tăng thuế GTGT? Có bền vững không hay chỉ 2 năm sau lại điều chỉnh tiếp? Việc sửa thuế có phù hợp chủ trương tái cơ cấu nền kinh tế, trong đó có chủ trương phát triển ngành nông nghiệp, dịch vụ không, hay lại đánh thuế vào chính những ngành đang cần hỗ trợ?”. Chuyên gia này cho rằng phải có đơn vị độc lập đứng ra lập báo cáo đánh giá tác động, không nên để Bộ Tài chính tự làm. Việc sửa luật thuế phải đi đôi với chiến lược giảm bội chi ngân sách. “Tăng thuế phải đặt trong tổng thể các chi phí khác nữa. Người dân, DN đang kêu vì phải chịu rất nhiều thứ chi phí kinh khủng khác chứ không chỉ có thuế. Bộ Tài chính là cơ quan quản lí, cần đặt vấn đề trong bối cảnh chung, tách riêng việc của ngành mình và cứ nhằm tăng thu là không được” – bà Lan bức xúc.

Cùng quan điểm, ông Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) cho rằng Bộ Tài chính lấy danh nghĩa điều chỉnh thuế để tăng nguồn thu trong khi không kiểm soát được bội chi ngân sách nên người dân phản ứng rất mạnh. Bởi lẽ họ không biết thuế sẽ còn tiếp tục tăng lên bao nhiêu nữa trong tương lai. Muốn có sự ổn định về tài chính ngân sách thì phải có chính sách giảm chi, minh bạch chi.

Nguy cơ đóng băng thị trường nhà đất

Cũng tại hội thảo, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản (BĐS) Việt Nam Nguyễn Mạnh Hà nhận định thị trường BĐS sẽ gặp nguy nếu đề xuất bỏ quy định chuyển quyền sử dụng đất (SDĐ) không chịu thuế GTGT để chuyển sang chịu thuế này với mức thuế suất thông thường 10% của Bộ Tài chính được chấp thuận. Bởi lẽ giao dịch nhà đất hiện phải chịu phí trước bạ 0,5%, thuế thu nhập cá nhân 2% – tổng cộng là 2,5% giá trị giao dịch. Nếu đánh thuế GTGT chuyển quyền SDĐ như đề xuất thì phải chịu thêm thuế 10%-12% nữa, tức là tăng 7 lần so với thuế, phí hiện hành. “Một căn hộ trung bình giá 2 tỉ đồng mà phải nộp thuế 15% là rất cao, rất nguy hiểm vì thị trường BĐS có quan hệ với thị trường lao động, sản xuất vật liệu xây dựng, đặc biệt là tín dụng. Tín dụng ngân hàng hiện chiếm khoảng 10% tổng dư nợ toàn hệ thống. Trong đó, các khoản vay có thế chấp bằng nhà đất chiếm khoảng 70%. Nếu giá nhà cao, thị trường không có giao dịch sẽ khiến nợ xấu gia tăng. Trước đây, Chính phủ đánh thuế chuyển quyền SDĐ 4% đã không ai nộp và họ chuyển sang mua bán trao tay thôi” – ông Hà cảnh báo.

Tương tự, với đề xuất bỏ quy định tính thuế GTGT đối với hoạt động kinh doanh BĐS được trừ giá chuyển quyền SDĐ hoặc tiền thuê đất phải nộp ngân sách nhà nước, ông Hà cho biết tiền SDĐ chiếm 20%-30%, nhà liền kề là từ 50%-70%. Như vậy, nếu giá nhà 1 tỉ đồng thì tiền SDĐ phải nộp ít nhất là 200-300 triệu đồng, nếu không cho khấu trừ tiền SDĐ thì giá nhà sẽ tăng khoảng 5%-7% tùy từng loại. Điều này rất nghiêm trọng vì giá nhà ở Việt Nam vẫn còn cao, đang cần có chủ trương giảm xuống để tạo điều kiện cho người dân có nhà ở, trong khi chính sách thuế lại kéo giá nhà tăng lên, khiến thị trường đen tối đi. Ông Hà kiến nghị cơ quan soạn thảo cần phải có báo cáo tác động của việc tăng thuế đối với thị trường này, trước mắt không nên sửa đổi thuế GTGT đối với nhà đất.

Ông Bùi Ngọc Tuấn, Phó tổng giám đốc Dịch vụ tư vấn thuế Deloitte Việt Nam cũng cho rằng các đề xuất điều chỉnh thuế GTGT liên quan thị trường BĐS nêu trên tác động khá lớn đến toàn xã hội nhưng chưa bảo đảm điều kiện về pháp lí đưa ra. Bản chất thuế GTGT là thuế đánh trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ lưu thông tiêu dùng. Khi nhìn nhận như vậy, quyền SDĐ theo Luật Thương mại không được xem là hàng hóa thông thường. Hơn nữa, việc áp thuế GTGT vào quyền SDĐ sẽ ảnh hưởng đến kinh tế – xã hội vì giao dịch BĐS tạo ra luồng luân chuyển về tài chính tiền tệ, chiếm tỉ trọng lớn trong tín dụng, tiêu dùng đối với hệ thống ngân hàng. Đánh thuế GTGT lên quyền SDĐ thực tế là đánh thẳng vào người tiêu dùng cuối cùng mà bỏ qua đối tượng kinh doanh theo dạng thương mại. Điều này ảnh hưởng đến quyết định giao dịch của người mua, khiến thị trường bị chững lại, kéo theo hàng loạt hệ lụy đối với các ngành liên quan.

Kết cấu thuế chưa hợp lí

Bà Đặng Thị Bình An cho rằng thuế GTGT của Việt Nam cao hơn các nước chứng tỏ kết cấu thuế trong tổng thu ngân sách chưa hợp lí. Có nhiều khoản thu khác phát sinh, trong khi nền kinh tế thị trường nhưng thuế chưa bao quát hết, chưa thu được. Hàng chục năm qua, hệ thống thuế chỉ được bổ sung 1 loại thuế mới là thuế bảo vệ môi trường. Do đó, cần nghiên cứu đưa ra nhiều loại thuế khác, như thuế tài sản.

T.H

Nguồn: http://nld.com.vn/kinh-te/lien-tuc-sua-doi-luat-thue-van-roi-20170914213919885.htm

MỘT THẬP KỶ NGÂN HÀNG VIỆT

FB LE DUNG/ BVN 21-10-2017

So với một ngành đổi mới khá nhanh, đó là xây dựng, ngành ngân hàng đã có một bước chuyển dịch lớn và căn bản về khuôn khổ pháp lí, đi từ pháp lệnh “lên” Luật từ năm 1997, trong khi luật xây dựng đầu tiên được “thăng hạng” từ pháp lệnh lên luật năm 2003. Hai bộ luật quan trọng nhất của ngành ngân hàng (Luật Ngân hàng và Luật Các tổ chức tín dụng) đều được hình thành dưới thời ông Cao Sỹ Kiêm và thay thế vào năm 2010 dưới thời ông Nguyễn Văn Giàu.

Dù được đánh giá là người thông tuệ và có hiểu biết sâu về ngành ngân hàng, gần 2 nhiệm kì của ông Lê Đức Thúy được ghi nhận chủ yếu ở việc để cho các ngân hàng tư nhân nở rộ và phát triển như các trường đại học thời ông Nhân bên giáo dục. Và hệ lụy để lại kéo dài sang 3 đời thống đốc vẫn chưa kết thúc.

Nhiệm kì của ông Nguyễn Văn Giàu dù được “đánh giá” là không có chuyên môn sâu về ngành ngân hàng lại ghi dấu ấn ngoạn mục bởi việc ban hành thay thế 2 bộ luật quan trọng có từ trước đó với 13 năm “ngồi yên” (trong khi ngành xây dựng dù đi sau nhưng liên tục sửa đổi và ban hành luật thay thế).

Tuy thế, ở thời này, ngân hàng nhà nước gần như đánh mất vai trò quản lí nhà nước của mình, đẩy hầu hết cộng đồng xã hội vào một cuộc đua và chống chọi với lãi suất, có khi lên đến hơn 30%/năm. Đây cũng là giai đoạn mà tỉ giá hối đoái có nhiều biến động nhất, nhiều lúc người ta nhầm tưởng phố Hà Trung mới là nơi đóng trụ sở của Vụ Quản lí ngoại hối – Ngân hàng Nhà nước. Người người đi buôn đô. Người người đi buôn đất, buôn nhà. Hàng hàng lớp lớp các chủ đầu tư vay mượn và xây dựng khu đô thị. Cảm giác của thời cuộc trước 2012 là win-win, nhìn đâu cũng thắng, mua đâu cũng lãi. Hệ lụy để lại cho đầu thời ông Nguyễn Văn Bình là nợ xấu bùng lên như dịch bệnh. Ngành xây dựng điêu đứng vì thiếu vốn. Bao gia đình nặng thì tan nát, nhẹ thì tán gia bại sản vì chết chìm theo các chủ đầu tư. Trong thời khắc đó, ông Bình ruồi vụt sáng lên như một người hùng bởi giải quyết được mấy vấn nạn căn bản và mãn tính bị buông lỏng từ sản phẩm của người tiền nhiệm. Bình khống chế và kéo được lãi suất về chỉ chưa bằng một nửa thời ông Giàu. Khoanh vùng, phân nhóm và kiên quyết xử lí nợ xấu. Bình ổn thị trường ngoại tệ bằng cách đưa Vụ Quản lí ngoại hối từ Hà Trung về trong vòng tay cha mẹ – Ngân hàng nhà nước. Góp phần biến một xã hội toàn đi buôn bạc hoặc sản phẩm của bạc thời Nguyễn Văn Giàu về làm ăn lương thiện. Các nhà buôn bạc gác kiếm.

Tuy thế, nỗi đau của nhiều người vướng chân bởi ngân hàng bùng nổ thời anh Giàu chính là cái cách Ngân hàng Nhà nước quy định về mua bán, xử lí nợ xấu, trong đó rõ nhất là anh Thắm và khách hàng anh Thắm.

Theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) thì khi giá thị trường của tài sản bảo đảm còn lớn hơn số tiền vay thì không được ghi nợ xấu. Thông tư của Ngân hàng Nhà nước thì yêu cầu ghi nợ xấu theo tuổi nợ (số ngày quá hạn), tính theo % dư nợ trừ đi giá trị tài sản bảo đảm, mà tài sản bảo đảm đánh giá chỉ bằng 50% giá “sổ sách”. Hệ lụy để lại là nợ không xấu thì dồn cho người ta thành xấu rồi bảo ngân hàng lỗ, người vay bị tịch biên tài sản phát mại, và góp phần đẩy ngân hàng đến giá 0 đồng. Trong khi nếu xem lại báo cáo kiểm toán Ocean Bank trước khi Hà Văn Thắm bị bắt, do Delloitte thực hiện vào tháng 3-2014 (http://oceanbank.vn/…/u…/BAOCAOKIEMTOA-31Dec2013-V_chuan.pdf), mọi thứ đều đáp ứng chuẩn mực cần có của một ngân hàng có “sức sống lành mạnh”, chỉ trừ ý kiến sau đây của kiểm toán viên: “Ngân hàng nắm giữ các khoản tiền gửi và dư nợ tín dụng của ngân hàng đối với Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy (SBIC, trước đây là Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam – Vinashin) và một số công ty thuộc SBIC đã quá hạn thanh toán. Tuy nhiên, trong năm 2013, căn cứ văn bản chỉ đạo của cơ quan quản lí nhà nước về xem xét khoanh nợ, cơ cấu lại các khoản nợ của SBIC và cho phép tổ chức tín dụng được trích lập dự phòng cụ thể phù hợp với khả năng tài chính của tổ chức tín dụng, ngân hàng đã thực hiện ý kiến chỉ đạo, giữ nguyên trạng thái nợ hiện tại, thoái toàn bộ lãi dự thu và trích lập dự phòng đối với các khoản nợ và phải thu trên cơ sở phù hợp khả năng tài chính của Ngân hàng”.

Hà Văn Thắm là một cá thể, một con người, sao anh ta lại trở thành người hùng “giải cứu và khoanh nợ” cho sự thua lỗ của nhà nước? Sao không có bất cứ bị cáo nào đưa dữ liệu này vào để chứng minh rằng họ yêu nước hơn nhiều người tưởng, mà thậm chí họ ngay thẳng, trung chính đến mức dù có đi tù cũng không thèm nói nửa lời (về khoản đóng góp đáng kể đó cho nhà nước thông qua khoanh nợ Vinashin theo yêu cầu) để tính toán thiệt hơn với nhà nước đang bỏ tù họ?

Sau đó, Ngân hàng Nhà nước đã không bác được ý kiến “công nhận toàn phần” của Delloitte nên năm sau (2014 và 2015), họ vời Ernst & Young. Khởi đầu E&Y “từ chối đưa ra ý kiến”, sau với nhiều sửa đổi và yêu cầu, cuối cùng kiểm toán E&Y đành phải chỉ mục mục đích sử dụng của nó là “chỉ được cung cấp “đặc biệt” cho Ngân hàng Nhà nước” ( http://viettimes.vn/ve-2-bao-cao-kiem-toan-doc-lap-cung-nga… ). Tuy thế, trong đó có một chi tiết cần quan tâm, đó là kiểm toán E&Y đưa ra nhấn mạnh về “số dư nợ không thể xác minh”.

Một số doanh nghiệp, trong đó có Vinamilk, đã chính thức đệ trình lên Bộ Tài chính xin được sử dụng chuẩn mực báo cáo tài chính IFRS ( https://kienthucketoanthue.wordpress.com/categ…/ifrs/page/4/ ). Hi vọng sắp tới sẽ có nhiều, mà đặc biệt là doanh nghiệp có phần vốn góp của nhà nước theo đuổi và tuân thủ chuẩn mực này để tránh cho mình những hệ lụy đáng tiếc như Hà Văn Thắm đã gặp phải.

Để kết thúc, tôi xin mượn lời một số chị em tung hoa trên mạng sau khi nhiều đồng nghiệp và cấp dưới bày tỏ lòng kính trọng và tiếc thương Hà Văn Thắm, sau khi Hà Văn Thắm nhận mức án cao nhất dành cho mình và xin tha cho họ, bởi họ chỉ là những người làm thuê.

Họ, các chị em ấy mà, đã đồng thanh hô to, vang lừng cả cõi mạng: Thắm ơi, em yêu anh!

Nguồn: https://www.facebook.com/le.dung.98499/posts/10155574536002221

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Mười 21, 2017

20171021. PHÊ PHÁN SÁCH PHÊ PHÁN

ĐIỂM BÁO MẠNG

PHÊ PHÁN SÁCH PHÊ PHÁN

NGUYỄN ĐÌNH CỐNG/ BVN 21-10-2017

Kết quả hình ảnh cho nguyễn đình cống

1- Giới thiệu

Sách phê phán (SPP) là quyển “Phê phán các quan điểm sai trái, xuyên tạc cuộc đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về chính trị trong đảng. Sách do Hội đồng lí luận trung ương đứng tên, nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật phát hành tháng 8-2017, in 5000 cuốn. Nội dung gồm 36 bài, với các vấn đề như: Bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin (CNML) và con đường XHCN; phản bác ý kiến phi chính trị lực lượng vũ trang và xem nhẹ nền quốc phòng toàn dân; bảo vệ đường lối đối ngoại của đảng; phê phán quan điểm đa nguyên đa đảng; phản bác sự hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự; đấu tranh với tự diễn biến, tự chuyển hóa; phê phán quan điểm đảng cộng sản (ĐCS) không thể chống tham nhũng; nền văn hóa, văn nghệ phải do đảng lãnh đạo. Trên 90% tác giả là giáo sư, PGS, TS, Tôi đã đọc cuốn sách và có đôi lời phản biện.

Ấn tượng đầu tiên là sách không bán. Phải chăng vì muốn giữ bí mật, chỉ lưu hành nội bộ? Nếu cần giữ bí mật thì vì lí do gì, hay đây là tài liệu tuyên truyền nên cần phát miễn phí cho những người có quyền đọc và có nghĩa vụ phải đọc.

Sách khá dày (518 trang khổ lớn), một số bài về hậu phương quân đội, quốc phòng toàn dân tôi chỉ lướt qua, không có ý kiến gì. Những bài tôi quan tâm thuộc về CNML, sự lãnh đạo của ĐCS, con đường XHCN. Xem qua, thấy bài nào cũng có vẻ hùng hồn, dùng luận cứ rõ ràng, luận chứng chặt chẽ. Nhưng khi đọc kĩ lại phát hiện ra những thủ đoạn ngụy biện, những lập luận dối trá. Chúng được dùng để bảo vệ hoặc chứng minh những luận đề sai.

Hiện nay trong xã hội VN có mâu thuẫn giữa 2 trường phái, tạm gọi A và B, Trường phái A gồm những người trung thành với chủ thuyết CS, bảo vệ CNML và con đường XHCN. Trường phái B gồm những người thấy được sai lầm của CNML, của CS, của con đường CNXH, muốn làm cải cách hoặc thay đổi thể chế. Ngoài 2 trường phái trên còn có những người khác, trong đó có 2 loại đáng để ý sau: 1- Loại thờ ơ, bàng quan với tình hình đất nước; 2- Loại thoái hóa, biến chất về đạo đức, tham nhũng, cửa quyền. Loại 1 được cả A và B tranh thủ, lôi kéo. Loại 2 bị A, B và cả loại 1 căm ghét, lên án. Quyển sách là một phần trong cuộc đấu của A chống lại B.

2- Cuộc đấu A-B

Trong cuộc này A đang có đủ thế mạnh: chính quyền, mặt trận, công an, tòa án, trường học, nhà tù, hệ thống thông tin công khai. SPP là vũ khí đấu tranh về tư tưởng, về nhận thức. Lướt qua bên ngoài, tưởng như là cuộc bút chiến. Nhưng chắc là không phải. Bài giới thiệu sách cho rằng tranh luận này thuộc lĩnh vực đấu tranh giai cấp. Điều đó thúc đẩy A nhằm vào việc loại bỏ B chứ không phải tranh luận để nhận thức chân lí.

Tạm bỏ qua việc A dùng bạo lực, chỉ xem là tranh luận. Một cuộc tranh luận, muốn đạt kết quả, mỗi bên phải có thiện chí, phải thống nhất các khái niệm, phải bình đẳng về điều kiện và tốt nhất được thực hiện trên cùng một diễn đàn. Hay nhất, có hiệu quả cao nhất là tổ chức các cuộc đối thoại (công khai được càng tốt). Tiếc rằng trong cuộc tranh luận này mỗi bên đang dùng một diễn đàn riêng, mỗi diễn đàn lại có số người theo dõi và ủng hộ riêng, vì vậy tác dụng của việc trao đổi rất ít, bên nào nói chủ yếu bên ấy nghe.

Trước hết cần hiểu rõ về nhau. Trong cuộc tranh luận này có thể B đã khá rõ về A nhưng ngược lại hình như A chưa hiểu đúng hoặc cố tình hiểu sai B. Tuyên truyền của A cho rằng B là những phần tử chống đối, tự chuyển hóa, tự diễn biến nhằm tiến tới lật đổ chế độ, phủ định CNML, xóa bỏ sự lãnh đạo của ĐCS, phản bội lại sự nghiệp của dân tộc, đi ngược lại xu thế của lịch sử. Trong lời tuyên truyền này có phần đúng là B muốn phủ định CNML, muốn xóa bỏ sự độc tài của ĐCS, như vậy là có chống đối. Còn nói họ phản bội sự nghiệp của dân tộc, đi ngược lịch sử là sự suy diễn mang nặng tính vu cáo. Riêng tự chuyển hóa, tự diễn biến mà A cho là tội lỗi thì B lại thấy đó là cần thiết.

Thử tìm xem B là những ai. Phải chăng là tay sai của đế quốc phong kiến, là thế lực thù địch của dân tộc hoặc bị kẻ thù mua chuộc ? Không, ngàn vạn lần không. Họ chống lại độc tài toàn trị để làm gì, phải chăng là nhằm vinh thân phì gia ? Không, ngàn vạn lần không. Tôi nghĩ rằng bài thơ của Trần Độ đã giúp nói lên một phần tâm tư của những người đó: Những mong xóa ác ở trên đời / Ta phó thân ta với đất trời / Tưởng ác xóa rồi thay cực thiện / Không ngờ cái ác lại luân hồi”. Từ đâu cái ác luân hồi ? Họ cho rằng chính là từ CNML, từ đường lối toàn trị của ĐCS. Họ tự diễn biến, tự chuyển hóa về chính trị chính là nhằm tiếp tục xóa ác ở trên đời. Họ phó thân với đất trời. Họ là những người yêu nước thương dân. Họ đã thoát ra khỏi sự u mê, vượt qua được nỗi sợ để nói lên một phần sự thật, để đấu tranh xóa ác.

2- Ý kiến phê phán chung

Ý kiến phê phán chung là phần lớn quyển sách đầy rẫy ngụy biện mà các tác giả đã cố tình tạo ra hoặc vô tình mắc phải. Được dùng nhiều, phổ biến là kiểu “đánh tráo khái niệm” hoặc “áp đặt”. Đó là việc dùng các khái niệm bị đánh tráo, dùng các phán đoán giả dối, dùng các giả thuyết lập lờ làm căn cứ để suy luận, để chứng minh. Đó là việc biến những điều còn tranh luận thành chân lí phổ biến, là việc ngụy tạo chứng cứ , là việc “dán nhãn”cho đối tượng.

Xin nêu ra một số đánh tráo hoặc áp đặt như sau: CNML là kim chỉ nam; Giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo; Yêu nước phải yêu CNXH; Nhà nước là công cụ chuyên chính của giai cấp; Chế độ XHCN dân chủ gấp vạn lần chủ nghĩa tư bản; Cách mạng vô sản là tất yếu của lịch sử; Nhà nước XHCN là kiểu nhà nước cuối cùng của lịch sử nhân loại; Xây dựng CNXH là nguyện vọng của toàn dân; Thể chế đảng lãnh đạo, chính quyền quản lí, nhân dân làm chủ là duy nhất đúng; Nhân dân VN phủ nhận chế độ đa nguyên đa đảng; CNXH là ước vọng ngàn đời của nhân dân lao động; Sự sụp đổ của Liên Xô chỉ là thất bại tạm thời của một mô hình; ĐCS VN kiên trì CNML, lãnh đạo nhân dân đi từ hết thắng lợi này đến thắng lợi khác…

Những điều vừa nêu, có điều đã sai rõ ràng, có điều đang còn tranh luận mức độ sai – đúng. Những điều như vậy không thể được dùng làm luận cứ, thế mà người ta cứ dùng bừa, dùng một cách liều lĩnh, mang tính áp đặt.

Dán nhãn là kiểu gán cho B những điều như: bọn phản động, bọn chống đối, bọn tay sai của thế lực thù địch, bị mua chuộc, mất ý chí… Dán nhãn cho người ta rồi kèm theo nhãn đó là những tội trạng phản dân hại nước, rồi lớn tiếng phê phán cái tội được suy diễn đó.

Tuyệt đại đa số B là những người yêu nước, thương dân, có lí tưởng. Họ bị dán nhãn “tự chuyển biến” rồi bị ghép chung vào với lũ người thoái hóa, biến chất về đạo đức. Đó là kiểu lập lờ đánh lận, là thủ đoạn vu khống.

3- Phân tích một bài

Để vạch ra và phân tích tương đối đầy đủ các ngụy biện trong SPP, có lẽ phải viết cả một tập dày vài trăm trang. Với một bài báo tôi chỉ có thể phân tích vài đoạn của bài làm đại diện.

Tôi lấy bài đầu tiên: “CNML không thể lỗi thời” của GS-TS Tạ Ngọc Tấn, gọi đó là “bài luận”. Tôi đoán có thể đây là bài được xếp vào loại quan trọng nhất.

Mở đầu bài luận: “Thời gian gần đây, một số nhà nghiên cứu Tây phương và một bộ phận cán bộ, đảng viên trong nước cho rằng, trong thời đại ngày nay CNML đã lỗi thời”. Nêu ra nhận định như vậy để rồi phê phán, phản bác đó là sai lầm và chứng minh ngược lại là CNML không thể lỗi thời.

Đối với CNML, nhận định trên tuy không sai nhưng chưa thật đúng. Lỗi thời có nghĩa là trước đây có lúc nó đã đúng, bây giờ không còn đúng nữa. Thật ra CNML đã sai ngay từ đầu. Lỗi thời, đó là nhận định của một số người đã nhận nhầm, đã bị mắc lừa, từ trước vẫn cho rằng CNML là đúng, nay tỉnh ngộ ra nhưng còn bị “bệnh sĩ diện” ngăn cản mà không dám công nhận sự kém cỏi trước đây của mình.

CNML chứa đựng cả phần tốt và xấu. Phần tốt đẹp về công bằng, tự do, thịnh vượng, hạnh phúc được phô ra ngoài, phần xấu xa về độc tài, chuyên chế, tham tàn và kém trí tuệ tạm được giấu kín ở bên trong. Những người hiểu biết CNML có 2 phái: ủng hộ và phản đối. Người ủng hộ, cổ vũ, ca ngợi vì thấy rõ mặt tốt mà không thấy mặt xấu hoặc tuy có thấy nhưng nghĩ rằng có thể khắc phục. Người phản đối thấy rõ mặt xấu và cho rằng nó mang lại lợi ít hại nhiều. Xét trên toàn thế giới, số người ủng hộ là đông, trong đó có một số người nổi tiếng nhưng số người phản đối còn đông hơn gấp hàng chục lần, trong đó có rất nhiều nhà khoa học các lĩnh vực (chú ý là tôi nói đến những người hiểu biết rõ về CNML chứ không phải đại đa số quần chúng chỉ nghe nói hoặc được tuyên truyền về nó). Ở VN cũng như vậy. Từ khi CNML được truyền vào, số người hiểu biết tiếp thu và truyền bá nó tuy không nhiều nhưng đã tập hợp thành lực lượng, lập được Mặt trận Việt Minh, đã lợi dụng được khẩu hiệu chống thực dân, giành độc lập nên lôi kéo được số đông đi theo. Số người hiểu biết, thấy được tác hại mà CNML sẽ mang đến cho dân tộc là nhiều hơn, tiếc rằng số này không tập hợp lại được nên bị yếu thế.

Mác đã dựa vào các “hòn đá tảng” sau đây để xây dựng nên lâu đài học thuyết: 1- Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội; 2- Vật chất có trước và quyết định ý thức; 3- Đấu tranh giai cấp là động lực phát triển xã hội; 4- Quy luật biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất; 5-Tư bản bóc lột công nhân bằng giá trị thặng dư. 6- Sự tất yếu công hữu hóa tư liệu sản xuất ; 7- Xã hội CS mọi người làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu (Lê-nin lại thêm vào các lí thuyết về chuyên chính vô sản, về nhà nước của giai cấp, về tổ chức đảng cách mạng kiểu mới, về điều kiện của cách mạng vô sản).

Tôi thấy rõ phần lớn những tảng ấy chủ yếu là đất sét mà Mác tưởng nhầm là đá, đa số chỉ còn lại dưới dạng các câu sáo rỗng trong sách. Cái lâu đài xây trên các tảng đất sét ấy, gặp mưa bão đã tan rã, sụp đổ dần.Thế mà khổ thay, nhiều người vẫn tin chắc chúng còn vững hơn bàn thạch ( Xin chờ xem những bài viết về tính chất đất sét của các hòn đá tảng ấy).

Tiếp theo, bài luận cho rằng những người phủ nhận CNML dựa vào 4 lí do: 1- CNML ra đời đã lâu; 2- Liên Xô sụp đổ; 3- Điều kiện kinh tế các nước tư bản được cải thiện rất nhiều; 4- Một loạt sai lầm mà các nước XHCN mắc phải. Nêu ra 4 lí do rồi tìm cách phản bác. Tiếc rằng các lí do đó chỉ đúng có một phần rất nhỏ. Tác giả đã bỏ qua những lí do quan trọng hơn, cơ bản hơn, đó là những tác hại của CNML bộc lộ ra rõ ràng khi ĐCS đã nắm quyền thống trị như sự độc tài toàn trị, sự dối trá trong tuyên truyền, sự tàn bạo trong đối xử với bất đồng (các xu hướng, tổ chức và con người). Những điều đó tạo nên nhiều tai họa, nhiều tội ác mà nhân dân phải gánh chịu. Nêu ra 4 lí do, mặc dầu chưa chính xác, rồi phản bác song sự phản bác cũng rất yếu ớt và phạm không ít sai lầm luận lí.

Lí do thứ nhất – CNML ra đời đã lâu:

Để phản bác, bài luận nêu ra các cơ sở của học thuyết Mác, nêu việc Lê-nin và Hồ Chí Minh đã vận dụng rồi khẳng định: “Điều hiển nhiên và không thể chối cãi là dù được hiểu theo nghĩa nào, CNML vẫn là khoa học về những quy luật chung nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy”. Hiển nhiên và không thể chối cãi là đối vớimột số người nào đó, còn đối với người khác chẳng hiển nhiên đâu cả, hơn nữa người ta còn phản bác, còn đánh đổ kia mà. Bài luận viết tiếp: “C. Mác, Ph. Ăng-ghen dự báo về một xã hội tương lai như một tất yếu lịch sử sẽ thay thế chủ nghĩa tư bản”. Về tương lai chỉ có thể dự báo. Đã là dự báo thì có thể đúng hoặc sai. Khẳng định sự tất yếu cho tương lai là sai lầm về suy luận.

Bài luận trình bày một số chuyện như chiến tranh ở I-rắc, Li-bi với hàng ngàn thanh niên bỏ xác một cách vô nghĩa, trong đó không có con cái các nhà tư bản rồi viết: “Từ góc độ nhân văn thì CNXH là ước vọng ngàn đời của tất cả những người dân lao động”. Đây là lối ngụy biện kiểu đánh tráo. Được no ấm, tự do, sung sướng là khái niệm cụ thể. CNXH là trừu tượng.Tuyên truyền cho người ta rằng CNXH là ấm no, tự do, sung sướng rồi hỏi có thích không, có ước vọng không. Mọi người trả lời có. Thế là gán cho người ta thích, có ước vọng XHCN. Không phải! Người ta thích, có ước vọng cái cụ thể là no ấm, sung sướng kia. Ở đây đã dùng mẹo vặt để đánh tráo thành ước vọng XHCN. Những người dân lao động đã thấy, đã biết gì về CNXH mà bảo người ta ước vọng.

Bài luận viết tiếp: “Trong rất nhiều tác phẩm, C. Mác và Ph. Ăng-ghen đều nhấn mạnh tầm quan trọng của nhận thức, đánh giá, tổng kết thực tiễn để thường xuyên bổ sung, phát triển lí luận… Vậy thì sao có thể nói CNML là lỗi thời. CNML không thể lỗi thời”. Sự nhấn mạnh tầm quan trọng của nhận thức, đánh giá, tổng kết thực tiễn là đúng, nhưng viết rằng để bổ sung, phát triển lí luận là chưa hoàn toàn chuẩn xác và suy luận rằng CNML không thể lỗi thời là sai cả về luận đề và luận chứng. Nhận thức, đánh giá, tổng kết thực tiễn không chỉ để bổ sung hoặc phát triển lí luận mà quan trọng hơn là để phát hiện ra chỗ chưa hoàn chỉnh, chỗ sai để điều chỉnh hoặc loại bỏ. Chính vì nhờ đánh giá, tổng kết thực tiễn mà các nhà phản biện phát hiện ra những điều xấu xa, độc hại của CNML.

Lí do thứ 2: Sự sụp đổ của các nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô.

Trước tiên bài luận cho rằng: “CNXH đã mang lại cuộc sống tốt đẹp cho một phần to lớn của nhân loại. Nó đã tạo nên một sức mạnh mà trước đó không thể tưởng tượng về nguồn vật chất và tinh thần đủ sức để động viên sức người, sức của tạo thành lực lượng chủ yếu đánh thắng cả những lực lượng to lớn của liên minh các thế lực tư bản trong chiến tranh thế giới thứ nhất cũng như đội quân phát-xít tàn bạo của trục ma quỷ trong chiến tranh thế giới thứ hai”.

Đoạn ngắn vừa trích phạm ít nhất 2 điều sai. Thứ nhất là về cuộc sống tốt đẹp. Đúng là so với miền Bắc VN vào những năm 60 đến 80 thế kỉ trước thì Liên Xô và Đông Âu là tốt đẹp, nhưng đó là sự so sánh quá khập khiễng. Hãy so Đông Đức với Tây Đức, so Ba Lan, Tiệp Khắc, Ru-ma-ni với các nước xung quanh như Áo, Bỉ, Thụy Sĩ, Hà Lan thì mới biết thực chất thế nào. Cuộc sống ở Tây Đức, Thụy sĩ, Hà Lan là mơ ước của Đông Đức, Ba Lan, Tiệp, Ru-ma-ni. Hãy xem cuộc sống của nhân dân Trung Quốc trong những năm xây dựng CNXH với Đại nhảy vọt và Cách mạng văn hóa (1954-1976) để biết họ sống cực khổ thế nào.Thứ hai, viết rằng nó (lực lượng XHCN) tạo nên sức mạnh đánh thắng liên minh các thế lực tư bản trong Thế chiến I là đã phạm vào lỗi dối trá hoặc ít nhất là lỗi tin vào những tuyên truyền bịa đặt, không đúng sự thật. Sự thật của Thế chiến I là liên minh các nước Anh , Pháp, Mỹ với Nga (Nga Hoàng ) đánh nhau với liên minh Đức, Áo, Hung, trong đó Áo và Hung chỉ là 2 nước bé. Chính quyền Nga hoàng tham chiến từ tháng 8-1914 nhưng đến năm 1917 thì bị Cách mạng tháng 2 lật đổ. Cách mạng tháng 10 xảy ra tháng 11-1917 thì tháng 3-1918 Lê-nin kí hòa ước với Đức. Sau Cách mạng tháng 10, chiến tranh ở Nga chủ yếu là nội chiến. Riêng trong Thế chiến II, sự đóng góp của Hồng quân Liên Xô là rất quan trọng nhưng có 2 vấn đề cần nhận định và đánh giá lại so với tuyên truyền trước đây. Một là vai trò củaquân Đồng minh ở mặt trận phía tây, hai là cái gì quyết định tinh thần của quân đội Liên Xô, lòng yêu nước hay bản chất của CNXH.

Bài luận viết: “Chủ nghĩa xã hội đã là một hiện thực hùng mạnh đủ để những chiến lược gia, các nhà lí luận tư sản phải run sợ, đã đưa ra những dự báo về sự thất bại, kết thúc không thể đảo ngược của chủ nghĩa tư bản. Những thừa nhận đắng cay của Henry Kissinger, của Brzezinski thời kì 60-70 của thế kỉ 20 vẫn còn nguyên đó trong các cuốn sách, bài báo của họ”. Tôi đã đọc sách “Trật tự thế giới” của Kissinger, sách “Thất bại lớn – sự ra đời và sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản” của Brzezinski. Hai ông là cố vấn tối cao của nhiều đời tổng thống Mỹ. Qua các cuốn sách, tôi thấy được họ là những người chống cộng nổi tiếng, là những nhà khoa học chính trị tài năng và trung thực. Tôi không phát hiện ra họ run sợ chỗ nào, chỉ thấy họ cay đắng thay cho nhân dân các nước chịu sự thống trị của cộng sản, họ khẳng định sự sụp đổ tất yếu của chủ thuyết cộng sản và nguyên nhân chủ yếu của việc đó là sự thiếu trí tuệ. Về một số người nào đó tỏ ra sợ cộng sản thì đó không phải là run sợ của kẻ hèn yếu mà là lo sợ của người có trách nhiệm trước sự tàn phá của phong trào cộng sản và khả năng lây lan của nó trong một số nước thuộc thế giới thứ 3.

Bài luận viết: “Sự sụp đổ của mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu đã là một bài học đau đớn không chỉ cho những người cộng sản mà còn cho cả nhân loại tiến bộ”, “Sự sụp đổ của mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu chỉ là sụp đổ của một mô hình xây dựng CNXH cụ thể”. Ở đây có sự lập lờ, đánh tráo khái niệm “nhân loại tiến bộ”. Họ là những ai? Làm sao để biết họ đau đớn hay chỉ là sự suy đoán gán ghép? Không biết nhân loại tiến bộ ở rải rác những đâu chứ phần lớn nhân dân các nước Đông Âu như Đông Đức, Ba Lan, Ru-ma-ni, Hung-ga-ri… và ở cả Liên Xô rất phấn khởi đón nhận sự sụp đổ của chế độ cộng sản toàn trị. Tại sao cả một phe các nước XHCN lại chỉ được xem như một mô hình? Đây là một ngụy biện nhằm che giấu bản chất.

Bài luận viết: “Các nước ở tây bán cầu kề cận nước Mỹ đang tìm con đường và cách thức để xây dựng CNXH theo một mô hình mới. Nó cũng được minh chứng bởi một loạt quốc gia ở chính châu Âu, nhất là Bắc Âu đã và đang lấy CNXH làm mục đích, làm cảm hứng để xây dựng, phát triển đất nước mình”. Nước kề cận Mỹ ở đây phải chăng là Vê-nê-duy-ê-la đang suy sụp sau nhiều năm theo con đường XHCN? Việc cho rằng các nước Bắc Âu đã và đang lấy CNXH làm mục đích là sự lợi dụng hình thức để đánh lộn sòng. Các nước Bắc Âu có nói đến CNXH nhưng đó là một loại CNXH hoàn toàn khác so với CNXH mà các ĐCS theo đuổi. CNXH ở Bắc Âu là theo Đệ nhị Quốc tế, không chấp nhận CNML, không theo con đường cộng sản. Đem CNXH của Bắc Âu vào đây là một sự lẫn lộn cố ý hoặc là một sự hiểu biết mập mờ.

Bài luận viết tiếp về Brexit của nước Anh, về các cuộc khủng bố để nói rằng các nước tư bản cũng không hề yên ổn. Không thể lấy sự không yên ổn đó để biện minh cho sự sụp đổ của phe XHCN, đó là kiểu ngụy biện “vơ quàng”.

Lí do thứ 3( tôi tạm bỏ qua vì bài đã quá dài).

Lí do thứ 4 – Bài luận viết: ” Phải chăng sự bảo thủ, trì trệ trong nhận thức, những sai lầm, hạn chế và khó khăn trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước theo con đường XHCN là bắt nguồn từ CNML”. Bài luận tìm mọi cách để chứng minh là không phải vậy. Tuy phải công nhận những sai lầm, những nguyên nhân chủ quan vì không thể giấu đi đâu được) của đảng nhưng lại đổ cho việc: “Chúng ta bắt tay vào xây dựng CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bị tàn phá nặng nề”. Rồi bài luận kể ra những thành tựu của đổi mới về kinh tế và ngoại giao và cho rằng “Đảng và Nhà nước VN đã có những bước đi dũng cảm về nhận thức, sự đổi mới mạnh mẽ về chính sách kinh tế – xã hội… Từ thực tế ấy không thể có lí để nói rằng Đảng và Nhà nước VN bảo thủ, cố chấp hay định kiến mà không đổi mới nhận thức, đổi mới chính sách…, cũng như không thể đổ cho học thuyết Mác – Lê-nin có lỗi trong những khó khăn, hạn chế, sai lầm của quá trình xây dựng, phát triển đất nước”.

Trong mục này, bài luận đã dùng lối ngụy biện “che giấu một phần sự thật”. Đảng từng theo đường lối XHCN mà kìm kẹp nông dân trong hợp tác xã, mà cấm chợ ngăn sông, xóa bỏ kinh tế tư nhân rồi vì giương cao ngọn cờ chống đế quốc mà bị cấm vận, đến nỗi đất nước bị kiệt quệ. Rồi phải sửa sai, cởi trói, phải hòa hoãn và hợp tác với Mỹ để được bỏ cấm vận, vì thế mà kinh tế được phát triển. Công nhận việc làm này có sự dũng cảm. Một số người cho rằn”g đó là dũng cảm đổi mới, là dũng cảm trong sự vận dụng sáng tạo CNML. Nhiều người khác lại cho rằng đó là dũng cảm sửa sai, là dũng cảm làm ngược lại CNML để cứu nền kinh tế suy sụp.

Nếu chỉ dựa vào sự đổi mới về kinh tế, mở cửa về ngoại giao thì không thể kết luận ĐCS bảo thủ, cố chấp vì đổi mới kinh tế, mở cửa ngoại giao mới chỉ là một phần sự thật. Còn một phần khác quan trọng hơn đã bị che giấu. Đó là thực trạng của hệ thống cai trị gồm 3 cấp chồng lên nhau (đảng, chính quyền, mặt trận) rất cồng kềnh mà bất lực, là chế độ độc tài đảng trị, đặt đảng bao trùm lên mọi thứ, là sự kiên trì CNML và sự lệ thuộc nhiều thứ vào Tàu cộng nhân danh cùng ý thức hệ. Từ những điều đó mà sinh ra các nhóm lợi ích, nạn hối lộ, tham nhũng, mua quan bán chức, sự hủy hoại tầng lớp tinh hoa và đạo đức xã hội, sự phá nát tài nguyên và môi trường, là nợ nần chồng chất, là oan sai khắp nơi, là vu oan và khủng bố… Đổ lỗi cho việc xây dựng XHCN từ nền nông nghiệp lạc hậu? Hỏi ai bày ra chuyện ấy, ai, dựa vào đâu để bắt ép nông dân lập hợp tác xã? Dựa vào đâu để quốc hữu hóa đất đai? Không dựa vào CNML thì dựa vào cái gì? Nhưng một mình CNML chưa thể gây ra toàn bộ tai họa. Nó được kết hợp với một số thói hư, tật xấu của dân tộc thì mới phát tác mạnh mẽ.

Brzezinski nhận xét rằng chủ nghĩa CS tất yếu phải sụp đổ vì thiếu trí tuệ. Đối chiếu với tình hình thực tế VN, thấy rất rõ ràng. Đảng đã phạm sai lầm chỗ này, bị thiếu sót chỗ kia, không thấy được nguy hiểm ở chỗ nọ. Điều này làm cho Nhân tai vượt quá Thiên tai, Nhân tai cộng hưởng với Thiên tai. Tại sao vậy? Tại vì thiếu trí tuệ (kết hợp lòng tham và sự độc quyền). Tại sao chế độ CS lại thiếu trí tuệ? Nó có gốc gác từ trong CNML.

5-Vài lời cuối

Tôi viết phê phán bài luận của GS Tấn và các bài trong SPP chứ không có nhận xét gì về cá nhân GS và các tác giả khác.Tôi không quen biết họ, không biết trình độ thật sự cũng như động cơ của việc viết bài của họ. Biết đâu GS Tấn và các tác giả khác của SPP có thể có nhận thức không những gần giống với tôi mà còn giỏi hơn nhưng họ phải viết như vậy chỉ vì chịu một áp lực nào đó.

Trong việc tranh luận mà mỗi bên thể hiện trên diễn đàn của phe mình thì khó có được hiệu quả cao. Mỗi bên chỉ cố phô ra cái hay của mình và khai thác mặt yếu của đối phương, thậm chí đánh giá sai đối phương mà ít có điều kiện hợp tác. Chỉ khi đối thoại trực tiếp trên cơ sở bình đẳng, mới có điều kiện kịp thời đánh giá và điều chỉnh nhận thức, cũng như mới có kết quả tốt, có hiệu quả cao. Vừa qua ông Võ Văn Thưởng đánh lên vài tiếng trống về đối thoại, thế rồi âm thanh của nó tan biến đi. Tôi mong ước những người có thiện chí, những người tử tế, đặc biệt là những người trong Hội đồng Lí luận, Ban Tuyên giáo, Viện Hàn lâm khoa học xã hội… tổ chức được những cuộc đối thoại về những vấn đề của đất nước và chế độ.

Riêng tôi, nếu được Hội đồng Lí luận hoặc các tác giả của SPP hỏi đến, tôi sẵn sàng trình bày, trao đổi, đối thoại trực tiếp về các ngụy biện trong các bài khác của sách. Tôi cũng sẵn sàng thuyết trình về tính chất đất sét của các hòn đá tảng của Mác.

N.Đ.C

(Tác giả gửi BVN)

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Mười 20, 2017

20171020. NGHI NGẠI HÌNH THỨC DỰ ÁN BT

ĐIỂM BÁO MẠNG

DỰ ÁN BT LÀ KẼ HỞ CHO LỢI ÍCH NHÓM, THAM NHŨNG

TƯ HOÀNG/ TBKTSG 19-10-2017

Bảo tàng Hà Nội được nêu là một trong những dự án BT có vấn đề. Ảnh: TG

TBKTSG Online) – Các dự án đầu tư theo hình thức hợp đồng xây dựng – chuyển giao (BT) đang tạo kẽ hở cho nhóm lợi ích và là mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng, một hội thảo do Kiểm toán Nhà nước tổ chức sáng 19-10 cảnh báo.

Tổng Kiểm toán Nhà nước Hồ Đức Phớc trong bản tham luận gửi hội thảo nhận xét, hình thức đầu tư BT rất dễ bị bóp méo, biến tướng do thiếu công khai minh bạch vì lợi ích nhóm, vì những khoản sinh lời vô cùng lớn từ cơ hội sở hữu những mảnh đất đắc địa hoặc những diện tích rộng lớn của địa phương.

Ông cho biết, hầu hết dự án BT là chỉ định thầu, không công bố kế hoạch dự án. Hệ quả là không phát huy tốt nhất được nguồn lực xã hội, nhiều nhà đầu tư tại thời điểm được thẩm định, đánh giá và lựa chọn để thực hiện dự án có năng lực tài chính hạn chế, không đảm bảo năng lực và thiếu kinh nghiệm quản lý.

Nhà đầu tư yếu kém không đảm bảo tiến độ, kéo dài thời gian thực hiện, phải gia hạn hợp đồng, làm phát sinh tăng chi phí đầu tư và không hoàn thành đúng tiến độ để đảm bảo phục vụ các mục tiêu cấp bách, kịp thời như chủ trương đề ra ban đầu.

Theo Phó giám đốc Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán, Kiểm toán Nhà nước Nguyễn Đình Hòa, hiện chưa có một báo cáo đầy đủ về toàn cảnh các dự án BT tại Việt Nam.

Ở cấp Bộ Giao thông Vận tải quản lý, chỉ có bốn dự án BT với tổng mức đầu tư 16.035 tỉ đồng đã và đang triển khai, trong đó có hai dự án BT thuộc lĩnh vực hàng hải.

Các dự án BT hầu hết nằm ở các địa phương. Chưa có một thống kê nào cho thấy tại 63 tỉnh, thành trên cả nước hiện nay có bao nhiêu dự án BT và hiệu quả “đổi đất lấy hạ tầng” đến nay ra sao.

Tuy nhiên, ông Hòa lấy ví dụ ở Hà Nội, thì đã thấy quy mô và tầm vóc của các dự án BT tại địa phương lớn biết chừng nào khi so với quy mô của tất cả các dự án BOT trên cả nước đã đi vào khai thác.

Một báo cáo của UBND thành phố Hà Nội về các dự án BT (tháng 6-2017) cho thấy với 16 dự án đã và đang triển khai từ năm 2015 về trước, tổng mức đầu tư đã lên tới 28.874 tỉ đồng. Trên địa bàn Hà Nội từ năm 2012 trở về trước có đến 63 dự án PPP và đều là BT. Con số này giảm xuống còn 24 dự án từ năm 2014, theo kết luận mới được công bố của Thanh tra Chính phủ về các dự án BOT-BT tại Hà Nội.

Lê Huy Trọng, Kiểm toán trưởng, Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành V khẳng định,  nhiều dự án thực hiện hợp đồng BT đã không hiệu quả và cơ hội cho lợi ích nhóm, tham nhũng và tiêu cực gây bức xúc trong dư luận. Một số dự án sau khi hoàn thành theo hình thức BT lại trở thành biểu tượng cho sự lãng phí nguồn lực của nhà nước. Dự án Bảo tàng Hà Nội; dự án BT xử lý nước thải Yên Sở là những ví dụ.

Báo cáo của Kiểm toán Nhà nước cho biết, dự án BT xử lý nước thải Yên Sở bị cơ quan kiểm toán đề nghị ghi giảm quyết toán tương đương 61,9 triệu đô la Mỹ.

Ông Trọng nói: “Câu hỏi đặt ra là có thực sự cần thiết phải áp dụng hình thức hợp đồng BT hay không? Tại sao lại lựa chọn hợp đồng BT thay cho hình thức quản lý dự án như truyền thống?“.

Câu trả lời có thể chỉ ra rằng: chúng ta đã áp dụng một hình thức quản lý tiên tiến trong khuôn khổ các hành lang pháp lý chưa đủ mạnh, còn nhiều chồng chéo và kẽ hở để các nhà đầu tư thao túng.

Hơn nữa, khi giao toàn quyền thực hiện cho lĩnh vực tư đã dẫn đến thiếu kiểm soát của các cơ quan quản lý nhà nước. Mặt khác, trách nhiệm của các cơ quan quản lý khi phê duyệt và thẩm định không rõ ràng, các dự án được thực hiện không thông qua đấu thầu đã làm giảm tính cạnh tranh, thiếu minh bạch trong thực hiện dự án, quyền sử dụng đất không được xác định chính xác và đầy đủ… Việc lựa chọn hình thức BT đã làm giảm hiệu lực của quản lý nhà nước trong các khâu để thực hiện một dự án.

Ông cho biết, việc thanh toán bằng đất cũng thường chỉ chiếm một phần, không quá 50% vốn nhà đầu tư bỏ ra để thực hiện dự án, phần còn lại chủ yếu vẫn từ NSNN hoặc trái phiếu Chính phủ.

“Chúng ta có thể lựa chọn đấu giá đất để thực hiện dự án như thông thường để mang lại tính kinh tế và hiệu quả cao hơn”, ông Trọng cảnh báo.

DỰ ÁN BT LÀ ĐIỂN HÌNH CỦA PHI THỊ TRƯỜNG VÀ LỢI ÍCH NHÓM

THỤY KHANH/ VnF 19-10-2017

(VNF) – Đây là nhận định của PGS.TS Nguyễn Đình Hòa – Phó giám đốc Trường đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán (Kiểm toán Nhà nước) được đưa ra tại hội thảo khoa học “Cơ chế đầu tư BT – Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện” do Kiểm toán Nhà nước tổ chức sáng 19/10.

Dự án BT là điển hình của phi thị trường và lợi ích nhóm

 Dự án BT đang bị xem là mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng

BT – mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng

Theo PGS. TS Nguyễn Đình Hòa, bản chất của dự án BT là một giao dịch mua sắm công với điều kiện thanh toán chậm hay thanh toán sau. Mặc dù là hoạt động mua – bán nhưng dự án BT lại không theo cơ chế thị trường bởi bên mua (nhà nước) không có sản phẩm cùng loại để có thể lựa chọn, còn bên bán (nhà đầu tư) không có ai phải cạnh tranh trực tiếp trong chào giá cạnh tranh.

Về giá cả đối với bên bán, sẽ không thể có giá bán thị trường bởi nó được xác định theo quy trình dự toán và quyết toán của một dự án đầu tư – vốn rất phức tạp để xác định và dễ bị thay đổi theo hướng tăng lên bởi nhiều yếu tố phi thị trường.

“Mỗi con số đều phụ thuộc vào các quyết định chủ quan của cơ quan hoặc cá nhân có thẩm quyền. Đây là lỗ hổng lớn nhất và là mảnh đất màu mỡ nảy sinh tiêu cực tham nhũng”, ông Hòa nói.

Thất thoát từ dự án BT là thất thoát kép

Đối với hầu hết dự án BT hiện nay, tiền sử dụng đất đã được tạm tính ngay tại thời điểm kí hợp đồng (nhằm tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện song song cả 2 dự án – dự án BT và dự án đối ứng). Khi dự án hoàn thành, lẽ ra phải thực hiện kiểm toán kĩ thuật và kiểm toán tài chính để xác định chính xác chất lượng, giá trị làm cơ sở cho thanh toán bằng quỹ đất, tuy nhiên thực tế chưa có dự án BT nào được kiểm tra, kiểm toán mà chỉ là quyết toán.

“Thông thường một dự án đầu tư dù dưới hình thức nào cũng phải qua 2 thủ tục pháp lý, đó là các quy trình, thủ tục và thẩm quyền phê chuẩn. Đối với BT, do thiếu công khai minh bạch nên sự lách luật xảy ra trên cả 2 phương diện này và dễ dẫn đến lợi ích nhóm”, ông Hòa phân tích.

Theo ông Hòa, thất thoát nảy sinh từ dự án BT là thất thoát kép. Một là hàng hóa “cơ sở hạ tầng” mà dự án BT đem ra chào không có cạnh tranh nên không phản ánh theo giá thị trường.

Lời giải lợi ích của nhà đầu tư nằm ở chỗ các dự án BT đến nay đều được chỉ định thầu. Việc xác định tổng mức đầu tư, quyết toán thưc hiện “hàng đổi hàng” đều do cơ quan quản lý và doanh nghiệp thỏa thuận với nhau.

Nghị định 15/2015/NĐ-CP lại quy định hết sức dễ dãi đối với việc giám sát chất lượng dự án BT. Theo đó, nhà đầu tư chịu trách nhiệm về chất lượng công trình, dịch vụ dự án; tự giám sát, tự quản lý hoặc thuê tư vấn quản lý giám sát nghiệm thu. Còn cơ quan nhà nước chỉ giám sát việc tuân thủ nghĩa vụ của nhà đầu tư theo hợp đồng.

Thất thoát thứ hai là đất đai. Theo quy định của chính sách tài chính đất đai, việc xác định tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất của quỹ đất thanh toán chỉ được thực hiện khi nhà nước có quyết định giao đất, cho thuê đất. Nhưng trên thực tế, ở thời điểm kí hợp đồng BT, hầu hết quỹ đất thanh toán chưa có quyết định giao đất, cho thuê đất. Do đó, việc xác định giá trị quỹ đất thanh toán tại thời điểm kí hợp đồng BT là không có căn cứ thực hiện.

“Với 1 dự án BT, khu đất được giao để thanh toán chính bắt buộc phải có giá trị cao, thường được tạo nên bởi chính vị trí đắc địa của nó. Nói một cách khác, trong trường hợp đó, phần tham gia của nhà nước theo cơ chế công – tư chính là các thương quyền, được coi là tài sản công. Tuy nhiên yếu tố này hầu như đã bị lu mờ đi trong quá trình xem xét, phê chuẩn các dự án BT”, ông Hòa cho hay.

Quy định về dự án BT có nhiều chỗ trống, chồng chéo lẫn nhau

Theo GS Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, quy định về dự án (hợp đồng) BT đang tồn tại nhiều khoảng trống pháp luật và chồng chéo lẫn nhau.

Chẳng hạn như Luật Đất đai 2013 chỉ có Khoản 3, Điều 155 quy định về việc nhà nước giao cho nhà đầu tư quản lý diện tích đất để thực hiện dự án, ngoài ra không có quy định cụ thể nào về đất đai, loại đất, giá trị đất đai để trả cho nhà đầu tư khi thực hiện dự án BT.

“Như vậy, đang tồn tại một khoảng trống pháp lý rất lớn về dự án BT tại Luật Đất đai, trong khi nhiều văn bản khác về BT lại cứ quy chiếu về việc thực hiện theo quy định của Luật Đất đai”, ông Võ phân tích.

Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định thi hành chi tiết Luật Đất đai có riêng Điều 54 quy định về đất thực hiện dự án BT và BOT. Tuy nhiên, Nghị định này cũng chỉ quy định về việc nhà nước giao đất và chuyển giao đất, không hề có quy định gì về loại đất đem đổi và xác định giá trị đất đai đem đổi.

Nghị định 15/2015/NĐ-CP có 5 nội dung liên quan đến dự án BT (Khoản 5 Điều 3; Khoản 3 Điều 14; Khoản 3, Điều 43; Khoản 2, Điều 48 và Điều 65). Mặc dù vậy, khi phân tích sâu về khía cạnh chi phí – lợi ích thì có thể thấy nhiều bất lợi cho nhà nước khi thực hiện Nghị định này.

Cụ thể, việc giao đất để trả cho nhà đầu tư trước khi hoàn thành công trình hạ tầng là không phù hợp vì cơ chế nhà nước quy hoạch hạ tầng, đấu giá khu đất để trả cho nhà đầu tư lấy tiền xây dựng hạ tầng sẽ mang lại hiệu quả cao hơn;

Bên cạnh đó, Nghị định không có quy định chi tiết về đánh giá chất lượng và định giá công trình hạ tầng và định giá khu đất trả cho nhà đầu tư. Vấn đề quản lý giá trị trao toàn quyền cho Bộ Tài chính cũng là một cơ chế quản lý gắn với nguy cơ tham nhũng rất cao. Nghị định khẳng định hợp đồng BT là căn cứ chủ yếu để nhà nước và nhà đầu tư thực hiện nhưng lại không có quy định cụ thể về loại hợp đồng này.

“Về nguyên tắc, đất đai trả cho nhà đầu tư chỉ được thực hiện sau khi công trình hạ tầng hoàn thành, nghiệm thu về chất lượng, quyết toán và kiểm toán độc lập vì lúc đó mới biết giá trị cụ thể. Nghị định 15 cho phép thực hiện ngay điều này trong lúc dự án đang triển khai. Quy định như vậy chứa đựng nguy cơ tham nhũng rất lớn và khả năng thất thoát tài sản đất đai là có thể xảy ra trên thực tế”, ông Võ nhấn mạnh.

Quy định pháp luật về dự án BT hiện nay còn nhiều khoảng trống và chồng chéo

Theo GS Võ vấn đề trung tâm của dự án BT là giá trị công trình hạ tầng và giá trị đất đai đem đổi cần được xác định như thế nào? Cụ thể, giá trị con đường được xây dựng do ai đánh giá chất lượng, do ai định giá, quyết toán, kiểm toán hay chỉ lấy theo giá trị khái toán trong dự án đầu tư?

Tương tự, đất đai ha bên đường đem đổi lấy con đường được tính theo giá đất nông nghiệp hay đất ở, đất đã có công trình hay chưa có công trình?

Đã đến lúc vĩnh biệt cơ chế “đổi đất lấy hạ tầng”

GS Đặng Hùng Võ cho rằng đã đến lúc vĩnh biệt cơ chế đổi đất lấy hạ tầng tại các địa phương đã phát triển tốt. Cơ chế BT chỉ áp dụng đối với địa phương kém phát triển, nguồn thu ngân sách yếu kém và ngân sách trung ương vẫn phải trợ giúp, hạ tầng chưa đủ để thu hút đầu tư.

“Tại các địa phương có hạ tầng phát triển tốt thì không thực hiện dự án BT mà phải thực hiện cơ chế Nhà nước đấu giá đất để lấy tiền phát triển hạ tầng. Tại các địa phương này, không cho phép thực hiện các dự án BT mà khuyến khích đầu tư công tư đối tác theo hình thức khác dựa trên thu phí dịch vụ sử dụng hạ tầng, dịch vụ công cộng”, ông Võ đề xuất.

GS Võ cũng đề nghị bổ sung một số quy định đối với khung pháp lý về dự án BT.

Cụ thể, cần có quy định chi tiết về yêu cầu phân tích chi phí – lợi ích giữa cơ chế BT và cơ chế nhà nước đấu giá tài sản công để lấy tiền xây dựng hạ tầng (hoặc làm cơ sở cho quyết định thực hiện dự án BT); các nội dung cụ thể phải được đề cập trong hợp đồng thực hiện dự án BT giữa nhà nước và nhà đầu tư.

Không cho phép giao đất để trả cho nhà đầu tư trước khi nghiệm thu, hoàn thành đánh giá chất lượng và định giá giá trị; sử dụng đất ở để trả cho nhà đầu tư hạ tầng phải phù hợp với kế hoạch phát triển nhà ở cân đối với hạ tầng trong phát triển đô thị.

Ngoài ra, cần có quy định cụ thể về quy trình đánh giá chất lượng và định giá công trình đã được xây dựng và khu đất dùng để trả cho nhà đầu tư cũng như yêu cầu công khai, minh bạch toàn bộ thông tin về dự án BT, tạo cơ chế để người dân địa phương tham gia giám sát và quy định về trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước có liên quan.

Thụy Khanh

MỀM NẮN, RẮN BUÔNG !?

QUANG DŨNG/ DL/ BVB 19-10-2017

Khéo ỡm ờ
Trong buổi tiếp xúc cử tri Hà Nội ngay sau hội nghị trung ương 6, nhiều đảng viên là lão thành cách mạng phát biểu tâm huyết mong đảng đẩy mạnh hơn nữa công cuộc chống tham nhũng, thu hồi nhiều tài sản lại cho quốc gia. Đáp lại, tbt Trọng nói như dội gáo nước lạnh vào những tâm huyết đó: “Đấu tranh để đoàn kết tốt hơn chứ không phải để đổ vỡ. Đấu tranh để mọi người khác đừng đi qua vết xe đổ, chứ không phải để gây bất mãn trong xã hội. Không thể đánh một đòn dập cho người ta không ngóc đầu dậy mà kỷ luật cốt để họ sửa để trưởng thành”.
Đây quả là những lời lẽ ngụy biện, chứng tỏ có gì đó không ổn, một sự thối lui, lùi bước, khẩu khí không còn cao trào cảm xúc như khi hồi mới thổi lò.
Theo lý, mà cũng là thực tế, chống tham nhũng, nếu được tiến hành cách rốt ráo và quyết liệt sẽ gây phấn khích và cũng là nhân tố tạo nên đồng thuận, đoàn kết trong toàn xã hội mới phải chứ! người ta còn trông chờ gì ở đảng cs đây? Tự nhận quyền làm chủ đất nước mà để nồi cơm của xã hội gần như là sắp bể( nợ công, nguy cơ vỡ tài khóa). Chỉ còn có chuyện chống tham nhũng, tự làm trong sạch mình mà nay sình mai xọp! bây giờ quần chúng, đảng viên, người ta tinh lắm, đã phóng lao thì phải theo lao, làm việc gì cũng phải đến nơi đến chốn, chứ còn làm nữa vời, người ta cười cho.
“Đấu tranh để đoàn kết tốt hơn chứ không phải để đổ vỡ”. Câu này lập lại ý: chống tham nhũng là ta đánh ta. Tham nhũng từng được đánh giá là một bộ phận không nhỏ trong đảng, nó nghiêm trọng không những bởi số lượng mà ở sức mạnh và sức ảnh hưởng của những quan tham. Ta đánh ta tức là ta tự làm hại chính mình, như vậy, hàm ý của Tbt Nguyễn Phú Trọng là: Nếu cuộc chiến chống tham nhũng có thể ảnh hưởng đến an nguy của Đảng thì bắt buộc phải dừng lại, đảng trên hết. Đánh chuột không để vỡ bình!
Câu nói này lấp lửng, ỡm ờ quá, đấu tranh đương nhiên là đối kháng, nhưng chống tham nhũng mà không để mất tình đoàn kết, tình đồng chí, ý lại là hạ thủ lưu tình? Có phải đánh không nổi, bây giờ quay trở lại ve vãn? Vậy thì làm sao có thể răn đe người khác? đừng để mọi người khác đi qua vết xe đổ? ngược lại, thế còn khuyến khích tham nhũng nhiều hơn. Xử lý tham nhũng là giữ nghiêm phép nước, làm việc tùy tiện như vậy còn đâu chế độ, nhà nước pháp trị?
Đủ đầy cả nhưng thiếu một người
Theo dõi xét xử vụ án Ocean Bank quá báo chí nhà nước, quá trình xét hỏi tại các phiên tòa đã bộc lộ một lỗ hổng rất dễ nhận thấy, đó là sự biến mất của Đinh Là Thăng, chẳng thấy tòa truy vấn và cũng không hiện hữu trong lời khai của các bị cáo, trong khi ĐLT là sếp của PVN, mà PVN và Ocean bank là trung tâm của đại án.
Mốc thời gian từ 2008 đến 2011 Đinh La Thăng đang là Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam PVN; Nguyễn Xuân Sơn giám đốc Ocean bank; Ninh Văn Quỳnh là kế toán trưởng PVN, dưới trướng ĐLT. Trước tòa, Ninh Văn Quỳnh đã khai nhận, báo tuổi trẻ tường thuật:
Tại các phiên xét xử trước đó, bị cáo Nguyễn Xuân Sơn – nguyên tổng giám đốc OceanBank khai trong hơn 300 tỉ đồng nhận từ OceanBank, bị cáo đã chuyển cho ông Ninh Văn Quỳnh – phó giám đốc PVN từ 30 đến 40 tỉ đồng
Khi trả lời tòa, ông Quỳnh phủ nhận lời khai của Nguyễn Xuân Sơn. Ngày 31-8, ông bị khởi tố, bắt tạm giam về hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng tại PVN.
Trong sáng 7-9, ông Ninh Văn Quỳnh bất ngờ thay đổi lời khai, thừa nhận đã nhận từ Nguyễn Xuân Sơn khoảng 20 tỉ đồng. Ông Quỳnh khẳng định việc thay đổi lời khai này là tự nguyện, không bị bất cứ ai ép buộc.
Cụ thể, Quỳnh xin lỗi vì trước đó đã khai không đúng. Sau khi bị bắt, được cơ quan điều tra khuyên nhủ, ông đã nhận thức được là không thể trốn tránh sự thật mãi được, nay ông xin khai rõ.
“Từ 2009-2010, tôi có một số lần nhận tiền từ Sơn. Tôi không nhớ chính xác nhưng giữa 2009, Sơn đến phòng tôi mang theo chai rượu. Khi tôi mở ra thấy có 500 triệu đồng.
Ngoài ra, trong khoảng từ 2009 đến cuối 2010, có một số lần nữa với hình thức như vậy, Sơn để lại phòng tôi lúc áo sơ mi, lúc chai rượu và tiền. Tổng cộng là 4-5 tỉ đồng”
Tòa chất vấn: Với địa vị vai trò của ông thế nào để Sơn phải biếu quà cho ông đến 4-5 tỉ đồng? Lúc đó tôi chỉ nghĩ là quan hệ công tác. Lúc đó Sơn nói có chai rượu biếu, tôi nghĩ Sơn tự nguyện cho tôi với tư cách giám đốc OCeanBank.
Vế số tiền đó đã sử dụng việc gì? Ông Quỳnh nói ông đã sử dụng cá nhân, mua căn hộ số 081 ở An Phú An Khánh (TP.HCM), mua 1 ôtô, chi tiêu việc cá nhân, chăm lo cho đời sống của cán bộ nhân viên ban Tài chính Kế toán…
Như vậy, Ninh Văn Quỳnh chỉ là tay kế toán trưởng PVN cũng đã nhận được hàng chục tỉ đồng chăm sóc từ Ocean bank, trong khi đó, Đinh La Thăng đương kim chủ tịch HĐTV của PVN lại chẳng được chăm sóc? Nguyễn Xuân Sơn khai nhận từ Ocean bank hơn 300 tỉ đồng để chăm sóc các đối tác. Đã quên mất Đinh La Thăng? Do vậy Hội đồng Xét xử cũng quên không truy vấn? Vô tình hay hữu ý?
Trong khi ĐLT là người có công đưa dòng tiền lên đến hàng chục ngàn tỉ của tập đoàn PVN chạy vào thanh khoản của Ocean bank. Một sự vô lý đến khập khiễng!
Có dấu hiệu móc ngoặc để tham ô
Trong kinh doanh, ai cũng biết một nguyên tắc sơ đẳng là: không để tất cả trứng vào cùng một giỏ, tuy đây chỉ là quy tắc bất thành văn, không có tính pháp lý, nhưng thường phải có lý do thật đặc biệt mới làm ngược lại.
Các luật sư đã đưa ra được bằng chứng ĐLT chỉ đạo các công ty thành viên PVN mở tài khoản giao dịch tại Ocean bank, trong khi Ocean bank là một ngân hàng nhỏ. Thực tế diễn ra như thế nào? Ocean Bank kính doanh thua lỗ đến 10.000 tỉ đồng, âm vốn chủ sở hữu 2,5 lần, nợ xấu 15.000 tỉ đồng , chiếm 50% tổng dư nợ. Rốt cuộc ngân hàng bị phá sản, được ngân hàng nhà nước bảo hộ, mua lại với giá 0 đồng. PVN thiệt đơn thiệt kép!
Vậy mục đích (đen tối) việc ĐLT hỗ trợ nguồn vốn dồi dào cho Hà Văn Thắm, chủ tịch Ocean bank là gì?
Số vốn chủ sở hữu Ocean bank chỉ có 4000 tỉ, trong đó của riêng HVT ước tính khoảng 63%, so với số lượng tiền gửi lớn gấp nhiêu lần (tổng dư nợ khoảng 30.000 tỉ), số nợ xấu (vay mà không trả) liên quan đến HVT từng chiếm 79,8%, tức vào khoảng 24.000 tỉ. Vậy sau khi ngân hàng phá sản, chủ tịch Ocean bank có thể sở hữu cao nhất là 24 ngàn tỉ !???
Đây có phải là chiêu” về sầu thoát xác” ?
Tuy nhiên, câu chuyện không dừng lại ở đây vì khó nuốt trôi số tiền này, nếu không có động thái vào cuộc của Ngân hàng Nhà nước, mua Ocean bank giá 0 đồng. Trên đời có 4 cái ngu: làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu. Thế nhưng, NHNN đã nhanh nhẩu thực hiện ngay một trong tứ đại ngu nhất thế giới, đó là lãnh nợ cho HVT !!!???
Vậy đã rõ: PVN cứ bơm tiền vào, Ocean bank cứ rút ruột, NHNN lấp liếm, bù chì. Cặp đôi, cặp ba hoàn hảo… Tất cả đều là tiền nhà nước!
Mềm nắn rắn buông
Nhiều người nói Đinh La Thăng là cửa ngõ dẫn đến Nguyễn Tấn Dũng, nếu xử lý hình sự ĐLT tất yếu sẽ kính động NTD, buộc NTD phải ra tay để tự vệ. Người Tử Tế hiện nay tuy đã về vườn, các mối quan hệ với những đồng chí cũ thì vẫn còn, đặc biệt với lãnh đạo quân khu 9. Dầu vậy, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, đồng thời là siêu thủ lãnh của cả quân đội và công an, lực và thế có thể nói là một mình một cõi, không có đối thủ, nếu quyết đoán, khiến Nguyễn Tấn Dũng thân bại danh liệt sẽ hoàn toàn khả thi. Vấn đề là tổng Trọng có dám mạo hiểm một chút hay không mà thôi.
Thật ra, giải quyết việc Nguyễn Tấn Dũng dựa thế quân khu 9 không phải quá khó, cũng không phải chưa từng có tiền lệ, hồi năm 2008, nguyên cả bộ sậu lãnh đạo quân khu thủ đô đã bị cách chức bởi được cho là chịu ảnh hưởng của đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Sau Hội nghị Trung ương 6, có vẻ như ông Trọng đã cuốn cờ xếp giáp, dĩ hoà vì quý. Chỉ tội cho gia tộc Nguyễn Văn Chí, Nguyễn Xuân Anh, bị đưa vào vai đóng thế để giữ lửa cho lò chống thấm nhũng của tổng Trọng:” Dập một đòn không thể ngóc đầu lên được”.
Đúng là mềm nắn rắn buông!
Quang Dũng/(Dân Luận)

 

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Mười 19, 2017

20171019. QUYẾT ĐỊNH ‘KHÔNG HỒI TỐ’ CÓ ĐÚNG LUẬT ?

ĐIỂM BÁO MẠNG

QUYẾT ĐỊNH ‘KHÔNG HỒI TỐ’ CÓ ĐÚNG LUẬT ?

NGUYỄN ĐĂNG QUANG/ BVB 19-10-2017

Người dân kỳ vọng Hội nghị Trung ương 6 ĐCSVN (Khóa XII) sẽ bàn và ra nghị quyết về những vấn đề quan trọng, trong đó có 3 chủ đề: Một là lộ trình cụ thể về chủ trương “tinh giảm biên chế” mà trọng tâm là việc “nhất thể hóa” bộ máy Đảng và Nhà nước từ Trung ương xuống địa phương. Hai là đẩy mạnh cuộc chiến chống tham nhũng (nhóm lò đốt củi tươi). Ba là tìm lối ra cho cuộc khủng hoảng ngoại giao với Cộng hòa Liên bang Đức sau việc Trịnh Xuân Thanh “về nước xin đầu thú”, dẫn đến việc Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức đình chỉ mối quan hệ đối tác chiến lược với VN, và khiến Hiệp định Thương mại Tự do giữa EU và VN (EVFTA) có thể bị đình hoãn!

Đây là vấn đề quan trọng và rất cấp bách! Song thật đáng tiếc, cả 3 chủ đề lớn và thiết thực này không được đưa ra bàn thảo! Thay vào đó, Hội nghị lại mang ra bàn những vấn đề xưa như cũ, tuy không phải là vô bổ, nhưng không thực chất và cấp thiết, đó là 2 chuyên đề “Dân số” và “Chăm sóc sức khỏe toàn dân”! Hai chuyên đề này đã làm “loãng” trọng tâm, làm “lệch” mục tiêu của Hội nghị! Đây là điều khiến người dân rất thất vọng, cho rằng chương trình nghị sự của Hội nghị đã bị cố tình làm loãng, làm chệch trọng tâm, lẩn tránh những vấn đề gay cấn và cấp bách! Nhiều nhà quan sát nhận định hình như có sự dàn xếp và thỏa thuận ngầm giữa các phe nhóm tại HNTW6. Tiến sỹ Phạm Chí Dũng nghi là có thỏa thuận ngầm tại HNTW6. Còn nhà báo Thiện Tùng lại cho rằng nếu có thỏa thuận ngầm thì nó xảy ra trước HNTW6 chứ không phải trong HNTW6!

         Do vậy, dù có tuyên truyền HNTW6 thành công và thắng lợi đến đâu đi nữa thì người dân sẽ không dễ tin! Có lẽ, thắng lợi cụ thể và nổi bật nhất của Hội nghị Trung ương lần này là ĐCSVN đã thành công khi kỷ luật được ông Nguyễn Xuân Anh qua việc cách chức Bí thư Thành ủy Đà Nẵng và cho thôi chức Ủy viên Trung ương Đảng đối với ông này. Nhưng rất nhiều trường hợp tương tự khác, mức độ còn lớn và nghiêm trọng hơn nhiều thì không thấy Đảng đề cập tới! Người dân không thể đòi hỏi, vì đây là chuyện nội bộ của Đảng. Còn việc ông Xuân Anh có vi phạm pháp luật, có tham nhũng hay không, thì cơ quan pháp luật chưa kết luận, nên người dân không vội đánh giá. Mọi việc sẽ sáng tỏ khi các cơ quan tố tụng vào cuộc! Người dân phát hiện một chi tiết đáng chú ý là, trong diễn văn bế mạc sáng hôm 11/10/2017, đúng 3 ngày sau khi công bố quyết định kỷ luật ông Nguyễn Xuân Anh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đưa ra đánh giá: “Dư luận đại đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân cho rằng đây là mức kỷ luật vừa nghiêm khắc vừa nhân văn, thấu lý đạt tình, tâm phục khẩu phục, có tác dụng giáo dục, cảnh tỉnh, cảnh báo, phòng ngừa chung rất sâu sắc”! Người viết bài này bày tỏ sự thán phục ông TBT vì đã nhanh chóng nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của dân chúng, nhưng độ chính xác đến đâu thì cần bàn vì Đảng đâu đã tiến hành khảo sát hoặc nắm tình hình đâu? Trong buổi tiếp xúc cử tri quận Tây Hồ và Ba Đình sáng ngày 12/10/2017, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng còn tiết lộ: “Lần đầu tiên, người bị kỷ luật còn cảm ơn vì “đã kỷ luật tôi”. Rất nhiều người hồ nghi. Người viết bài này đặt nghi vấn, “người cảm ơn” đó là ai? Có thật không? Phải chăng người đó là ông Đinh La Thăng, nếu không thì là ông Nguyễn Xuân Anh? Ông Tổng Bí thư ngại gì mà không nêu rõ danh tính người đó đi?

      Một điều rất đáng chú ý nữa là trong diễn văn bế mạc nói trên, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng kêu gọi 199 Ủy viên Trung ương Đảng và toàn thể đảng viên của ĐCSVN “ Hãy tránh xa những cám dỗ vật chất, tham vọng, tránh đi vào vết xe đổ, để tay nhúng chàm, và nếu đã trót nhúng chàm rồi thì tự giác gột rửa!”. Như vậy, rõ ràng là qua lời kêu gọi này, TBT Nguyễn Phú Trọng đã gửi tới những kẻ “đã trót nhúng chàm” (phải hiểu là tuyệt đại đa số bọn chúng là những kẻ tham nhũng), một thông điệp không thể rõ ràng hơn là ĐCSVN đã quyết định khép lại quá khứ, không mang ra xem xét kỷ luật và không hồi tố, chỉ yêu cầu các đồng chí  “đã trót nhúng chàm rồi thì tự giác gột rửa”!? Ông Tổng Bí thư của Đảng còn nhấn mạnh hơn khi ông tuyên bố, xin trích: “Từ nay trở đi, bất cứ trường hợp nào mà vi phạm kỷ luật, chúng ta phải xử lý nghiêm, làm nghiêm từ trên xuống dưới để giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng, để lấy lại và củng cố lòng tin và tình thương yêu, quý trọng của nhân dân”. Như vậy thật là rõ!

       Đây là quyết định “không hồi tố” của Đảng, và quyết định này có thể “có tác dụng giáo dục, cảnh tỉnh, cảnh báo, phòng ngừa rất sâu sắc” như mong muốn của ông Trọng! Nhưng xin nói thật, quyết định này chỉ đúng khi Đảng áp dụng đối với những đảng viên tham nhũng, tham ô tiền bạc, công quỹ của riêng ĐCSVN mà thôi! Vâng, Đảng có thể không kỷ luật, không hồi tố và “xí xóa” trách nhiệm pháp lý cho số đảng viên này, vì đây là tiền của Đảng, tài sản của riêng Đảng, Đảng có quyền làm theo ý Đảng! Còn bọn tham nhũng mà 99% bọn chúng là cán bộ, đảng viên có chức có quyền thì lại khác! Bọn tham nhũng này (mà nay đã trở thành bầy sâu, tập đoàn sâu), chúng đã ăn cắp tiền bạc, tài sản của dân, cướp đất đai, nhà cửa, ruộng vườn của dân! Đây là tội danh hình sự, tội danh này phải bị pháp luật  trừng phạt! Còn người dân là chủ thể bị hại, họ phải được hỏi ý kiến, chứ Đảng không có quyền đơn phương quyết định thay họ và thay cho pháp luật để “xí xóa”, tha bổng cho bọn chúng được!

      Nếu ĐCSVN thực sự muốn giữ lòng tin của người dân thì phải hành động hợp với lòng dân, không được làm trái lòng dân! Chính ông Trọng đã nói trong diễn văn bế mạc Hội nghị sáng hôm 11/10/2017: “Cần khẳng định, Đảng làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn! Ngược lại, nếu làm trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”! Vâng, muốn tồn tại thì Đảng phải làm hợp lòng dân, làm trái lòng dân thì Đảng chắc chắn sẽ sụp đổ! Xin dẫn lại câu nói trên của ngài Tổng Bí thư để thay cho lời kết của bài viết này.

    Hà Nội, ngày 17/10/2017.

        N.Đ.Q. (Tác giả gửi BVB)

CHỦ TRƯƠNG LÀM NHÂN SỰ KIỂU ‘PHÁ CÁCH’ CỦA ÔNG TẬP CẬN BÌNH

NGÔ TUYẾT / TVN 18-10-2017

Đảng cộng sản Trung Quốc,Tập Cận Bình

 Hôm nay, Đại hội 19 Đảng Cộng sản Trung Quốc chính thức khai mạc tại Bắc Kinh; cũng như mọi khi vấn đề sắp xếp nhân sự trở thành tiêu điểm được quan tâm nhất.

Trong khi các cơ quan truyền thông trong, ngoài Trung Quốc và mạng xã hội đưa ra những phán đoán về những nhân sự chủ chốt thì một số nhà bình luận lại quan tâm phân tích cách dùng người khác hẳn những người tiền nhiệm của ông Tập Cận Bình sau khi lên nắm quyền ở Đại hội 18 cho tới nay.

Một bài bình luận đăng trên tờ Đông Phương hôm 14/10 cho rằng: khi lên nắm quyền tại Đại hội 18, ông Tập Cận Bình tuy đã là Tổng Bí thư, nhưng tuyệt đại đa số vị trí hạt nhân đều thoát khỏi tầm tay ông. Ví dụ như quân đội, nhân sự của các Tổng bộ Chính trị, Tham mưu và các đại quân khu đều do Quách Bá Hùng và Từ Tài Hậu sắp đặt từ trước; hệ thống Chính pháp thì là thiên hạ của Chu Vĩnh Khang; các địa phương đều là “cứ điểm” của các “phái đoàn thanh niên” hay “dầu khí”. Nhìn tình thế chung, ông trở nên cô lập…Thế nhưng, (ông) Tập Cận Bình đã áp dụng một loạt biện pháp khác với bình thường để tăng cường tập trung quyền lực và thanh lọc nhân sự.

Về quân đội, đầu tiên ông thông qua điều chỉnh cải cách thể chế, cải tổ cơ quan tổng bộ và 5 đại chiến khu (vùng chiến lược) để giảm bớt một số nhân sự không phù hợp.

Sang năm 2017, từ tháng 1, ông Tập Cận Bình đã bãi chức một loạt Thượng tướng; một loạt Phó chủ nhiệm Bộ tham mưu Quân ủy và Phó chủ nhiệm Bộ Chính trị Quân ủy buộc phải nghỉ hưu, cơ quan tổng bộ vắng vẻ hẳn. Đến tháng 8, ông ra lệnh miễn chức kiêm nhiệm tất cả các ủy viên Quân ủy; 4 ngành tham mưu, chính trị, hậu cần, trang bị cùng 4 quân chủng hải, lục, không quân và tên lửa chiến lược đều bị thay người đứng đầu; Chủ nhiệm Hội đồng Tham mưu Phòng Phong Huy và Chủ nhiệm Bộ Chính trị Quân ủy Trương Dương đều bị điều tra.

Đối với bố cục nhân sự các địa phương cấp tỉnh, những người xuất thân đoàn thanh niên, ngành dầu khí không còn được trọng dụng,  đồng thời đề bạt nhân tài kiểu “phá cách”. Hiện nay trong số lãnh đạo chủ chốt số 1 và 2 của các tỉnh, thành có tới 19 người không phải là Ủy viên trung ương hoặc Ủy viên dự khuyết trung ương hay Ủy ban kiểm tra kỷ luật. Ngay Bí thư Thái Kỳ và Thị trưởng Trần Cát Ninh của thủ đô Bắc Kinh cũng đều không phải ủy viên “3 ủy ban” như trước đây, tạo nên tiền lệ chưa từng có trong lịch sử chính trị của Bắc Kinh.

Đảng cộng sản Trung Quốc,Tập Cận Bình

Đại hội 19 Đảng Cộng sản Trung Quốc chính thức khai mạc tại Bắc Kinh ngày 18/10; cũng như mọi khi vấn đề sắp xếp nhân sự trở thành tiêu điểm được quan tâm nhất.

Việc ông Tập Cận Bình mạnh tay điều chỉnh cơ cấu và thanh lọc, sắp xếp lại nhân sự một mặt thể hiện ông đã nắm chắc quyền lực trong tay; mặt khác cho thấy ông không chịu sự gò ép của các khuôn phép trước đây: ai cần trọng dụng thì kiên quyết trọng dụng, một số thuộc diện nghỉ hưu cũng vẫn được sử dụng; một số “hạt giống” có tiềm năng được mạnh dạn sử dụng, đề bạt vượt cấp…Cách sử dụng nhân tài vượt qua khuôn sáo của ông Tập Cận Bình đã phá vỡ nhận thức cố hữu của giới phân tích. Cho nên dự đoán về nhân sự của họ cũng khó mà chính xác.

Theo quy định của Điều lệ Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đại hội 19 sẽ bầu ra  cơ cấu quyền lực là Ủy ban trung ương gồm các Ủy viên chính thức, Ủy viên dự khuyết trung ương và Ủy ban Kiểm tra kỷ luật trung ương. Hội nghị Ủy ban trung ương lần thứ nhất sẽ bầu ra Tổng Bí thư, Bộ Chính trị và Ban thường vụ Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ủy ban Quân sự trung ương (Quân ủy).

Ban lãnh đạo mới lần này “đổi khóa không đổi thế hệ”, tức vẫn là “thế hệ lãnh đạo thứ 5”, nhưng sẽ “thay mới loại cũ” với số nhân sự mới trong Bộ Chính trị và Ban thường vụ Bộ Chính trị chiếm hơn một nửa. Trước khi khai mạc Đại hội 19, đã có dư luận về việc cải cách thể chế ban lãnh đạo cấp cao nhất, như thay thế Tổng Bí thư bằng Chủ tịch đảng hay số Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị từ 7 giảm xuống 5. Nhưng những giả thuyết đó đều khó diễn ra vì hiện đã xác định ông Tập Cận Bình là hạt nhân lãnh đạo đảng, nếu thay đổi chế độ lãnh đạo vừa phiền hà lại không có ý nghĩa thực tế, việc thay đổi này sẽ để lại cho đại hội khóa sau.

Dưới tiền đề không thay đổi thể chế lãnh đạo, không thay đổi thế hệ, ông Tập Cận Bình đương nhiên vẫn giữ chức Tổng Bí thư, ông Lý Khắc Cường cả tuổi tác và năng lực đều thích hợp để tiếp tục giữ chức Thủ tướng. Trừ hai người cũ đó, 5 thành viên mới trong Ban thường vụ đều sẽ do các Ủy viên Bộ Chính trị khóa 18 thăng nhiệm.

Ngô Tuyết

AI NÊN ‘ĐẦU THÚ’ TRONG VỤ ĐỒNG TÂM ?

NGUYỄN ĐÌNH ẤM/ BVN 19-10-2017

Ngày 13-10-2017, nhiều tờ báo “quốc doanh” đưa tin công an Hà Nội gửi thư kêu gọi những ai ở Đồng Tâm phạm tội “giam giữ người trái pháp luật và phá hoại tài sản” ra đầu thú để hưởng lượng khoan hồng, vì “đánh kẻ chạy đi không đánh kẻ chạy lại”, thế nhưng đến nay chưa có người dân nào ra “đầu thú” để “hưởng khoan hồng của công an Hà Nội”.

Vậy ai là người phải “đầu thú” trong vụ này?

Qua theo dõi vụ Đồng Tâm từ khá sớm và tiếp xúc rộng rãi với bà con, thị sát thực địa, nghiên cứu các văn bản, từ quyết định 113 năm 1980 của Chính phủ (CP) giao 208 ha đất của hai huyện Chương Mỹ, Mỹ Đức (trong đó có 47,6 ha thuộc xã Đồng Tâm – huyện Mỹ Đức) cho Bộ Quốc phòng (BQP) đến các văn bản trao đổi, giao ước giữa thành phố Hà Nội và Vietel, kết luận thanh tra của Thanh tra Hà Nội… có thể rút ra kết luận: Hầu hết thiếu sót, khuyết điểm là do sự quan liêu của BQP, sự sai phạm của Quân chủng Phòng không- không quân (QCPKKQ), sự lộng hành, vi phạm pháp luật, đối xử tàn tệ, vô lương tâm đối với dân Đồng Tâm của chính quyền Hà Nội. Hãy xem ai nên ra “đầu thú” qua những tình tiết này:

– Năm 1980, CP giao BQP 208 ha đất canh tác của dân để làm sân bay Miếu Môn. Sau không có nhu cầu làm sân bay, không thực hiện mục đích CP giao nhưng BQP không trả lại đất cho CP mà để QCPKKQ bỏ hoang, cho thuê “phát canh thu tô”. Hành vi này của BQP, QCPKKQ là đúng hay sai? Đó là chưa nói số tiền cho dân thuê hơn 30 năm kia là bao nhiêu, ai hưởng? Rõ ràng các đời lãnh đạo CP, BQP, QCPKKQ từ năm 1980 đến nay phải “tự thú” mình đã quan liêu, thiếu sót mới phải. Thử hỏi hơn 36 năm qua, nếu để 208 ha đất cho dân khai thác thì sẽ làm ra bao nhiêu của cải, xóa đói, giảm nghèo cho bao nhiêu con người?

– CP giao 208 ha đất cho BQP làm sân bay, nay BQP tự tiện chuyển cho doanh nghiệp (Vietel) để kinh doanh thì có đúng thẩm quyền không? Ai phải “tự thú” về sai phạm này?

– Năm 2016, chính quyền Hà Nội giao kết với Vietel hợp tác, trong đó chính quyền HN có nhiệm vụ giải phóng mặt bằng, lo các văn bản pháp lí… tức thành phố và Vietel là bên tranh chấp cánh đồng Sênh với dân Đồng Tâm nhưng lại không đối thoại, đo đạc, đưa ra bằng chứng cánh đồng Sênh là đất quốc phòng mà tự mình đứng ra kết luận bừa đó là đất quốc phòng. Như thế có đúng thẩm quyền không? Đây là vụ tranh chấp dân sự nhưng một bên (thành phố Hà Nội, BQP) cuối năm 2016 tự tiện huy động lực lượng vũ trang nhân dân (chỉ có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh, trật tự xã hội) với 600 cảnh sát trang bị vũ khí đến “tận răng” trấn áp dân, bảo vệ mặt bằng cho Vietel xây công trình là đúng hay sai? Hành động này nếu không gọi là “cướp có vũ trang” thì gọi là gì?

– Ngày 15-4-2017, ba sĩ quan của BQP và toán công an về Đồng Tâm bảo bà con ra cánh đồng Sênh để xác định mốc giới nhưng đến mốc thứ 15-20 thì họ nói với cụ Kình bảo bà con về bớt,chỉ ít người ở lại “mới làm việc được”. Sau khi cụ Kình cả tin, bảo bà con về, họ bất thình lình nổ hai loạt súng uy hiếp. Tên trung tá Trần Thanh Tùng, Phó Công an huyện Mỹ Đức đá cụ Kình văng 2 mét, làm cụ gãy hai đoạn xương đùi, rạn xương chậu rồi xốc nách cụ, quăng lên ô-tô. Họ còn bắt thêm 4 người nữa, chở cả về trụ sở công an ở số 7 Thiền Quang (Hà Nội) tra hỏi, đánh đập. Ba ngày sau, sợ cụ Kình chết, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung mới cho đưa cụ từ Thiền Quang tới Bệnhviện 108 rồi Bệnh viện Việt Đức để chạy chữa, nay cụ Kình đã bị tàn phế, không thể đi lại bình thường. Sau hành vi côn đồ này, dân Đồng Tâm phẫn nộ, đã đưa hơn 38 cán bộ, chiến sĩ cảnh sát, cán bộ huỵên Mỹ Đức được điều động tới trấn áp dân về giữ ở nhà văn hóa thôn Hoành để đòi công lí. Bà con đối xử, chăm nuôi cán bộ,chiến sĩ tử tế, được hầu hết cán bộ, chiến sĩ cảm ơn, một số còn nhắn gửi chính quyền Hà Nội hãy đối thoại với dân (tôi đã đọc bản tường trình của họ trước khi ra về). Đến nay, những tên lừa cụ Kình và dân làng, kể cả tên trung tá Trần Thanh Tùng vẫn “bình chân như vại”. Vậy ở đây ai vi phạm pháp luật trước, ai là lưu manh,côn đồ, lộng hành, cần phải “đầu thú”?

clip_image002

Phim X quang cho thấy cụ Kình bị tên trung tá công an Trần Thanh Tùng đánh gãy xương đùi, rạn xương chậu

– Trong khi việc tranh chấp cánh đồng Sênh chưa ngã ngũ, huyện Mỹ Đức đã soạn bài vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của cụ Kình và dân làng, phát trên hệ thống loa của cả huyện, riêng ở Đồng Tâm cứ 2 giờ lại phát một lần. Ai cho phép chính quyền dùng phương tiện công cộng để vu khống, xúc phạm công dân trong cuộc tranh chấp dân sự? Ai phải “tự thú” về hành vi lộng hành, bất chính, vi phạm pháp luật trắng trợn này?

– Ngày 13-6-2017, Công an Hà Nội khởi tố vụ án nhưng chỉ có nội dung về “hành vi bắt giữ người trái pháp luật, hủy hoại tài sản” mà không hề đề cập hành vi côn đồ, bắt cóc, xâm phạm sức khỏe, tính mạng cụ Kình và 4 người dân Đồng Tâm. Từ đầu tháng 8-2017, Công an Hà Nội, Cục Điều tra hình sự – BQP gửi 70 giấy triệu tập đến 70 người dân Đồng Tâm. Đây lại là hành vi lộng quyền nữa. Một trong hai bên tranh chấp dân sự nhưng không trao đổi, tranh luận, đưa ra bằng chứng đấu tranh hoặc mời cơ quan có thẩm quyền phán xét mà lại mượn quyền hành của mình để trấn áp bên kia thì có khách quan, có đúng thẩm quyền không? Ai phải thấy sai, thấy hèn, ai phải hối cải, “đầu thú” đây?

clip_image004

Cán bộ công an vái chào người dân Đồng Tâm khi rời khỏi nhà văn hóa thôn Hoành

– ĐồngTâm là xã bán sơn địa, nguồn sống chủ yếu dựa vào đồng ruộng, Xã có 2.572 hộ, 8.647 nhân khẩu, năm 1961 đã bị nhà nước lấy mất 300 ha đất làm trường bắn (năm 2011 BQP xin CP cho chuyển 176 ha đất trường bắn này làm sân golf), năm 1980 nhà nước lấy thêm 47,6 ha đất nông nghiệp làm sân bay Miếu Môn, nên nay đất sản xuất còn quá ít. Từ năm 1995, người đẻ ra không được phân ruộng nữa. Trong khi đó, BQP bỏ hoang 208 ha đất hơn 36 năm qua, tệ hơn nữa, còn bắt dân thuê lại chính mảnh đất từng của họ. Nay chính quyền Hà Nội và BQP lại muốn lấy nốt cánh đồng Sênh bằng vũ lực để kinh doanh? Ông Nguyễn Đức Chung còn tuyên bố dân không có quyền biết đất thu của dân dùng vào việc gì. Bí mật ư?Thời Pháp thuộc, ai bí mật cưu mang, nuôi nấng các cán bộ cộng sản? Thời chống Mỹ, những tiểu đoàn quân đội nương náu trong dân để luyện tập, chờ đi Nam thì có cần bí mật không? Họ từ đâu ra, được ai nuôi mà vô ơn, bất nhân, bất hiếu, bất nghĩa như thế?

Ai là người cần phải “tự thú” để hưởng lượng khoan hồng đây?

N.Đ.Â

(Tác giả gửi BVN)

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Mười 18, 2017

20171018. THẾ NÀO LÀ ‘GIÁO DỤC ĐẠI HỌC KHAI PHÓNG’ ?

ĐIỂM BÁO MẠNG

THẾ NÀO LÀ ‘GIÁO DỤC ĐẠI HỌC KHAI PHÓNG’ ?

THÙY LINH/ GDVN 18-10-2017

Quang cảnh giao lưu tại hội thảo “Giáo dục khai phóng : Hướng đi mới cho giáo dục đại học tại Việt Nam”, ảnh: Báo Tin tức.

Giáo dục khai phóng (Liberal Arts Education) là mô hình giáo dục đặc sắc của giáo dục đại học Hoa Kỳ, được áp dụng rộng rãi ở Châu Âu và nhiều nước Châu Á.

Đặc trưng của mô hình này  là đào tạo linh hoạt, cả chiều rộng cũng như chiều sâu của môn học, khuyến khích các môn liên ngành, tăng quyền lựa chọn cho sinh viên.

Giáo dục khai phóng là một hệ thống giáo dục được thiết kế để thúc đẩy sinh viên gia tăng mong muốn và khả năng học hỏi, suy nghĩ chín chắn, giao tiếp thành thạo, trở thành công dân có trách nhiệm với xã hội.

Tại Việt Nam, đến nay khái niệm “giáo dục khai phóng” hiện đã xuất hiện trong khẩu hiệu, triết lý giáo dục của một số trường đại học cả miền Bắc và miền Nam.

Điều này được thể hiện thông qua hội thảo “Giáo dục khai phóng : Hướng đi mới cho giáo dục đại học tại Việt Nam” do Đại học Fulbright Việt Nam và Đại học Việt Nhật tổ chức ngày 16/10 vừa qua.

Các đại biểu tham gia đã có những trao đổi những ý tưởng cốt lõi của giáo dục khai phóng và sự tương tác với giáo dục Việt Nam.

Tại hội thảo, bà Đàm Bích Thủy – Chủ tịch trường Đại học Fulbright Việt Nam – trường đại học độc lập, không vì lợi nhuận đầu tiên của Việt Nam, được truyền cảm hứng bởi mô hình giáo dục khai phóng của Hoa Kỳ, cho biết:

Các mô hình giáo dục khác dạy sinh viên kiến thức, kỹ năng để làm một công việc cụ thể. Còn giáo dục khai phóng có 3 đặc trưng: dạy cách học, học cách nghĩ và học cách sống.

Tuy nhiên, bà Thủy cũng nhấn mạnh:

Chúng tôi không cổ xúy một phương pháp học nào tối ưu nhất bởi không có phương pháp nào là phù hợp với 100% sinh viên”.

Sinh viên năm nhất chưa cần trả lời câu hỏi ra trường sẽ làm gì, tránh cho sinh viên đưa ra quyết định khi mới bước qua tuổi 18.

Trong hai năm tiếp theo, sinh viên được tiếp xúc với nhiều môn học khác nhau một cách tự chọn, không áp đặt để các em khám phá ra mình say mê điều gì, khát khao làm việc gì nhất để đưa ra quyết định.

Bà Thủy đưa ra ví dụ về một bạn trẻ say mê kiến trúc nhưng theo mong muốn của cha mẹ nên đi học y.

Mặc dù việc học rất tốt, ra trường có công việc cũng rất ổn nhưng cậu ấy vẫn mong muốn được thiết kế một thứ gì đó. Và giờ cậu ấy nuối tiếc vì không thời gian để theo đuổi giấc mơ của mình.

Khi 17-18 tuổi, nhiều em chưa biết mình thích gì. Vì vậy, bắt phải lựa chọn nghề nghiệp thì rất nhiều em sau này sẽ cảm thấy nuối tiếc. Giáo dục phải giúp các em sau này không phải nói những điều “giá như” như thế trong vòng 10-15 năm sau” – bà Thủy chia sẻ.

Nói tới đây, bà Đàm Bích Thủy đưa ví dụ về Mark Zuckerburg –  người sáng lập mạng xã hội Facebook rằng:

Anh học chuyên ngành tâm lý ở Đại học Harvard chứ không phải là khoa học máy tính. Mark luôn nói môn tâm lý đã giúp cho mình nhiều hơn là khoa học máy tính.

Nếu không nhận biết được cách hành xử của người tiêu dùng tại thời điểm đó thì cậu ấy sẽ không thể tạo ra được Facebook như hiện nay”.

Còn theo quan điểm của Ngô Thùy Ngọc Tú, cựu sinh viên của Đại học Stanford (Hoa Kỳ) lại cho rằng, những lớp học đầu tiên của Liberal Art mà cô được học trong trường không phải là triết học hay lịch sử như nhiều người nghĩ, mà là về ý nghĩa cuộc sống, cái chết.

Khi học những chủ đề đó, sinh viên buộc phải đọc rất nhiều sách về khoa học tự nhiên, sách y học, sinh học và cả những sách về triết học, nhân văn…

Trong khi đó Giáo sư Randall Woods – Trường Nghệ thuật và Khoa học Fulbright, Đại học Arkansas cho biết, ở ngay tại Mỹ, vẫn có những tranh cãi lớn về giá trị của giáo dục khai phóng.

Thừa nhận có tranh cãi về giáo dục khai phóng, Giáo sư Furuta Motoo – Hiệu trưởng Trường Đại học Việt Nhật (VJU) tiết lộ, ngay cả ở Nhật, nhiều lãnh đạo cũng nghi ngờ giá trị của đường lối giáo dục này.

Dù thừa nhận giá trị của giáo dục khai phóng, song các chuyên gia cũng nhìn nhận, việc thúc đẩy giáo dục khai phóng ở Việt Nam sẽ gặp nhiều thách thức.

Giáo sư Furuta Motoo, người có nhiều năm gắn bó với Việt Nam nhắc lại, vào đầu thập niên 90 tại Việt Nam đã xây dựng trường đại học đại cương dạy những kiến thức cơ bản cho sinh viên trước khi chuyển sang đào tạo chuyên ngành là đã bắt đầu đi theo triết lý giáo dục khai phóng.

Tuy nhiên, mô hình này không duy trì được lâu.

Là “tác giả” của đại học đại cương ở Việt Nam, Giáo sư Lâm Quang Thiệp – nguyên Vụ trưởng Vụ giáo dục đại học (Bộ Giáo dục và Đào tạo) cho biết:

Thực tế, trước năm 1986, giáo dục đại học của Việt Nam đi theo mô hình của Liên Xô, nghĩa là đào tạo những chuyên ngành rất hẹp. Kể cả các môn cơ bản, cơ sở trong chương trình của họ cũng chỉ phục vụ mục đích đào tạo nghề.

Khi đổi mới, Việt Nam tham khảo mô hình của Mỹ, phân chia thành 2 phần: Giáo dục đại cương và Giáo dục chuyên nghiệp.

Tuy nhiên, việc đưa giáo dục đại cương vào Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn vì ngay cả những người đầu ngành lúc đó cũng đều được đào tạo tại Liên Xô nên không chấp nhận giáo dục đại cương.

Đến nay, nhìn nhận từ thực tiễn, Giáo sư Lâm Quang Thiệp cho rằng, đến đầu thế kỷ 21, tinh thần giáo dục khai phóng đang bắt đầu trỗi dậy trên cả thế giới và Việt Nam. Hiện nay, vòng đời công nghệ ngắn nên nếu chỉ theo học một chuyên môn hẹp thì rất dễ thất nghiệp.

Thuộc về “lứa” đầu tiên học chương trình giáo dục đại cương 2 năm, Tiến sĩ Giáp Văn Dương cho rằng, việc chia giai đoạn chỉ  là đơn giản cắt một cách cơ học 5 năm thành 2 năm đại cương, 3 năm chuyên sâu. Mọi thứ vẫn như vậy, các môn vẫn như vậy thì việc tách ra không có ý nghĩa gì.

Từ đó, ông Dương góp ý rằng, cái khó của giáo dục khai phóng là những người thầy, bởi không có những “người thầy khai phóng” sẽ không có giáo dục khai phóng.

Thùy Linh
CÓ HAY KHÔNG ‘TẬP ĐOÀN TƯ BẢN, NHÓM LỢI ÍCH THÂN HỮU’ ?
TIẾNG DÂN/ BVB 17-10-2017
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc (phải) nói chuyện với Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng. Nguồn: Zing

Từ chuyện đại gia Vũ Văn Tiền…Cuối tháng Tám vừa qua, truyền thông Việt Nam, cả “lề đảng” lẫn “lề dân”, đều xôn xao trước thông tin đại gia Vũ Văn Tiền, ông chủ tập đoàn Geleximco, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ về việc hợp tác với doanh nghiệp Trung Quốc để xây dựng sân bay Long Thành trong thời gian 3-5 năm.


Việt Nam vốn đã có quá nhiều bài học xương máu trong chuyện “hợp tác” với Trung Quốc. Các dự án do Trung Quốc thực hiện tại Việt Nam thường xuyên rơi vào tình trạng chất lượng thấp, đội vốn, chậm tiến độ… và đặc biệt là tiềm ẩn những mối đe doạ về mặt an ninh, quốc phòng. Chính vì thế, đề xuất của đại gia bí hiểm Vũ Văn Tiền đã gặp phải sự phản đối gay gắt của dư luận.

Dù vậy, trong bài “Phi trường Long Thành sẽ thuộc… Trung Quốc?”, tác giả Thiền Lâm (bút danh của một nhà báo tên tuổi trong nước), lại nhận định: “Rất nhanh, nhanh đến mức kỳ lạ, chỉ ít ngày sau việc đại gia Vũ Văn Tiền, chủ tịch kiêm tổng giám đốc Tập đoàn Geleximco và ông Chen Yi Long, chủ tịch Tập đoàn Năng lượng mới KAIDI Dương Quang của Trung Quốc, đề xuất Thủ tướng đồng ý về mặt nguyên tắc cho phép đầu tư dự án xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành theo hình thức PPP, một quan chức của Bộ Giao thông vận tải là Thứ trưởng Lê Đình Thọ đã chính thức xuất hiện với chỉ đạo ‘giao Tổng Công ty Cảng hàng không Việt Nam lập báo cáo nghiên cứu khả thi, khi thông qua rồi mới có cơ sở tuyển chọn nhà đầu tư’.”

Và lý do của cái sự “nhanh đến mức kỳ lạ” đó, theo tác giả Thiền Lâm, chính là vì Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc là người được dư luận xem là “thân” với ông Vũ Văn Tiền.

…đến hai tỷ phú Lê Viết Lam và Phạm Nhật Vượng

Vũ Văn Tiền cùng đề xuất xây dựng sân bay Long Thành không phải là vụ việc duy nhất gắn với một “đại gia” trong giới tư bản thân hữu khiến dư luận bàn tán xôn xao mà người ta thấy lấp ló đằng sau bóng dáng của đương kim Thủ tướng Việt Nam.

Chỉ một hai ngày sau đề xuất gây sửng sốt của đại gia Vũ Văn Tiền, công chúng lại phải đón nhận thêm một thông tin đầy thất vọng: Trong buổi làm việc với lãnh đạo chủ chốt tỉnh Quảng Bình, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã đồng ý chủ trương xây cáp treo ở Phong Nha – Kẻ Bàng. Và cái tên đứng đằng sau dự án khiến dư luận bất bình này không phải là ai xa lạ mà chính là “kẻ huỷ diệt thiên nhiên” Sun Group.

Vài thông tin dưới đây hẳn sẽ khiến người ta phải đặt câu hỏi là liệu Sun Group có “tác động” đến ngài Thủ tướng hay không:

1) Năm 2014, tỉnh Quảng Bình từng thông báo về dự án đầu tư tuyến cáp treo từ Phong Nha vào cách cửa động Sơn Đoòng 300m của Sun Group. Tuy nhiên, trước phản ứng gay gắt của dư luận, chủ đầu tư đã rút lui. Một năm sau, bản quy hoạch Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng đến năm 2030 đã không đề cập đến việc xây dựng cáp treo.

2) Ngày 2/9/2016, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thân chinh đến dự lễ động thổ dự án công viên văn hóa du lịch vui chơi giải trí Kim Quy của Sun Group tại Đông Anh, Hà Nội.

3) Ngày 27/12/2016, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát lệnh khởi công dự án khu du lịch sinh thái Tam Đảo của Sun Group tại Tam Đảo, Vĩnh Phúc.

4) Ngày 13/4/2017, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đi thăm khu nghỉ dưỡng do Sun Group làm chủ đầu tư tại Phú Quốc. Tại đây, ông hồ hởi: “Hôm qua, đoàn công tác Chính phủ có lên dự hội nghị ở Lào Cai và tôi đã lên đỉnh cao Fansipan, đỉnh cao nhất Đông Dương, 3.143 m bằng cáp treo hiện đại nhất thế giới do Sun Group đầu tư xây dựng. Một ấn tượng vô cùng mạnh mẽ về sự đầu tư công phu, trách nhiệm đối với sự phát triển của đất nước ở những vùng xa xôi, hẻo lánh, cao nhất của khu vực Đông Dương” (!).

Còn với Vingroup, một tập đoàn tư nhân đình đám khác thì sao? Xin thưa, câu hỏi “Ai cho phép xây cao ốc 50 tầng ở Giảng Võ?” của ngài Thủ tướng (liên quan đến tổ hợp văn phòng, trung tâm thương mại, officetel và căn hộ chung cư cao cấp do Vingroup xây dựng trên nền Trung tâm Triễn lãm Giảng Võ cũ) như thể rơi tõm đâu đấy giữa không trung, chứ không phải được phát ra ngay tại phiên họp của chính phủ với lãnh đạo các tỉnh, thành trong cả nước ngày 29/12 năm ngoái.

Thế rồi ngay trong ngày làm việc đầu tiên sau Tết Nguyên đán, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã tham gia lễ khởi động dự án sản xuất nông nghiệp công nghệ cao của Vingroup tại tỉnh Hà Nam. Chỉ hơn một tháng sau, ngày 26/3/2017, ngài Thủ tướng lại trịnh trọng bấm nút khởi công dự án khu phức hợp du lịch nghỉ dưỡng Vinpearl Nam Hội An của Vingroup tại Quảng Nam. Và mới đây, trong lễ khởi công dự án tổ hợp sản xuất ôtô Vinfast của Vingroup tại Hải Phòng sáng 2/9/2017, người ta còn thấy ông vung tay quả quyết: “Việc khởi công này là một cử chỉ yêu nước” (!).

Và những hệ luỵ khôn lường

Trước hết, cần phải khẳng định, việc tham dự lễ lạt do các tập đoàn tư nhân tổ chức không phải là nhiệm vụ của một Thủ tướng Chính phủ vốn chịu trách nhiệm điều hành bộ máy hành chính quốc gia và nền kinh tế của một đất nước với hơn 90 triệu dân. Hình ảnh một vị Thủ tướng cứ hết “dự lễ động thổ” dự án của tập đoàn cá mập này lại đến “ấn nút khởi công” dự án của ông trùm mafia kinh tế kia khiến công chúng ngày càng ngờ vực tinh thần “liêm chính, kiến tạo” của chính phủ mà ông đang luôn miệng hô hào.

Đáng lo ngại hơn, các nhóm lợi ích thân hữu đang gây ảnh hưởng tới ngài Thủ tướng lại có mối liên hệ đáng ngờ với Trung Quốc.

Tháng 10/2016, Geleximco đã cùng đối tác Hồng Kông là Công ty TNHH Hong Kong United Investors Holding (HUI) đề nghị Bộ Giao thông Vận tải cho phép tham gia đầu tư vào các dự án hạ tầng giao thông lớn tại Việt Nam, với tổng chi phí dự kiến có thể lên tới gần 50 tỷ USD, bao gồm: đường cao tốc Bắc Nam đoạn Thanh Hóa – Hà Tĩnh và Sài Gòn – Khánh Hòa, dự án đường bộ cao tốc Hạ Long – Vân Đồn – Móng Cái, dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam và dự án xây dựng sân bay Long Thành. Theo đăng ký kinh doanh, HUI là một doanh nghiệp của Hồng Kông, thành lập ngày 15/1/2016, trụ sở đóng tại một căn hộ nằm trên đường Queen, Central, Hồng Kông. HUI đã thành lập Công ty TNHH MTV Hong Kong United Investors Holding Việt Nam (HUI Việt Nam) vào ngày 15/8/2016 và đặt trụ sở tại toà nhà 36 Hoàng Cầu (Hà Nội) của Geleximco.

Với Sun Group, hồi đầu tháng 8 vừa qua, cộng đồng mạng “lề dân” còn xôn xao trước thông tin nhân viên lễ tân khách sạn InterContinental Danang Sun Peninsula Resort của Sun Group ở Đà Nẵng đeo phù hiệu cờ Trung Quốc 6 sao. Một vụ việc đặc biệt nghiêm trọng như thế nhưng khách sạn InterContinental lại trả lời rất lấp liếm và trí trá.

Trang The Leader của Hội các Nhà quản trị doanh nghiệp Việt Nam ngày 5/9 thì cho biết là nhiều ngân hàng Trung Quốc và Đài Loan đã cung cấp vốn cho Vingroup.

Đặc biệt, hồi tháng Ba vừa qua, dư luận đã một phen xôn xao trước thông tin Sungroup, Vingroup và Geleximco cùng góp tiền lập dự án quy hoạch cho đô thị hai bên bờ Sông Hồng rồi mời Viện Thiết kế và Quy hoạch Hàng Châu (Trung Quốc) tham gia nghiên cứu và lập quy hoạch.

Theo thống kê của Forbes thì trên thế giới, bất động sản đứng ở vị trí thứ ba trong những ngành sản sinh ra tỷ phú dollar. Trong khi đó, hiện nay 7/10 người giàu nhất sàn chứng khoán Việt Nam lại kinh doanh trong lĩnh vực bất động sản, mà 3 nhân vật nêu trên là những tên tuổi điển hình. Cố nhiên, theo “thông lệ” Việt Nam, bệ đỡ cho sự phát triển thần tốc của họ những năm qua chính là những thế lực chính trị siêu khủng. Vì thế, việc họ vây quanh và tìm cách gây ảnh hưởng đến trung tâm quyền lực mới “hậu Nguyễn Tấn Dũng” là điều tất yếu.

Bất luận thế nào, sau một Nguyễn Tấn Dũng qua hai nhiệm kỳ Thủ tướng với vô số tai tiếng về việc điều hành đất nước “theo định hướng nhóm lợi ích”, tạo điều kiện cho một loạt tập đoàn tư bản thân hữu lên ngôi và xâu xé nền kinh tế, không một người dân nào chờ đợi người kế nhiệm “đồng chí X” đi vào vết xe đổ đó cả.

(Tiếng Dân)

 

ĐIỂM BÁO MẠNG

CHỦ NHIỆM ỦY BAN PHÁP LUẬT NGẠC NHIÊN GDP NĂM 2017

HÀ VŨ/ VnE/ BVN 17-10-2017

Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật ngạc nhiên về GDP 2017

Tổng vốn đầu tư tăng, xuất khẩu tăng, năng suất lao động cũng tăng, ICOR giảm…, tại sao GDP lại tăng chỉ bằng kế hoạch là 6,7%? Câu hỏi này được Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật Nguyễn Khắc Định đặt ra gần cuối phiên thảo luận của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về tình hình kinh tế – xã hội, ngày 12-10-2017.

Băn khoăn con số

Nhấn mạnh là hết sức phấn khởi vì từ năm 2008 đến nay, kinh tế – xã hội mới đạt cả 13 chỉ tiêu Quốc hội quyết, nhất là GDP đã về đích, song ông Định cho rằng cần làm rõ thêm một số thông tin để tin rằng đó là những con số thuyết phục. Và trên cơ sở đó thì sang năm phấn đấu ít nhất bằng tỉ lệ của năm nay.

Tại báo cáo, Chính phủ cũng đã đưa ra khá nhiều con số để chứng minh việc GDP có thể cán đích sau nhiều năm hụt hơi là có cơ sở. Đó là tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội cả năm 2017 ước đạt 1.672,5 nghìn tỉ đồng, bằng 33,42% GDP, cao hơn so với kế hoạch đề ra (31,6%) và tăng 12,6% so với năm 2016. Rồi hệ số ICOR là 6,27, giảm nhẹ so với năm 2016 là 6,41. Ngoài ra, tốc độ tăng năng suất lao động của toàn nền kinh tế năm 2017 cao hơn so với năm 2016, ước tăng khoảng 5,87% (năm 2016 tăng 5,29%), tính theo giá hiện hành ước đạt khoảng 93,2 triệu đồng/lao động. Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp ngày càng tăng trong tăng trưởng kinh tế. Năm 2017, đóng góp của TFP trong tăng trưởng GDP ước đạt 44,13%, cao hơn so với năm 2016 (40,68%) và cao hơn nhiều so với bình quân giai đoạn 2011-2015 (33,58%). Tốc độ tăng tổng kim ngạch xuất khẩu ước thực hiện 14,4% (kế hoạch là 6-7%)…

Băn khoăn từ Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật cũng chính từ những con số này. Ông Định phân tích là khi xây dựng chỉ tiêu tăng GDP 6,7% cho năm nay thì Chính phủ đều đã tính hết các cân đối lớn để đạt được kết quả đó. Nay xuất khẩu dự kiến tăng gần gấp đôi, các con số về vốn đầu tư, TFP, ICOR… đều cho thấy số lượng tăng và chất lượng cũng tăng. “Thế thì tại sao GDP lại chỉ tăng 6,7% như kế hoạch ban đầu?” – ông Định hỏi.

Giả thiết không thay đổi về số lượng có nghĩa là tăng trưởng đi vào chất lượng, ông Định đề nghị Chính phủ làm rõ chất lượng hơn thể hiện ở chỗ nào?

Cần đánh giá kĩ

Không trả lời thẳng vào câu hỏi của ông Định nhưng Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và đầu tư Nguyễn Chí Dũng cho rằng tăng trưởng đạt 6,7%, ngoài sự quyết liệt chỉ đạo của cả hệ thống thì đương nhiên thì ở đây cũng có những vấn đề của nền kinh tế. Cụ thể, tổng cầu của nền kinh tế thể hiện ở sức mua tăng rất mạnh. Nhờ tổng cầu tăng mà cung cũng được kích thích ở mức đáng kể, nông nghiệp phục hồi tốt, thuỷ sản tăng rất cao (5,42%), cả ngành nông nghiệp tăng 2,78% trong khi năm ngoái chỉ 0,76%. Rồi công nghiệp chế biến chế tạo, dịch vụ cũng tăng, xuất khẩu cũng tăng rất cao (dự kiến cả năm 14,4% trong khi năm ngoái chỉ 9%). Bộ trưởng phân tích: “Tăng trưởng như thế hoàn toàn có cơ sở một cách chắc chắn trong khi lượng khai thác dầu giảm rất mạnh, trung bình 2 triệu tấn/năm. Như vậy là đã thay đổi dần mô hình tăng trưởng theo hướng tích cực”.

Tuy nhiên, Bộ trưởng Dũng thừa nhận để đạt được mức 6,7% cả năm thì 3 tháng còn lại cũng còn rất thách thức, như thiên tai đang ảnh hưởng nhiều. Vì thế cần thực hiện đồng bộ, tích cực tất cả các nhiệm vụ để có thể đạt được kết quả cao nhất như dự kiến.

Với băn khoăn chỉ tiêu tăng trưởng 2018 chỉ từ 6,5-6,7%, Bộ trưởng Dũng lí giải là nếu tính trên nền năm 2017 là rất cao mà nếu đặt tiếp 2018 trên nền cao vậy thì rất khó khăn. Mặt khác, một số mặt hàng là đột phá của năm nay thì sang năm không còn đột phá nữa. Khai khoáng tiếp tục giảm, như năm nay giảm tiếp 2 triệu tấn dầu. Trong khi các chuyển đổi của mô hình kinh tế cũng chưa thể mang lại kết quả ngay lập tức, cần thời gian thêm để thể hiện.

Ngắt lời Bộ trưởng Dũng và gói lại phần thảo luận, Phó chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển đề nghị Chính phủ phải làm rõ và phân tích sâu hơn một số nội dung, trong đó có tốc độ, cơ cấu và mô hình tăng trưởng. “Kinh tế vĩ mô còn tiềm ẩn những vấn đề cần đánh giá kĩ như tăng trưởng tín dụng, chất lượng tín dụng, xử lí nợ xấu, xử lí một số ngân hàng” – ông Hiển lưu ý. Phó chủ tịch Phùng Quốc Hiển cũng nhấn mạnh quan điểm xuyên suốt 2018 là lấy ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển bền vững làm chính và cần phân tích rõ hơn vì sao năm tới chỉ đặt mục tiêu tăng trưởng 6,5-6,7%.

H.V

Nguồn: http://vneconomy.vn/thoi-su/chu-nhiem-uy-ban-phap-luat-ngac-nhien-ve-gdp-2017-20171012044817716.htm

TS LƯU BÍCH HỒ: ‘CHỈ SỐ TĂNG TRƯỞNG GDP QUÝ 3 RẤT KHÓ HIỂU VÀ KHÓ LƯỜNG’

THU PHƯƠNG/Theleader/ BVN 17-10-2017

TS. Lưu Bích Hồ:

Nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) Lưu Bích Hồ. Ảnh Đời sống pháp luật

Tăng kỉ lục

Báo cáo Kinh tế vĩ mô quý III-2017 của Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) cho thấy kinh tế Việt Nam tăng trưởng cao bất thường trong quý III, với mức tăng 7,46%, cao nhất trong vòng 7 năm qua, cao hơn nhiều so với quý trước cũng như cùng kì các năm trước.

Tính chung 9 tháng đầu năm, tăng trưởng kinh tế đạt 6,41%, tăng đáng kể so với cùng kì năm 2016 (6,0%) tuy vẫn thấp hơn một chút so với năm 2015 (6,5%). Khu vực dịch vụ tăng trưởng ở mức 7,25% trong ba quý đầu năm, liên tục gia tăng trong các năm từ 2015-2017. Trong đó, lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và kinh doanh bất động sản ghi nhận mức tăng trưởng cao nhất trong vòng hơn nửa thập kỉ, lần lượt đạt 7,89% và 3,99%.

Khu vực nông, lâm, ngư nghiệp cũng cho thấy rõ sự phục hồi so với năm 2016. Tăng trưởng khu vực này trong 9 tháng đầu năm đạt 2,78%, cao hơn nhiều so với mức tăng của năm ngoái và cũng cao hơn đáng kể so với mức 2,08% của năm 2015. Tình hình thời tiết từ đầu năm đến nay khá thuận lợi cho hoạt động của ngành thủy sản và lâm nghiệp, đưa tăng trưởng của hai ngành này lần lượt đạt 5,42% và 5,00%. Trong khi đó, tình trạng mưa lũ trên diện rộng trong quý III khiến nông nghiệp chỉ tăng trưởng ở mức khiêm tốn là 1,96%.

Trong khi đó, tăng trưởng khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục đạt thấp, chỉ 7,17%, thấp hơn so với cùng kì hai năm trước đó, đặc biệt thấp hơn đáng kể so với năm 2015. Sự suy giảm này vẫn chủ yếu đến từ ngành khai khoáng (giảm 8,08%).

Ngành công nghiệp chế biến chế tạo vẫn không ngừng cải thiện tốc độ tăng trưởng với mức tăng trưởng rất cao 12,77% trong ba quý đầu năm, cao nhất so với cùng kì nhiều năm trở lại đây. Bên cạnh đó, ngành xây dựng vẫn tăng trưởng khả quan ở mức 8,3%, mặc dù thấp hơn mức tương ứng của hai năm trước, đều trên 9%.

Theo TS Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách, mức tăng trưởng cao trong quý III phần nào cho thấy kết quả của hàng loạt biện pháp và chỉ thị quyết liệt của Chính phủ đối với các bộ, ngành, địa phương trong thời gian qua. Với quyết tâm đạt mục tiêu tăng trưởng 6,7%, Chính phủ đã đưa ra nhiều giải pháp như tạo điều kiện thuận lợi về tiếp cận tín dụng đối với cả hộ gia đình và các doanh nghiệp, đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công, đồng thời đặt ra mục tiêu, chỉ tiêu, kịch bản tăng trưởng đối với từng bộ, ngành, lĩnh vực. Tuy nhiên, các biện pháp và chỉ thị này mới chỉ mang tính ngắn hạn vì chưa hướng đến các nền tảng cơ bản của tăng trưởng kinh tế như năng suất lao động hay sức sản xuất của nền kinh tế – ông Thành cho biết

“Khó hiểu và khó lường”

Nhận định về mức tăng trưởng 7,46% của kinh tế Việt Nam trong quý III-2017, tại buổi tọa đàm công bố Báo cáo Kinh tế vĩ mô quý III-2017, TS Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Quản lí kinh tế trung ương cho biết mức tăng trưởng của Việt Nam trong quý III tăng kỉ lục, tuy nhiên chúng ta đang phụ thuộc quá nhiều vào khu vực đầu tư nước ngoài. Đặc biệt là các doanh nghiệp lớn như Formosa, Samsung… Nếu không có các doanh nghiệp này, có lẽ nền kinh tế Việt Nam sẽ không có được con số này. Trong khi đó, tác động của các chính sách từ Chính phủ như thực hiện đầu tư công, cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước diễn ra rất chậm, công cuộc tái cơ cấu ngân sách, giảm chi thường xuyên còn nhiều nan giải… Điều này đang hạn chế rất nhiều tốc độ tăng trưởng kinh tế hiện nay và trong những năm tới nếu Việt Nam không thay đổi. Do đó, con số tăng trưởng kỉ lục trong quý III cần được xem xét một cách bình tĩnh hơn – ông Doanh nhấn mạnh.

Theo TS Lưu Bích Hồ, chuyên gia kinh tế, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển (Bộ Kế hoạch và đầu tư) cũng cho rằng chỉ số tăng trưởng kinh tế quý III rất khó hiểu và khó lường. Điều này không có thông lệ trong lịch sử, cũng không đúng với lí thuyết kinh tế nhưng lại thực tế qua số liệu của Tổng cục Thống kê. “Chúng ta phấn khởi nhưng cũng ngỡ ngàng trước những con số này. Song cần tiếp tục theo dõi những diễn biến kinh tế trong thời gian tới trước khi đưa ra kết luận” – TS Lưu Bích Hồ nhấn mạnh

Đồng quan điểm, PGS-TS Phạm Thế Anh, chuyên gia đến từ Trường ĐH Kinh tế quốc dân cũng cho rằng nền kinh tế Việt Nam đang tồn tại nhiều yếu tố tăng trưởng bất ổn, không bền vững do bị phụ thuộc rất nhiều vào FDI. Xuất siêu của Việt Nam trong quý III lớn nhưng chủ yếu đến từ khu vực vốn đầu tư nước ngoài. Khu vực này đã bù đắp cho sự suy giảm của khu vực doanh nghiệp trong nước. Đặc biệt, động lực tăng trường lại phụ thuộc một số doanh nghiệp FDI lớn. Đây là vấn đề rất đáng lo ngại. Lấy ví dụ tại Samsung, quý vừa qua xuất khẩu của doanh nghiệp này tăng mạnh, tuy nhiên tăng trưởng này chỉ mang tính chu kì, phụ thuộc việc họ ra mắt sản phẩm mới. Do đó, không phải lúc nào họ cũng có thể duy trì tốc độ tăng trưởng cao như quý vừa qua. Với mức tăng trưởng kinh tế 7,46% trong quý III, có thể nói mục tiêu đạt 6,7% năm 2017 là trong tầm tay, Tuy nhiên, một nền kinh tế không phát triển từ những yếu tố nội tại sẽ khó có thể bền vững. Hi vọng Chính phủ sẽ bớt chạy theo những mục tiêu ngắn hạn để tập trung cho phát triển dài hạn trong tương lai – PGS-TS Phạm Thế Anh nhấn mạnh.

T.P

Nguồn: http://theleader.vn/ts-luu-bich-ho-chi-so-tang-truong-kinh-te-quy-iii-rat-kho-hieu-va-kho-luong-20171011162147384.htm

TĂNG TRƯỞNG GDP QUÝ III CAO ĐỘT BIẾN PHẢN ÁNH ĐIỀU GÌ ?

CHÂN HỒ/ Trithuc/ BVN 17-10-2017

Tang truong GDP phu thuoc Samsung

GDP quý III của Việt Nam tăng đột biến 7,46% (mức cao nhất trong 6 năm trở lại) khiến nhiều chuyên gia kinh tế ngờ vực mức độ đáng tin cậy của số liệu. Thậm chí, nhiều chuyên gia từ chối bình luận về con số này.

Tăng trưởng chủ yếu nhờ khối doanh nghiệp nước ngoài

Tại buổi họp báo Chính phủ, Bộ trưởng – Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng cho biết tăng trưởng kinh tế đột biến không phải do khai khoáng, cũng không phải vì tăng trưởng tín dụng. Đồng thời, ông tiết lộ sản xuất thành phẩm điện tử, đặc biệt là điện thoại tăng cao. Dòng điện thoại Galaxy Note 8 mới ra mắt đã đẩy sản xuất tại các nhà máy của Samsung tại Việt Nam tăng cao, nâng giá trị xuất khẩu của Samsung năm 2017 ước tính 50 tỉ USD, chiếm tới  22,7% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Điều này khiến cho Cục Hải quan Bắc Ninh, nơi xử lí thông quan hàng xuất khẩu của Samsung vươn lên đứng đầu cả nước, vượt trên cả TP HCM về kim ngạch xuất khẩu. Lũy kế 9 tháng đầu năm 2017, kim ngạch xuất khẩu qua hải quan Bắc Ninh đạt 79,34 tỉ USD, tăng 34,9% so với cùng kì năm 2016.

Có thể thấy tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam đang phụ thuộc lớn vào khối doanh nghiệp FDI, mà đặc biệt là Samsung. Do đó, tăng trưởng GDP cao của Việt Nam trong quý III-2017 được hỗ trợ lớn bởi hãng sản xuất di động lớn từ Hàn Quốc. Điều này cũng gợi nhớ tới sự cố Galaxy Note 7 của Samsung năm trước đã làm xuất khẩu của Việt Nam lao dốc.

Tăng trưởng GDP có đi liền với thực lực quốc gia?

TS Lê Đăng Doanh lưu ý rằng không nên quá lạc quan với tốc độ tăng trưởng GDP, đặc biệt khi động lực chính của sự tăng trưởng này đến từ các doanh nghiệp FDI. Khi các doanh nghiệp này làm ăn tốt lên thì chỉ số kinh tế sẽ được hưởng lợi. Tuy nhiên, khi họ làm ăn không tốt, chắc chắn tốc độ tăng trưởng GDP bị ảnh hưởng không nhỏ. Để nói về chất lượng của tăng trưởng, thường có một chỉ số khác để đo lường, đó là chỉ số tổng thu nhập quốc dân (GNI – Gross National Income). Chỉ số này cho biết mức thu nhập thực tế của quốc gia, không tính đến phần thu nhập của các doanh nghiệp nước ngoài (FDI) như cách tính hiện tại của GDP, do đó sẽ phản ánh được chính xác thực lực của quốc gia đó. Theo đó, TS Lê Đăng Doanh cho rằng Chính phủ nên quan tâm về chỉ số GNI hơn là chỉ tiêu GDP như hiện tại.

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Khắc Giang, thành viên Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách cho rằng để đạt được mức tăng trưởng GDP như Tổng cục Thống kê công bố, điều chắc hẳn là Chính phủ đã phải đánh đổi một số yếu tố về mặt vĩ mô, tăng trưởng dựa vào những yếu tố ngắn hạn như đầu tư nước ngoài và khai khoáng nhiều là không bền vững.

Nói về bản chất của GDP, mức độ quan trọng của GDP đến đâu, chuyên gia kinh tế Bùi Trinh cho rằng bản chất của GDP được hiểu là tổng nhu cầu cuối cùng (final demand) và chỉ tiêu này thường phản ánh tình hình kinh tế trong ngắn hạn và nhất thời. Thậm chí, nếu tăng biên chế, đầu tư tràn lan không hiệu quả, thổi bong bóng bất động sản… cũng làm tăng GDP. Tất nhiên, hệ quả tất yếu của cách tăng trưởng đó là nguồn lực chung của nền kinh tế bị yếu đi do không xét đến yếu tố hiệu quả.

Do đó, trong trường hợp một đất nước cơ bản là sản xuất gia công, không nên coi GDP là chỉ tiêu duy nhất để đánh giá sức khỏe của nền kinh tế. Trong một số trường hợp, GDP càng tăng càng làm giảm nguồn lực của nền kinh tế.

Các tồn tại vẫn cần phải được tháo gỡ trong thời gian tới

Về vấn đề liên quan thể chế, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nhận nhận định sự thiếu lành mạnh trong cơ chế hiện nay đã làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt. Các thủ tục hành chính, lỗ hổng chính sách và cách thức làm việc hiện nay của các cơ quan nhà nước đang nuôi dưỡng thêm sức ì, hoặc sự phản ứng với cải cách. Điều này khiến doanh nghiệp vận hành theo kiểu “đầu tư quan hệ, công nghệ phong bì”. Do đó, bà Lan nhấn mạnh cải cách thể chế vẫn là việc quan trọng cần tiếp tục thực hiện.

TS Lê Đăng Doanh thì cho rằng lỗ hổng trong các khâu thoái vốn tại các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là điều các cơ quan quản lí cần chú ý. Ông cho rằng việc cổ phần hóa DNNN cần được diễn ra trên sàn chứng khoán để bảo đảm tính công khai và minh bạch. “Thoái vốn DNNN mới được 8%, 92% còn lại vẫn ở trong tay nhà nước. Cổ phần hóa nhưng nhà nước vẫn là ông chủ và nhà đầu tư nhỏ lẻ vào đó không có tiếng nói. Cho nên cần phải thay đổi cơ bản mô hình cổ phần hóa này” – ông Doanh nói.

Trong khi đó, TS Lưu Bích Hồ cho rằng ổn định môi trường kinh tế vĩ mô trong những tháng cuối năm cần được ưu tiên ở vị trí số 1, nhất là trong bối cảnh biến động địa chính trị trong khu vực đang ngày càng khó lường, tăng trưởng tín dụng không được vượt quá mức và kiểm soát lạm phát vào thời điểm cuối năm.

C.H (tổng hợp)

Nguồn: http://trithucvn.net/kinh-te/tang-truong-gdp-quy-iii-cao-dot-bien-phan-anh-dieu-gi.html

WB : ÁP LỰC TRẢ NỢ CỦA VIỆT NAM SẼ LỚN TRONG 3 NĂM TỚI

BẠCH DƯƠNG/ VnE/BVN 17-10-2017

WB: Áp lực trả nợ của Việt Nam sẽ lớn trong 3 năm tới

Báo cáo đánh giá về chi tiêu công Việt Nam do Chính phủ Việt Nam phối hợp Ngân hàng Thế giới (WB) thực hiện cho thấy tỉ lệ nợ công trên GDP của Việt Nam tăng nhanh do chính sách tài khoá nới lỏng trong những năm qua. Nợ công so với GDP tăng đáng kể từ 51,7% năm 2010 lên 61% năm 2015, trong đó nợ Chính phủ chiếm 49,2%, nợ Chính phủ bảo lãnh chiếm 10,9% và nợ chính quyền địa phương khoảng 0,9%. Không tính nợ bảo lãnh và vay nợ nội bộ, nợ trực tiếp của Chính phủ được ước tính ở 43,3% GDP (năm 2015) gần sát với mức bình quân của các quốc gia trong khu vực và tương đương về thu nhập.

Áp lực trả nợ lớn

Báo cáo của WB nhấn mạnh Việt Nam nằm trong những quốc gia có tỉ lệ nợ trên GDP tăng nhanh nhất (tăng khoảng 10% trong 5 năm qua) cho dù có thành tích tăng trưởng kinh tế ấn tượng. Nếu xu hướng này vẫn tiếp diễn, Việt Nam sẽ phải đối mặt với những quan ngại về bền vững tài khoá. “Đi cùng với nợ tăng cao, cơ cấu nợ công cũng đã có sự thay đổi. Bởi lẽ nhu cầu huy động ngày càng lớn, trong khi khả năng tiếp cận nguồn vốn ưu đãi nước ngoài dần hạn chế, Chính phủ đã phải dựa chủ yếu vào nguồn vay trong nước. Tỉ trọng nợ trong nước trên tổng nợ công tăng từ 45% năm 2010 lên đến 55,4% năm 2015. Nợ trong nước giúp giảm rủi ro tỉ giá và góp phần phát triển thị trường vốn trong nước nhưng cũng làm giảm đáng kể kì hạn danh mục nợ” – báo cáo nêu.

WB nhận định áp lực huy động để đảo nợ vẫn còn lớn với khoảng 50% nợ trong nước của Việt Nam sẽ đáo hạn trong 3 năm tới. Đây sẽ là áp lực rất lớn trong điều kiện các nhà đầu tư tham gia thị trường trái phiếu Chính phủ còn hạn chế như hiện nay. Nhìn chung, kì hạn nợ trung bình của Việt Nam vẫn chưa thể bằng kì hạn bình quân của trái phiếu Chính phủ ở các quốc gia thu nhập trung bình và các quốc gia khác trong khu vực. “Dù nợ công vẫn nằm trong ngưỡng cho phép nhưng hiện đang phải đối mặt với nhiều rủi ro lớn. Bội chi ngân sách hiện đang ở mức cao, bình quân giai đoạn 2011 – 2015 là khoảng 5,6% GDP” – WB cho hay.

Theo đó, nếu bội chi ngân sách và mức bảo lãnh của Chính phủ vẫn duy trì như hiện nay thì tỉ lệ nợ công trên GDP của Việt Nam sẽ tăng vượt trần cho phép (65% GDP) trong những năm tới, kể cả khi tăng trưởng GDP có được duy trì ở mức cao và chi phí huy động vẫn còn tương đối thuận lợi như hiện nay. Mặt khác, dư địa ngân sách đang ngày càng trở nên mỏng, khiến cho nợ công có thể trở nên mất bền vững ngay cả khi có những cú sốc nhẹ. Nghĩa vụ nợ dự phòng nếu được hiện thực hoá có thể làm cho Việt Nam càng thêm dễ tổn thương với lộ trình nợ như hiện nay ngay cả khi cân đối ngân sách cơ bản của Việt Nam vẫn được cẩn trọng.

WB cho rằng dù Chính phủ với nguyên tắc tăng cường kỉ luật tài chính, không có trách nhiệm trả nợ cho doanh nghiệp thua lỗ nhưng trên thực tế Chính phủ vẫn có thể can thiệp nếu tình trạng thua lỗ nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sự ổn định của kinh tế vĩ mô. Vì vậy, báo cáo khuyến nghị công tác quản lí nợ của Chính phủ phải tính đến những rủi ro đó, đồng thời phải duy trì được dư địa ngân sách đủ để hấp thụ những cú sốc đó trong trường hợp xảy ra. Các kế hoạch củng cố ngân sách theo các cam kết hiện nay của Chính phủ phải được triển khai một cách nhất quán để bảo đảm quỹ đạo nợ công quay lại lộ trình bền vững, đặc biệt trong bối cảnh yếu tố ưu đãi của nợ nước ngoài đang có xu hướng giảm xuống.

4 khuyến nghị của WB

Trên cơ sở đó, WB đã đưa ra các khuyến nghị chính trong quản lí nợ công cho Chính phủ Việt Nam.

Thứ nhất, Chính phủ cần xây dựng và thực hiện một lộ trình củng cố tình hình tài khóa, để bảo đảm sự bền vững tài khóa song không hoặc ít ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế. Điều này đòi hỏi Chính phủ phải có cam kết mạnh mẽ về giảm bội chi và duy trì nợ công trong phạm vi giới hạn cho phép (65% GDP). Các phương án củng cố tình hình tài khóa có thể được cân nhắc trên cơ sở phối hợp các biện pháp nhằm đẩy mạnh huy động thu, tái cơ cấu và nâng cao hiệu suất chi tiêu, tăng cường hiệu quả quản lí, sử dụng và khai thác tài sản công, quản lí nợ công và rủi ro tài khóa. Tái cơ cấu chi tiêu công cũng cần bảo đảm các khoản chi an sinh xã hội, đầu tư phát triển và dành dư địa cho các chi phí tái cấu trúc nền kinh tế.

Thứ hai, Chính phủ cần phải nâng cao hiệu quả đầu tư công, tăng cường động lực tăng trưởng bền vững như cơ cấu lại ngân sách ở mức độ nhất định cho phù hợp, nâng cao hiệu suất sử dụng tài sản thông qua việc từng bước tăng chi khai thác và duy tu bảo dưỡng qua kế hoạch tài chính – ngân sách và kế hoạch đầu tư trung hạn.

Thứ ba, Chính phủ phải nâng cao công bằng trong phân phối nguồn lực giữa các địa phương. Theo đó, cần chú trọng hơn đến việc nuôi dưỡng nguồn thu, ví dụ cân nhắc tạo thêm cơ hội nâng cao tự chủ về thu cho các địa phương và nghiên cứu áp dụng cơ chế phân chia nguồn thu đối với một số sắc thuế gián thu lớn (như thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu thụ đặc biệt) công bằng và minh bạch hơn, nhằm khuyến khích địa phương phát triển kinh tế đồng đều hơn.

Thứ tư, WB khuyến nghị cải cách thể chế quản lí tài chính công của Việt Nam, trong đó cần tăng cường mức độ toàn diện và minh bạch của ngân sách. Tăng cường cơ chế quản lí hiệu quả hoạt động và giải trình trách nhiệm; giám sát và kiểm toán của cơ quan kiểm toán nhà nước và kiểm toán bên ngoài và cải thiện hệ thống thông tin quản lí.

Mới đây, Bộ Tài chính đã công bố Bản tin nợ công số 5. Theo đó, tính đến hết năm 2015, nợ công của Việt Nam lên tới 61% GDP, tăng 3% so với năm trước đó. Trong đó nợ nước ngoài chiếm 42% GDP. Nợ Chính phủ so với GDP năm 2015 là 49,2%. Năm 2015, nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ so với thu ngân sách là 14,9% GDP. Trong năm 2015, tổng dư nợ mà Chính phủ vay là 2,064 triệu tỉ đồng, tương ứng 94,3 tỉ USD. Trong đó, nợ nước ngoài là 39,6 tỉ USD, nợ trong nước là 54,67 tỉ USD. Cũng trong kì, Chính phủ đã trả nợ được 13,3 tỉ USD. Bản tin nợ công lần này của Bộ Tài chính có thống kê các khoản nợ vay nước ngoài của cả Chính phủ và doanh nghiệp. Tính đến hết năm 2015, tổng dư nợ vay nước ngoài của Việt Nam lên tới 1,759 triệu tỉ đồng, tương ứng 80,84 tỉ USD. Trong đó nợ nước ngoài của Chính phủ lên tới 39,6 tỉ USD, nợ nước ngoài của doanh nghiệp đạt 41,22 tỉ USD.

B.D

Nguồn: http://vneconomy.vn/thoi-su/wb-ap-luc-tra-no-cua-viet-nam-se-lon-trong-3-nam-toi-20171003030052326.htm

KINH TẾ VĨ MÔ NHÌN TỪ ĐỈNH TĂNG TRƯỞNG NĂM 2017

NGỌC LAN/ TBKTSG 16-10-2017

(TBKTSG Online) – Nhiều tín hiệu cho thấy, năm 2017 là năm đạt đỉnh tăng trưởng của kinh tế Việt Nam trong nhiều năm trở lại đây khi tăng trưởng GDP từ chỗ tưởng như không đạt mục tiêu đề ra nay đã có nhiều cơ sở “cán đích” ngoạn mục. Nhờ đó sẽ có hàng loạt chỉ tiêu vĩ mô khác cũng hoàn thành. Vấn đề là nền kinh tế đã phát triển vững chắc hay chưa, xét từ những con số trên đỉnh tăng trưởng 2017?

Một cuộc bứt phá

Từ mức tăng trưởng kinh tế quí 1-2017 gặp một số khó khăn với tốc độ tăng GDP chỉ đạt 5,15%, công nghiệp khai khoáng sụt giảm sâu, vốn tín dụng, đầu tư nhích chậm… các nhà kinh tế tính toán rằng, để cán đích mục tiêu tăng trưởng 6,7% như kế hoạch, mỗi quí GDP đều phải đạt mức trên 7%. Đây được cho là một mục tiêu cực kỳ khó khăn, vì tất cả các yếu tố tác động đến tăng trưởng đều đã chạm ngưỡng, trong khi các biện pháp thúc đẩu tăng trưởng đều có độ trễ.

Tuy nhiên, sau cuộc bứt phá mạnh mẽ từ quí 2 (tăng 6,28%), con số tăng trưởng quí 3 được Chính phủ công bố là 7,46% (9 tháng đầu năm ước tăng 6,41%) khiến cho mục tiêu cả năm sát lại gần hơn nếu GDP quí cuối năm vẫn tiếp tục đạt mức tăng trưởng như quí 3.

Đóng góp mạnh nhất vào tốc độ tăng trưởng ngoạn mục của GDP những quí vừa qua là nhờ tổng vốn đầu tư phát triển cả năm 2017, theo công bố của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hôm 12-10, tăng ước tới 33,4% GDP, cao hơn kế hoạch và cao hơn 12,6% so với năm 2016.

Tổng vốn đầu tư có yếu tố nước ngoài ước thực hiện cả năm 2017 (bao gồm cả vốn FDI) đạt khoảng 28 tỉ đô la Mỹ (tăng 4,5 lần so với năm 2016 và vượt 12% so với mục tiêu năm 2017). Trong số này, vốn cấp mới và tăng thêm khoảng 23,2 tỉ đô la, trong đó vốn FDI thực hiện khoảng 17 tỉ đô la. Một lượng vốn lớn đổ vào, nhất là dự án của Samsung Display đầu tư thêm bắt đầu xuất khẩu làm cho chỉ số sản xuất công nghiệp (IPP) tăng nhanh, dự kiến sẽ đạt 7% đến 8,1% trong năm nay.

Xuất khẩu cũng dự kiến sẽ tăng gấp đôi kế hoạch với mức 154 tỉ đô la trong 9 tháng và ước thực hiện cả năm khoảng 202 tỉ đô la (tăng gấp 14,4%). Mức tăng đột biến này nhờ nhóm hàng công nghệp chế biến đạt tốc độ tăng trưởng khá cao với nhiều mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn. Nhất là xuất khẩu của khu vực FDI – chiếm hơn 70% tổng kim ngạch xuất khẩu, bứt phá mạnh hơn mức tăng trưởng xuất khẩu chung của cả nước.

Tóm lại, nhờ vào tổng vốn đầu tư tăng mạnh, vốn FDI rót vào nhiều và kim ngạch xuất khẩu vượt trội, tăng trưởng của nền kinh tế năm 2017 đã thực sự đạt đỉnh, nhất là trong bối cảnh công nghiệp khai khoáng giảm (trừ dầu thô tăng khai thác thêm 1 triệu tấn). Nó kéo theo tổng thu cân đối ngân sách năm nay sẽ vượt thu 10,1% so với năm trước và tăng 2,3% so với dự toán, bội chi ngân sách như kế hoạch.

Dư địa còn lại

Với tình hình kinh tế khả quan, cán cân vĩ mô cơ bản ổn định, sẽ có nhiều người nghĩ rằng các kế hoạch năm 2018 sẽ dễ dàng hoạch định hơn. Tuy nhiên, nhìn sâu vào các con số, sẽ thấy toàn bộ bức tranh vĩ mô không hẳn là một cú bứt phá bằng việc bỏ lại phía sau những khó khăn vốn lâu nay chưa thể giải quyết. Khi thẩm tra sơ bộ báo cáo về kinh tế-xã hội mà Chính phủ soạn để trình ra Quốc hội trong kỳ họp cuối tháng 10 tới, thường trực Ủy ban Tài chính-Ngân sách đã tính toán, trong số 2,3% số vượt thu của năm nay, khoảng 27,3 ngàn tỉ đồng chủ yếu là tăng thu của ngân sách địa phương, trong khi thu ngân sách trung ương khó có thể đạt. Nếu năm nay hụt thu thì ngân sách trung ương sẽ có ba năm hụt thu liên tiếp, ảnh hưởng đến việc giảm bội chi.

Ngay cả thu nội địa năm 2017, dự kiến ở cả ba khu vực kinh tế DNNN, FDI và doanh nghiệp ngoài quốc doanh đều không đạt dự toán. Việc tiếp tục cổ phần hóa các DNNN làm giảm nguồn thu từ khối này nhưng nguyên nhân lớn nhất là khả năng cạnh tranh, phát triển của DNNN ngày càng yếu đi nên số cổ tức, lợi nhuận nộp về ngân sách cũng giảm. Ví dụ, 9 tháng đầu năm, số thu cổ tức, lợi nhuận, tiền bán vốn DNNN chỉ đạt hơn 48 ngàn tỉ đồng, trong khi kế hoạch năm nay phải thu 120 ngàn tỉ đồng. Tiến độ bán vốn chậm, thu cổ tức, lợi nhuận cũng thấp cho thấy hiệu quả kinh doanh và sức hấp dẫn của DNNN ngày càng đi xuống thấp hơn.

Tổng đầu tư phát triển năm nay dự kiến cũng sẽ tăng 33,42% GDP được đánh giá là một bất ngờ ngoài dự đoán. Ngoài tích cực thúc đẩy tăng GDP, nó cho thấy việc xây dựng kế hoạch chưa chính xác làm ảnh hưởng các kế hoạch cân đối nguồn lực nói chung. Trong khi thực tế việc thực hiện kế hoạch đầu tư công lại rất chậm trễ. Như cuối tháng 9-2017 mới giao chưa được 50% số vốn trái phiếu Chính phủ chuyển nguồn từ năm 2016 sang; hoặc chỉ giao được 38,8% dự toán vốn trái phiếu Chính phủ năm nay.  Sâu xa hơn nữa thì vốn đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) từ nguồn ngân sách giải ngân chậm nhất trong vòng 5 năm gần đây (53%), mới giải ngân 7% vốn trái phiếu Chính phủ XDCB là minh chứng chuẩn bị dự án đầu tư chậm, các khâu tiếp theo cũng chậm dẫn đến lãng phí nguồn lực đã vay về, giảm hiệu quả đầu tư công. Nếu đặt trong mối tương quan so sánh với tốc độ giải ngân vốn của khối doanh nghiệp FDI tăng đột biến trong năm nay thì trái ngược càng lớn.

Việc tăng đột biến về xuất khẩu nhờ sự quy mô và giá trị của khối FDI cho thấy sức khỏe của nền kinh tế phụ thuộc vào khối doanh nghiệp nước ngoài ngày càng rộng hơn, trong khi xuất khẩu vẫn chủ yếu dưới hình thức gia công, thâm dụng lao động, hiệu ứng lan tỏa và liên kết đến khối doanh nghiệp trong nước thấp. Mặt khác, nó tạo ra hiện tượng chen lấn đến các thành phần doanh nghiệp khác. Hay sự dịch chuyển dòng vốn đầu tư nếu không thẩm định kỹ sẽ kéo theo sự dịch chuyển về công nghệ lạc hậu, ảnh hưởng đến môi trường như nhiều bài học gần đây.

Như vậy, xét đỉnh tăng trưởng kinh tế vĩ mô năm 2017 tác động thế nào đến ba trụ cột là tái cơ cấu DNNN, tái cơ cấu đầu tư công và tái cơ cấu nền kinh tế thông qua sức cạnh tranh thì thấy để đạt được sự bền vững trong phát triển vẫn còn rất nhiều việc phải làm.

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Mười 14, 2017

20171014. NGHĨ VỀ BÀI DIỄN VĂN CỦA PGS TS NGÔ VĂN GIÁ

ĐIỂM BÁO MẠNG

CÓ HAY KHÔNG MỘT ‘ĐẠI HỌC SẠCH VÀ GIỎI’ TRONG MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA, GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY?

(Hay là nghĩ từ bài diễn văn của PGS TS Ngô Văn Giá)

NGUYỄN TRỌNG BÌNH/ BVN 13-10-2017

Kết quả hình ảnh cho PGS NGÔ VĂN GIÁ

PGS. TS Ngô Văn Giá (ảnh trên internet)

1. Theo lời giới thiệu của một người bạn, tôi đã tìm đọc bài diễn văn của PGS TS Ngô Văn Giá nhân dịp trường ĐH Văn hóa (nơi PGS TS Ngô Văn Giá làm Trưởng khoa Viết văn – Báo chí) khai giảng Lớp Đại học Báo chí khóa 7. [i] Cũng theo lời người bạn thì đây là bài diễn văn được đông đảo bạn bè, đồng nghiệp, học trò của PGS TS Ngô Văn Giá tán dương, ca ngợi và chia sẻ rất sôi nổi thời gian qua.

Tôi đọc bài diễn văn của PGS TS Ngô Văn Giá trên trang vanviet.info kèm theo lời giới thiệu rất trang trọng trước đó của BBT vanviet. Tuy vậy sau khi đọc xong bài diễn văn này, tôi lại có một “góc nhìn khác”. Tôi cũng tự hỏi có nên nói ra những điều ấy không? Vì một “góc nhìn khác” của mình có khi sẽ làm nhiều người mất hứng và không vui? (Nhất là với chính những bậc tiền bối ở vanviet.info – những người mà từ lâu bản thân tôi rất khâm phục và kính trọng dù chưa từng gặp mặt bất kỳ ai ngoài đời). Sau nhiều lần đắn đo, tôi nghĩ cũng cần phải nói ra cảm xúc và suy nghĩ thật của mình vì hai lẽ sau:

Thứ nhất,  bài diễn văn của PGS Ngô Văn Giá nếu chỉ là phát biểu có tính nội bộ thì không vấn đề gì. (Vì dù sao đó là liệu pháp tâm lý tích cực giúp các em tân sinh viên lần đầu bước chân vào giảng đường đại học). Nhưng bài diễn văn sau đó đã công bố rộng rãi thì lại là một chuyện khác. Nói khác đi, ở giác độ văn hóa – giáo dục, bài diễn văn của PGS TS Ngô Văn Giá một khi đã công khai với công chúng thì không còn là chuyện của cá nhân ông nữa mà là vấn đề của xã hội.

Thế nên, ở phương diện cá nhân, bài diễn văn của PGS TS Ngô Văn Giá trước hết đã cho tôi có thêm một cái nhìn, một sự trải nghiệm thú vị về những vấn đề liên quan đến con người và văn hóa trong xã hội Việt Nam hiện nay.

Thứ hai,  tôi coi đây như một “phép thử” cho tất cả! “Phép thử” về các quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận của con người; phép thử về tinh thần đa nguyên, về việc tôn trọng sự khác biệt trong suy nghĩ và nhận thức… – những vấn đề không phải đã và đang được cổ xúy và dẫn dắt bởi những người “có chữ” trong xã hội và đất nước Việt Nam trong một vài năm trở lại đây hay sao!?

2. Chân thành và nghiêm túc mà nói, trước hết phải thừa nhận bài diễn văn của PGS TS Ngô Văn Giá xứng đáng là một bài diễn văn hay nếu so với vô số các bài diễn văn vốn có nội dung tầm phào, nhạt nhẽo và vô vị trên khắp xứ sở này vào những dịp khai giảng năm học mới.

Và có lẽ theo tôi cái hay nhất của bài diễn văn là sự gợi cảm và ma mị trong từng con chữ của người viết. (Có lẽ, PGS TS Ngô Văn Giá không chỉ là một nhà quản lý mà còn là một nhà giáo, nhà phê bình và nhất là một nhà văn nữa. Những tư cách nghề nghiệp này đã hỗ trợ tích cực cho tác giả bài diễn văn trong việc lập ngôn?).

Tuy nhiên, tất cả cũng chỉ có thế. Những con chữ ma mị cũng chỉ có thể đánh lừa cảm xúc của tôi trong nhất thời. Sau khi những xúc cảm ban đầu lắng xuống và nhanh chóng qua đi, với tôi bài diễn văn chỉ còn lại những ngôn từ “sến súa”, thiên về sự “trình diễn” bản thân của người viết hơn là mang đến một sự thật (nếu được thì là một giải pháp có ý nghĩa thực tiễn) trong hoàn cảnh bát nháo của nền giáo dục nước nhà hôm nay như lời người bạn đã nói với tôi trước đó.

Không những vậy, bài diễn văn còn cho thấy sự tự huyễn hoặc của chính tác giả mà nếu không khéo rất có thể sự tự huyễn hoặc ấy sẽ lây lan sang các em sinh viên mới mon men bước vào giảng đường đại học. Và tôi đã thử dùng lý trí để phân tích một vài vấn đề mà PGS TS Ngô Văn Giá đã phát biểu trong bài diễn văn của mình như sau:

Đầu tiên, cái nhan đề “Một trường đại học sạch và giỏi” mới nghe qua tưởng chừng rất hay nhưng hóa ra lại không phải vậy. “Đại học sạch” làm tôi liên tưởng đến những phong trào “thịt sạch”, “rau sạch”… của xã hội hiện nay. Không dừng lại ở đó, “…đại học sạch và giỏi, hay nói chữ nghĩa một chút là lương thiện và trí tuệ” phải hiểu thế nào đây? Có lẽ vì người viết trau chuốt quá nên thành ra vô nghĩa, thậm chí gây hiệu ứng ngược và phản tác dụng.

“Đại học sạch và giỏi” có thể hiểu là đại học “không bẩn” và “không dở” chăng!? Tự hào về bản thân và nơi mình công tác âu cũng là chuyện bình thường vì đó là sự “tự ý thức” và “ăn cây nào rào cây ấy”. Nhưng có cần phải như thế không? Có cần phải “trình diễn” như thể muốn khẳng định tất cả những kẻ khác, nơi khác đều bị vấy bẩn chỉ có ta mới là “sạch” như thế này không?

“Cũng đã nhiều năm nay, tôi và các đồng nghiệp của tôi cam kết cùng nhau vun đắp một môi trường sạch về đạo lý, về tư cách làm thầy, làm nghề. Chúng tôi vẫn thường nói với nhau, bản thân mỗi người làm nghề chữ nghĩa, lại đi dạy học trò làm nghề viết văn làm báo, vậy nhân danh những gì để theo đuổi nghề này, nhân danh những gì để cất tiếng nói lên sự công chính và tử tế ở đời, để ngợi ca những điều cao quý, để phản ứng những xấu xa, ngang trái, bất công? Vì thế, phải luôn biết trau dồi thiên lương, sự ngay thẳng, nghĩa khí mới có đủ tư cách làm nghề chữ nghĩa. Anh có thể lay thức được cho ai những điều cao quý khi mà chính trong anh thiếu hụt hoặc thấp kém”.

Có thể với các em sinh viên mới vào trường, những lời lẽ trên sẽ được các em đón nhận mà không mảy may nghi ngờ nhưng với những người có thừa sự trải nghiệm chắc chắn họ sẽ hoài nghi và đặt vấn đề chất vấn.

Ví như họ sẽ chất vấn, sao hôm nay PGS TS Ngô Văn Giá nói nghe xúc động và hùng hồn quá? Nó khác xa với thái độ và cách ứng xử của ông trong “vụ án” luận văn Thạc sĩ của cô Đỗ Thị Thoan (Nhã Thuyên) năm nào? Vì lẽ, khi ấy trong tư cách của những người “trong cuộc”, PGS TS Ngô Văn Giá và những đồng nghiệp của mình không hiểu sao lại rất kín tiếng và dè dặt để rồi cuối cùng một cô gái giỏi giang như Nhã Thuyên đã bị người ta tước bằng và buộc thôi việc?

Thậm chí khi PGS TS Ngô Văn Giá lên tiếng bằng một bài viết duy nhất thì gần như ngay lập tức đã bị thầy Châu Minh Hùng (Chu Mộng Long) phản biện rất quyết liệt như sau:

Định không viết gì nữa về vụ Nhã Thuyên cho “đúng định hướng”, nhưng sau khi đọc bài viết của PGS.TS. Ngô Văn Giá không thể không nói tiếp. Với bài viết thanh minh thanh nga kiểu ấy, ai bái phục không biết chứ tôi thì coi thường. Những lập luận công khai của những người từng chủ trương bỏ rọ trôi sông cô gái Nhã Thuyên chẳng làm cho ai tâm phục khẩu phục, trong khi bài viết của ông Ngô Văn Giá lại thể hiện rõ sĩ khí Bắc Hà thời nay: cúi đầu khuất phục trước cường quyền hơn là thẳng thắn đối thoại trên tinh thần dân chủ, bình đẳng trong học thuật”.[ii]

Hóa ra, phải chăng khi xưa nếu PGS TS Ngô Văn Giá dám “tử vì đạo” để bảo vệ lẽ phải, bảo vệ chân lý, bảo vệ học trò mình tới cùng thì chắc chắn sẽ là một tấm gương sáng ngời, có giá trị hơn gấp 1000 lần bài diễn văn với những con chữ bóng bẩy, mĩ miều hôm nay?

Ở một phương diện khác cụ thể hơn, những người tỉnh táo sẽ lại đặt vấn đề: trong hoàn cảnh và môi trường học thuật nói chung và việc đào tạo ngành báo chí nói riêng ở Việt Nam hiện nay, PGS TS Ngô Văn Giá đã làm gì và sắp tới đây sẽ làm thế nào để cụ thể hóa những điều mình nói như một sự cam kết với các em sinh viên trước hết là trong tư cách của một một nhà quản lý?

Chắc PGS Ngô Văn Giá cũng thừa biết rằng hiện nay, việc kiểm soát báo chí ở Việt Nam là vô cùng nghiêm ngặt. Trên thế giới hiện chỉ có Việt Nam và vài nước khác là không cho phép tư nhân hóa hoạt động báo chí. Riêng về công tác giáo dục và đào tạo thì Nhà nước cũng không cho phép những trường đại học ngoài công lập đào tạo chuyên ngành báo chí. Vì sao như vậy? Vì mục tiêu quan trọng và duy nhất của việc đào tạo ngành báo chí ở Việt Nam lâu nay chỉ nhằm hướng đến một vấn đề duy nhất đó là: “tuyên truyền cho đảng và chính quyền” trên “tinh thần” “tốt khoe, xấu che”. Và trên thực tế việc hành nghề của đội ngũ người làm báo chính thống nước nhà hiện nay cũng chủ yếu hướng đến nhiệm vụ duy nhất này. Thế nên, ở Việt Nam báo chí với vai trò là một cơ quan “quyền lực thứ tư” chỉ là câu nói có tính mỉa mai hơn là niềm tự hào cho đội ngũ những người làm báo chân chính.

Qua đây, có thể nói một khi chính quyền Nhà nước chỉ xem và sử dụng báo chí như một công cụ để “tuyên truyền” thì tự thân nó đã mâu thuẫn với cái sứ mạng của những người làm báo, mâu thuẫn cái “quyền lực thứ tư” của báo chí (đặc biệt là trong xu thế và bối cảnh cần sự tương tác đa chiều hiện nay giữa người dân và chính quyền trong một quốc gia và giữa các quốc gia với nhau).Và đương nhiên nó cũng rất mâu thuẫn với lời cam kết của PGS TS Ngô Văn Giá (trong tư cách của một người quản lý, thừa lệnh của chính quyền Nhà nước) với các em sinh viên liên quan đến mục tiêu của giáo dục đại học mà ông đề cập trong bài diễn văn của mình như sau:

“Mục tiêu tổng quát của giáo dục đại học là tạo ra những con người tự do, biết chủ động lựa chọn, theo đuổi, sáng tạo và cống hiến trên một tinh thần nhân văn cao quý. Con người tự do ngược lại với tinh thần nô lệ, bị lệ thuộc quá mức vào vật chất tiêu dùng, vào phương tiện thông tin, thế giới ảo, nô lệ vào những định kiến chật hẹp, những tín điều cũ kỹ, những thứ cản trở sự tiến bộ và khai phóng. Một tinh thần Đại học như vừa nói ở trên, được hiểu như một vẫy gọi, một cam kết giữa tất cả thầy trò chúng ta”.

Từ đây, liệu rằng PGS TS Ngô Văn Giá có đủ bản lĩnh và dũng khí để nói với các sinh viên của mình rằng, các em hãy nói, hãy viết những gì các em nghĩ (chứ không phải người khác nghĩ); hãy nói, hãy viết về những sự thật của xã hội và đất nước hiện nay bằng tất cả đạo đức và lương tâm của một nhà báo, đặc biệt là về những vấn đề rất “nóng” mà người dân ai cũng quan tâm như: mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc; các sự kiện ở biển Đông, chuyện ô nhiễm môi trường ở Hà Tĩnh (Formosa), về tham nhũng của các quan chức lãnh đạo cấp cao…?

Và liệu PGS TS Ngô Văn Giá có dám đánh đổi chiếc ghế của mình đang ngồi để bảo vệ các sinh viên của mình nếu các em muốn làm một nhà báo “ngay thẳng” giống như trường hợp của nhà báo Nguyễn Đắc Kiên năm nào?

Ngoài ra, là một nhà nghiên cứu, PGS TS Ngô Văn Giá chắc thừa biết lịch sử ra đời của báo chí nước nhà không phải là ngày 21/6 nhưng hàng năm Nhà nước vẫn quy định và lấy ngày này làm mốc để kỷ niệm. Trong tư cách của một nhà nghiên cứu ở một “ngôi trường sạch và giỏi”, liệu PGS TS Ngô Văn Giá có dám cất lên tiếng nói để đấu tranh đến cùng cho học thuật và cho lẽ phải để các em sinh viên thấy rằng những điều ông nói là trung thực và đáng tin?

3. Người làm giáo dục đương nhiên cần phải “gieo” vào đầu thế hệ trẻ những suy nghĩ trong sáng để họ có thêm niềm tin đối với bản thân. Nhưng thiết nghĩ tất cả phải trên cơ sở của sự thật cuộc sống và đặc biệt là “vai trò nêu gương” và sự trung thực của những “người lớn” – những người đang trực và gián tiếp dẫn dắt lớp trẻ – nếu không rất dễ trở thành lừa mị hoặc ảo tưởng! Thế nên, dù tôn trọng quan điểm cá nhân của PGS TS Ngô Văn Giá nhưng tôi nghĩ với bài diễn văn của mình, PGS TS Ngô Văn Giá đã vô tình gieo vào đầu các em sinh viên những điều mà tôi tin ngay cả bản thân ông và các đồng nghiệp vẫn còn đang lúng túng và “mắc kẹt” trong tư cách của những người trí thức (nhà văn, nhà giáo, nhà quản lý) trong xã hội Việt Nam hôm nay.

“Học đi đôi với hành”. Hiệu quả xã hội của một nền giáo dục nói cho cùng cũng chỉ gói gọn trong mấy chữ như vậy. Nhưng oái oăm thay, mấy mươi năm qua xã hội đất nước chúng ta, về giáo dục hầu như chỉ làm mỗi việc nhồi nhét và ép buộc người dân phải học những lý thuyết cao vời nhưng ít khi tạo điều kiện, môi trường để họ thực hành (thực làm trong sự vui vẻ, thoải mái). Thế nên, mọi sự cải cách giáo dục thời gian qua phải chăng cũng chỉ mới dừng lại ở những con chữ mĩ miều, ướt át trong các bài diễn văn của người nắm quyền lãnh đạo vì vậy mà chẳng có cuộc cải cách nào thành công? Và cuộc cải cách hiện tại có lẽ cũng đang ở trong tình cảnh như vậy?

Ở một phương diện khác nữa, đọc bài diễn văn của PGS TS Ngô Văn Giá tôi bỗng liên tưởng đến trường hợp GS Ngô Bảo Châu. Có thể thấy, thời gian qua thỉnh thoảng GS Châu cũng có những phát ngôn rất “nặng ký” thể hiện quan điểm cá nhân của ông về các vấn đề của xã hội và đất nước. Những phát ngôn ấy có thể làm một số người “không hài lòng” nhưng điều quan trọng là nó rất thống nhất  với những việc làm (trong lặng lẽ, âm thầm) nhằm đóng góp công sức, trí lực cho xã hội và đất nước của GS Châu. Nói cách khác, sự thống nhất này ít nhiều cho thấy thái độ và tâm thế của một Ngô Bảo Châu – cái thái độ và tâm thế cần phải có của những trí thức chân chính và tử tế nhưng đáng tiếc thay đây lại là “rào cản” lớn nhất của đội ngũ trí thức trong xã hội Việt Nam hiện nay. Một khi không vượt qua được “rào cản” này thì cái ý niệm về “một ngôi trường đại học sạch và giỏi” cũng chỉ là sự “chém gió”, “lên gân, lên cốt”, nói cho “sướng miệng” mà thôi.

***

4. Tôi vốn không biết PGS Ngô Văn Giá là ai. Tôi ở mút tận miền Tây xa xôi còn PGS TS Ngô Văn Giá đang sinh sống và làm việc ở thủ đô Hà Nội. Và như đã nói ở đầu bài viết, tôi rất đắn đo về “góc nhìn khác” này của mình (vì tôi biết chắc chắn sẽ làm cho những người thân, bạn bè, đồng nghiệp và đặc biệt là PGS TS Ngô Văn Giá buồn lòng). Dù vậy nhưng tôi nghĩ, PGS TS Ngô Văn Giá sẽ đồng cảm với tôi về ý kiến của TS Alan Phan đã từng nói khi còn sống như sau:

“Trong cuộc sống càng có nhiều góc nhìn thì càng giúp chúng ta có thêm cơ hội đến gần sự thật và chân lý”.

Vậy nên, khi tôi nói ra suy nghĩ thật của mình về bài diễn văn của PGS TS Ngô Văn Giá không có nghĩa là tôi thiếu tôn trọng ông. Ngược lại và hơn thế nữa, tôi thấy cần phải gửi lời cảm ơn đến PGS TS Ngô Văn Giá. Vì nhờ bài diễn văn của ông mà tôi có cơ hội nhìn lại mình.

Nói cách khác, một cách chân thành, tôi viết bài này trước hết cũng là để tự răn mình trong bối cảnh văn hóa, xã hội nước nhà hôm nay! Bởi lẽ, ai cũng biết cái môi trường văn hóa, giáo dục nói chung ở Việt Nam hiện đang rất “bẩn” thì dù muốn dù không một khi đã đứng trong hàng ngũ của những người làm giáo dục cũng khó mà nói bản thân mình “sạch” cho được. Cố gắng hết sức để “giữ mình” ít bị vấy bẩn đã là may lắm rồi.

Tôi nghĩ như thế không biết có đúng không?

Cần Thơ, 11/10/2017

N.T.B.


[i] “Một trường đại học sạch và giỏi”. Xem tại: http://vanviet.info/van-de-hom-nay/mot-ngi-truong-dai-hoc-sach-v-gioi/

[ii] “Viết gì nữa về vụ Nhã Thuyên?”. Xem tại: https://chumonglong.wordpress.com/2014/03/30/viet-gi-nua-ve-vu-nha-thuyen/

Nguồn: http://www.viet-studies.net/NTrongBinh_NghiVeNgoVanGia.html

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Mười 13, 2017

20171013. VỀ PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG

ĐIỂM BÁO MẠNG

PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG: ‘LÒ ĐÃ NÓNG LÊN, TẤT CẢ CÙNG VÀO CUỘC’

ANTĐ/GDVN 12-10-2017

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp xúc cử tri 2 quận Ba Đình, Tây Hồ (Hà Nội)

Phát biểu tại buổi tiếp xúc cử tri 2 quận Ba Đình, Tây Hồ (Hà Nội) sáng nay, 12/10, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết, trong “đánh tham nhũng”, phải bình tĩnh xem xét toàn diện, khách quan và phải nhìn về tương lai, không phải “đánh cho một đòn chết luôn” mà cốt để họ tự giác tu sửa.

Tại cuộc tiếp xúc cử tri, rất nhiều ý kiến cử tri đề cập đến công cuộc phòng chống tham nhũng mà Đảng đang “giương cao ngọn cờ” và triển khai mạnh mẽ thời gian qua, đặc biệt bày tỏ sự phấn khởi trước quyết tâm “đánh tham nhũng” của Đảng thể hiện qua việc kỷ luật ông Nguyễn Xuân Anh tại hội nghị Trung ương 6 vừa bế mạc.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp thu các ý kiến của cử tri và cho rằng, đây đều là các ý kiến rất sâu sắc, thể hiện cử tri nắm rất chắc tình hình.

Làm rõ một số tâm tư của cử tri, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết, đúng như cử tri phản ánh là thực tiễn còn rất nhiều tồn tại, rất nhiều vụ việc từ năm này sang năm khác chưa giải quyết được, song cần phải nhìn nhận khách quan và có thời gian.

Chẳng hạn, chúng ta nói đến biên chế cồng kềnh nhưng động đến cơ quan nào cũng nói rất thiếu người, rồi tinh giản thì biên chế bị tinh giản sẽ làm gì… rất nhiều tâm tư, rất phức tạp nên phải làm dần dần từng bước.

Đấu tranh chống tham nhũng luôn được xã hội rất quan tâm, kỳ nào cử tri cũng đề cập đến.

Có những vụ án xử mấy năm không xong được vì liên quan đến điều tra, phải làm sao để tâm phục khẩu phục, chứng cứ rõ ràng.

Thực tế cuộc sống rất phong phú, người nào bị xử cũng kêu oan, còn dân thì cho rằng xử thế vẫn nhẹ, phải xử nặng hơn.

Làm được việc này nảy ra việc khác, có những vụ án mấy năm liền không xử được vì phải tìm thêm chứng cứ, cần thời gian.

Có những vụ làm rất nhanh, nhưng có những vụ phải làm sao cho tâm phục khẩu phục, chứng cứ rành rành.

Ở những vụ đã xét xử vừa qua, tất cả đều tâm phục khẩu phục, thậm chí có người bị xử, bị kết tội còn cảm ơn những người thi hành pháp luật” – Tổng Bí thư nhấn mạnh.

Đặc biệt, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ, trong đánh tham nhũng, điều quan trọng không phải là “đánh một đòn chết tươi”, giật một phát cho người ta ngã xuống không gượng dậy được nữa.

Đó không phải phương châm của chúng ta.

Bác Hồ cũng đã dạy cốt sao để sửa, cốt để tiến bộ trưởng thành, không xử lý kiểu không cho ngóc đầu dậy.

Chúng ta phải bình tĩnh xem xét toàn diện các mặt, rất biện chứng.

Các vụ việc đều có lịch sử, nguyên nhân của nó nên phải nhìn nhận khách quan, toàn diện và phải nhìn về tương lai chứ không phải đánh cho một đòn chết luôn, cốt phải để họ tự giác mà sửa” – Tổng Bí thư nói.

Tổng Bí thư nêu rõ: Phương châm là phải xử lý thật nặng nhưng phải có tính giáo dục, phải làm sao thu hồi được nhiều tài sản nhất cho Nhà nước, đồng thời cảnh báo mọi người không đi vào vết xe đổ đó chứ không làm theo kiểu gây sự bất mãn trong xã hội.

Nhắc lại vụ việc kỷ luật Bí thư, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng vừa qua, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết, không vì chuyện hội nghị APEC tổ chức tại Đà Nẵng đang đến gần mà không xử lý lãnh đạo Đà Nẵng, nhưng xử lý xong cũng phải đảm bảo sự ổn định.

Tổng Bí thư một lần nữa nhấn mạnh:

Vừa qua, Trung ương đã xem xét sự việc rất toàn diện, khách quan, đạt được thống nhất rất cao”.

Trước có người nói ta đánh từ vai đánh xuống, nhưng bây giờ đánh trên đầu rất mạnh, các tỉnh cũng phải làm đi.

Cả cái lò phải nóng lên, tất cả vào cuộc. Lòng dân ủng hộ, đang làm rồi phải làm tiếp, không dừng lại.

Phải rất kiên trì, bước đi cho chắc chắn, đấu tranh nội bộ không cẩn thận dễ dẫn đến đổ vỡ, cần giữ ổn định, đoàn kết trên dưới một lòng thì mới phát triển được” – Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói thêm.

Giải đáp một số kiến nghị của cử tri liên quan đến nội dung kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIV tới đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết, kỳ họp sẽ khai mạc vào ngày 23/10 và dự kiến bế mạc ngày 23/11, tập trung vào công tác xây dựng pháp luật cũng như quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.

Trong đó, kỳ họp sẽ xem xét, cho ý kiến về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, tình hình thu chi tài chính năm tới, đặc biệt cũng sẽ bổ sung nội dung về vấn đề nhân sự.

Tổng Bí thư cho biết, Hội nghị Trung ương 6 vừa họp xong có nhiều vấn đề về công tác nhân sự, việc bổ sung nội dung này vào kỳ họp Quốc hội tới đây thuộc thẩm quyền của Quốc hội.

Theo An ninh Thủ đô
HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 6:  CHỈ ‘DIỆT RUỒI’ VÀ ‘ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ’
PHẠM CHÍ DŨNG/ VOA/ BVN 13-10-2017

clip_image002

Ông Nguyễn Phú Trọng “chùn tay” tại Hội Nghị TƯ 6

Sự hiện diện của hai chuyên đề “dân số” và “chăm sóc sức khỏe nhân dân” trong nghị trình Hội nghị trung ương 6 có thể cho thấy quyết tâm lẫn không khí “chống tham nhũng” tại kỳ họp kéo dài cả tuần lễ này bị pha loãng đến thế nào.

Đinh La Thăng “tạm thoát”?

Sát thời điểm khai mạc Hội nghị trung ương 6 vào ngày 4/10/2017, không có một thông tin chính thức nào về “hổ Đinh La Thăng”, trong khi nhân vật được “nhốt chung quyền lực vào lồng” cùng với ông Thăng là Nguyễn Văn Bình – Ủy viên bộ chính trị, Trưởng ban Kinh tế trung ương – còn được dẫn đầu một phái đoàn sang Cộng hòa liên bang Nga với mục đích và nội dung làm việc rất mông lung.

Thay cho những cái tên Đinh La Thăng và Nguyễn Văn Bình, có vẻ chiến dịch nhằm tạo ra một sự đảo lộn lớn về nhân sự cấp cao của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ gói gọn ở cái tên nhỏ bé: Nguyễn Xuân Anh, Bí thư thành ủy Đà Nẵng.

Đinh La Thăng, cũng bởi thế, có thể được xem là “tạm thoát”.

Những chi tiết có thể tạo ra ấn tượng là chỉ trước Hội nghị trung ương 6 vài tuần lễ, nhân vật này đã bị một cấp nào đó bật đèn xanh để luật sư của Nguyễn Xuân Sơn – người vừa lãnh án tử hình trong vụ án Hà Văn Thắm của Ngân hàng Đại Dương – tung ra một văn bản chứng minh rõ sự chỉ đạo của Đinh La Thăng khi còn là Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Dầu khí quốc gia (PVN) về yêu cầu các đơn vị thành viên mở tài khoản và giao dịch với ngân hàng Đại Dương.

Kết thúc phiên tòa xử Hà Văn Thắm, Hội đồng xét xử còn đề nghị cơ quan điều tra làm rõ trách nhiệm của người chỉ đạo gửi 800 tỷ đồng của PVN vào Ngân hàng Đại Dương để sau đó số tiền này hoàn toàn biến mất. Báo chí nhà nước đã ồn ào đưa tin về vụ việc này, thậm chí một số tờ báo đã bắt đầu đụng chạm đến cái tên Đinh La Thăng theo quan điểm được bật đèn xanh về “không có vùng cấm”.

“Không có Đinh La Thăng” tại Hội nghị trung ương 6 lại có thể khiến Huy Đức – một blogger và là người tung ra nhiều nhất các bài viết công kích, lên án những dấu hiệu tham nhũng của ông Thăng – rất không thỏa mãn khi cho tới giờ Đinh La Thăng vẫn chưa bị cơ quan cảnh sát điều tra thuộc Bộ Công an khởi tố.

Còn ông Nguyễn Phú Trọng đang tính toán gì với trường hợp Đinh La Thăng? Phải chăng ông Trọng muốn “để dành” Đinh La Thăng cho sau này, cho Hội nghị trung ương 7?

Hay Tổng bí thư Trọng không đủ lực để “xử” Đinh La Thăng, dù ông Trọng đã thành công khá trọn vẹn trong chiến dịch “đẩy” Đinh La Thăng khỏi Bộ Chính trị tại Hội nghị trung ương 5 vào tháng 5/2017?

Khối đối thủ không ngang tầm

Giả thiết “không đủ lực” là có thể có cơ sở. Từ đầu năm 2017 đến nay, và đặc biệt từ sau vụ “bắt cóc Trịnh Xuân Thanh”, vị thế chính trị của Nguyễn Phú Trọng có thể được xem là không còn đối thủ ngang tầm, cũng như hàng loạt vụ bắt bớ giới đại gia ngân hàng và dầu khí được đẩy mạnh hơn hẳn thời gian trước khi “Thanh về”. Tuy thế, thái độ chậm chạp truyền thống của các cơ quan thanh tra và điều tra vẫn có thể là một rào cản lớn đối với những chỉ đạo của tổng bí thư trong các vụ án đã được “quy hoạch”, dù ông Trọng đã có thâm niên đến một năm trời trong Thường vụ đảng ủy công an trung ương, tính từ thời điểm tháng 10/2016. Đơn cử như vụ “MobiFone mua AVG” mà cho tới nay, bất chấp chỉ đạo của ông Trọng, bản kết luận thanh tra của Thanh tra chính phủ vẫn chưa được công bố.

Nhưng những đối thủ chính trị hiện thời của ông Trọng – tuy không ngang tầm nhưng lại chiếm số đông – chắc chắn đã không thể bỏ qua vụ việc biệt phủ của giám đốc Sở Tài nguyên môi trường Yên Bái là Phạm Sỹ Quý, khi cho tới nay cũng chưa được Thanh tra chính phủ công bố kết luận, cho dù vụ việc này gây phẫn nộ lớn trong cả nước.

Cũng còn những cái tên khác như Võ Kim Cự – cựu bí thư Hà Tĩnh và là một trong những “tội phạm” tiếp tay cho nhà máy Formosa gây ra nạn ô nhiễm khủng khiếp đối với biển ở 4 tỉnh miền Trung, và Nguyễn Thị Kim Tiến – nhân vật có biệt danh “Kim Tiêm” mà từ năm 2014 đến nay, đặc biệt với vụ dính líu trách nhiệm để cho Công ty Pharma nhập thuốc ung thư giả mà đã gây oán thán lẫn phẫn nộ ghê gớm từ dư luận xã hội. Cả hai cái tên này đều chưa bị hề hấn gì. Còn trên phương diện nội bộ, hậu quả tai hại đối với Tổng bí thư Trọng là nhiều dư luận cho rằng sở dĩ những vụ việc Phạm Sỹ Quý, Võ Kim Cự, Nguyễn Thị Kim Tiến vẫn còn trong vòng an toàn là do được tổng bí thư “bảo bọc”.

Có thể, sự châm chích của các đối thủ chính trị không ngang tầm về những vụ việc trên đã khiến ông Trọng chùn tay trước Đinh La Thăng.

Điều được gọi là “thành công” của ông Trọng tại Hội nghị trung ương 6 cũng bởi thế không hẳn trọn vẹn là “rửa mặt cho Hội nghị 6”.

“Rửa mặt” không trọn vẹn

Cách đây đúng 5 năm, cũng vào tháng Mười năm 2012, đã diễn ra một hội nghị trung ương cũng với số thứ tự là 6 – một rạn vỡ công khai đầu tiên trong nội bộ đảng cầm quyền ở Việt Nam. Tại hội nghị đó, liên minh Nguyễn Phú Trọng- Trương Tấn Sang nhằm kỷ luật “đồng chí X” rốt cuộc đã bị đến 2/3 Ban chấp hành trung ương phủ quyết. Cũng tại hội nghị trung ương đó, lần đầu tiên ông Trọng không cầm nổi nước mắt khi đọc bài phát biểu bế mạc hội nghị. Nỗi đau quá lớn…

Năm năm sau, Nguyễn Phú Trọng phần nào hả hê, bắt đầu từ vụ cựu bộ trưởng công thương Vũ Huy Hoàng: cách chức như thế đã đủ đau chưa?

2017 có thể được xem là năm “thắng lợi lần 2” của Nguyễn Phú Trọng, sau “thắng lợi lần 1” tại đại hội 12 vào đầu năm 2016 khi ông Trọng đạt được kỳ tích “bất cứ ai trừ Dũng”.

Nếu Hội nghị trung ương 5 vào năm 2017 mang dấu ấn loại được Đinh La Thăng – người được đồn đoán “thân” với Nguyễn Tấn Dũng, thì Hội nghị trung ương 6 cùng năm cũng cho ra rìa một ủy viên trung ương là Nguyễn Xuân Anh – người được đồn đoán là “thân” với Trần Đại Quang – Chủ tịch nước.

Sau những “thành tích” đó, còn lại là “đổi mới chính trị” của Hội nghị trung ương 6.

Có thể cho rằng đây là lần đầu tiên Tổng bí thư Trọng không còn quá e dè khi đề cập đến cụm từ “đổi mới chính trị”, trong khi những năm trước ông chỉ thấp thoáng nói về “đổi mới”.

Nhưng lại hoàn toàn không rõ nghĩa của “đổi mới chính trị” là thế nào – tương tự cụm từ lê thê “hoàn hiện thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa” của ông Trọng mà chẳng làm cho ai hiểu ra sao.

“Đổi mới chính trị” ở Hội nghị trung ương 6 còn xa mới mới tiếp cận được “đổi mới lần 1” của cố tổng bí thư Nguyễn Văn Linh ba chục năm về trước, cho dù “đổi mới lần 1” rốt cuộc cũng chỉ “diệt ruồi”.

Trong thực tế, Hội nghị trung ương 6, ngoài những vài chuyên đề “làm màu” như dân số và chăm sóc sức khỏe nhân dân, chỉ còn bàn đến việc “tinh gọn bộ máy đảng” và “tinh giản biên chế”, đặt ra mục tiêu cực kỳ khó khăn là làm sao giảm được 10% trong tổng số 2,5 triệu công chức viên chức nhà nước, kể cả phải tính toán bỏ ban 3 chỉ đạo “Ba Tây” – Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ…

Nguồn cơn lớn nhất vẫn là nguy cơ rỗng ruột và cạn kiệt ngân sách. Ăn cho lắm mà làm ít hoặc chẳng làm gì thì đến núi cũng lở.

Nhưng ở Việt Nam lại là định luật bù trừ thu nhập và tài sản. Ngân sách và dân sinh cạn kiệt và khốn quẫn là thế, nhưng hàng núi tài sản vẫn dịch chuyển sang giới quan chức và chất cao ngút trời.

Cho tới nay, không có bất kỳ phản hồi nào từ chính Nguyễn Phú Trọng về căn bệnh kinh niên “chỉ phát hiện 5 trường hợp kê khai không trung thực trong số hơn một triệu công chức kê khai tài sản”. Cũng chẳng còn thấy ai nhắc đến chủ trương “kiểm tra tài sản 1000 cán bộ” của ông Trọng trong Hội nghị trung ương 6 kỳ này…

Cuối cùng là cuộc chiến nội bộ. Có thể xem Hội nghị trung ương 6 là cuộc họp mở màn chính thức cho chiến dịch “nhất thể hóa” cùng những xáo trộn chưa từng có về nhân sự đầu tỉnh và kể cả nhân sự “tứ trụ” trong ít nhất 2 năm tới.

Chiến dịch trên được hỗ trợ đắc lực bởi một quy định về “luân chuyển cán bộ” do Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành vào ngày 7/10/2017, mà theo đó có thể được người đời hiểu như “không làm được việc thì luân chuyển”, “không chịu đi thì luân chuyển”, “không ăn cánh cũng đương nhiên bị luân chuyển”.

P.C.D.

clip_image003

Phạm Chí Dũng là nhà báo độc lập, tiến sĩ kinh tế sống và làm việc tại Sài Gòn, Việt Nam. Trước năm 2013, đã có thời gian 30 năm làm việc trong quân đội, chính quyền và khối đảng. Do viết bài chống tham nhũng, từng bị công an bắt vào năm 2012. Năm 2013, tuyên bố từ bỏ đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 2014, cùng các cộng sự thành lập Hội nhà báo độc lập Việt Nam và giữ cương vị chủ tịch của tổ chức này. Cũng trong năm 2014, được Tổ chức phóng viên không biên giới vinh danh ‘Anh hùng thông tin’.

Nguồn: https://www.voatiengviet.com/a/hoi-nghi-trung-uong-tham-nhung-da-ho-diet-ruoi/4066183.html

CÓ THỎA THUẬN NGẦM TẠI HỘI NGHỊ TƯ 6 ?

PHẠM CHÍ DŨNG/ VOA/ BVN 14-10-2017

clip_image001

Phiên khai mạc Hội nghị Trung ương 6, ngày 4/10/2017. (Ảnh chụp từ Infonet.vn)

Hàng loạt hiện tượng không bình thường tại Hội nghị trung ương 6 của đảng cầm quyền vào nửa đầu tháng 10/2017 đã khiến dư luận xã hội và giới quan sát chính trị hoài nghi về khả năng đã có một “thỏa thuận ngầm” nào đó về “mức độ và đối tượng chống tham nhũng”.

Những hiện tượng bất thường

Đầu tiên là sự xuất hiện bất thường của hai chuyên đề “dân số” và “chăm sóc sức khỏe nhân dân” trong nghị trình Hội nghị trung ương 6 mà đã hoàn toàn lạc nhịp với nội dung chính của một “hội nghị nhân sự”.

Sau đó là phát ngôn trong bài diễn văn bế mạc hội nghị 6 của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Ai đã trót nhúng chàm thì sớm tự giác gột rửa”, và “Từ nay bất cứ ai vi phạm kỷ luật sẽ bị xử lý nghiêm”.

Hiện tượng thứ ba là trong suốt 7 ngày họp Hội nghị trung ương 6, ngoài vụ “diệt ruồi” duy nhất đối với Bí thư thành ủy Đà Nẵng Nguyễn Xuân Anh, người ta hoàn toàn không thấy ông Trọng nói gì đến vụ ông Đinh La Thăng.

Một hiện tượng bên lề không nên bỏ qua là cũng trong suốt thời gian họp Hội nghị trung ương 6, blogger Huy Đức đã lắng tiếng một cách kỳ lạ, dù ngay trước đó blogger này đã dồn dập tung ra các thông tin theo ý “chỉ chờ Đinh La Thăng bị bắt”. Từ nửa cuối năm 2015 đến nay, Huy Đức lại thể hiện như “cây bút tín hiệu” đối với những biến động về nhân sự trong nội bộ đảng.

Vào tháng Mười năm 2016, trước khi diễn ra Hội nghị trung ương 4 về “chống tự diễn biến, tự chuyển hóa”, cũng cây viết Huy Đức đã nổ phát súng đầu tiên vào Ủy viên bộ chính trị, Bí thư thành ủy TP.HCM Đinh La Thăng bằng loạt bài viết về trách nhiệm của ông Thăng khi còn là Chủ tịch hội đồng thành viên Tập đoàn Dầu khí quốc gia (PVN). Tuy nhiên sau Hội nghị trung ương 4, tình hình vẫn im ắng đối với ông Thăng. Khẩu khí ồn ào khoa trương cùng hoang tưởng theo cách “TP.HCM phải phấn đầu có được giải Nobel y tế” của Bí thư Thăng chỉ thật sự chấm dứt trước Hội nghị trung ương 5 vào tháng Năm năm 2017 khi ông Thăng bất ngờ bị Bộ Chính trị kỷ luật và mất ghế tại Sài Gòn.

Chỉ trước Hội nghị trung ương 6 vài tuần lễ, Đinh La Thăng đã bị một cấp nào đó bật đèn xanh để luật sư của Nguyễn Xuân Sơn – người vừa lãnh án tử hình trong vụ án Hà Văn Thắm của Ngân hàng Đại Dương – tung ra một văn bản chứng minh rõ sự chỉ đạo của Đinh La Thăng khi còn là Chủ tịch Hội đồng thành viên PVN về yêu cầu các đơn vị thành viên mở tài khoản và giao dịch với ngân hàng Đại Dương.

Khi phiên tòa xử Hà Văn Thắm kết thúc với án chung thân cho nhân vật này, Hội đồng xét xử còn đề nghị cơ quan điều tra làm rõ trách nhiệm của người chỉ đạo gửi 800 tỷ đồng của PVN vào Ngân hàng Đại Dương để sau đó số tiền này hoàn toàn biến mất. Báo chí nhà nước đã ồn ào đưa tin về vụ việc này, thậm chí một số tờ báo đã bắt đầu đụng chạm đến cái tên Đinh La Thăng theo quan điểm được bật đèn xanh về “không có vùng cấm”.

Khi đó, đã dậy lên một luồng đồn đoán về khả năng Đinh La Thăng có thể bị Bộ Công an bắt, thậm chí bắt trước Hội nghị trung ương 6.

Tuy nhiên đến sát thời điểm khai mạc Hội nghị trung ương 6 vào ngày 4/10/2017, không có một thông tin chính thức nào về “hổ Đinh La Thăng”. Cùng lúc xuất hiện bất thường của hai chuyên đề “dân số” và “chăm sóc sức khỏe nhân dân” trong nghị trình Hội nghị trung ương 6. Dấu hỏi bật ra: phải chăng nghị trình dự kiến của Hội nghị trung ương 6 đã định “xử” Đinh La Thăng, nhưng do không thể làm được việc này nên đã trám khoảng trống thời gian bằng hai chuyên đề “lo cho dân”?

Đó là một khả năng có thể.

Chỉ thị 15?

Vụ “Đinh La Thăng biến mất tại Hội nghị trung ương 6” khiến tình thế chuyển sang một giả thiết mới: phải chăng đã xảy ra một “sự cố” nào đó trước hội nghị này, hoặc cũng có thể gọi là một “lực cản” mà đã khiến cho quy trình “khai trừ Đinh La Thăng” của Tổng bí thư Trọng không thể suôn sẻ và đành phải giẫm chân tại chỗ?

Cho tới nay, Chỉ thị số 15 của Bộ Chính trị vẫn còn nguyên tác dụng. Theo văn bản này, công an muốn bắt giam đối tượng là đảng viên thì phải báo cáo cho những cấp ủy đảng phụ trách đảng viên đó. Sau đó, cấp ủy đảng phải làm động tác kỷ luật và có thể khai trừ đảng đối với đảng viên vi phạm, trên cơ sở đó công an mới có thể tiến hành những động tác tố tụng hình sự.

Với Đinh La Thăng, ông vẫn còn giữ ghế ủy viên trung ương sau khi bị loại khỏi Bộ Chính trị. Một giả thiết đặt ra là nếu cơ quan công an đề nghị Bộ Chính trị và Ban chấp hành trung ương khai trừ Đinh La Thăng để có cơ sở khởi tố và bắt giam ông, liệu Tổng bí thư Trọng có dám làm đúng theo nguyên tắc của Chỉ thị 15? Hoặc ông Trọng đã có thể phải nhận một phản ứng không mấy đồng thuận từ “tập thể Bộ Chính trị” mà do đó đã không thể đưa vụ khai trừ Đinh La Thăng ra Hội nghị trung ương 6?

“Đầu voi đuôi chuột”?

Một giả thiết khác cũng đang tồn tại.

Bởi khẩu khí của Tổng bí thư Trọng trong bài diễn văn bế mạc Hội nghị 6 như “Ai đã trót nhúng chàm thì sớm tự giác gột rửa”, và “Từ nay bất cứ ai vi phạm kỷ luật sẽ bị xử lý nghiêm” được xem là “nhu mì” hẳn, nếu so sánh với “Lò đã đốt lên rồi thì củi tươi đưa vào cũng phải cháy” – một phát ngôn cảm xúc cao độ cũng của ông Trọng vào đầu tháng Tám năm 2017 khi nổ ra vụ “bắt cóc Trịnh Xuân Thanh “theo cáo buộc của Chính phủ Đức, còn phía Việt Nam thì công bố trên truyền hình “Trịnh Xuân Thanh tự nguyện về đầu thú”.

Khẩu khí và cách nói trên của ông Trọng cho thấy điều gì?

Phải chăng công cuộc được tuyên giáo là “chống tham nhũng” của Nguyễn Phú Trọng đã một lần nữa “đầu voi đuôi chuột”, mà qua phát ngôn của ông Trọng có thể được hiểu là “chống tham nhũng” chỉ là “từ nay trở đi”, còn vô số vụ tham nhũng trong quá khứ được xếp vào dạng “đập chuột nhưng không vỡ bình” hoặc “không đập chuột để giữ bình”?

Chỉ một ngày sau Hội nghị trung ương 6, câu hỏi trên dường như đã được giải đáp. Vào buổi sáng ngày 12/10/2017, ông Nguyễn Phú Trọng đã có buổi tiếp xúc cử tri tại quận Ba Đình, Tây Hồ (Hà Nội). Trước nhiều bức xúc của cán bộ lãnh thành, trong đó “khen vụ Đà Nẵng, chê vụ Yên Bái” và nhiều cử tri hỏi tại sao cho đến giờ Thanh tra chính phủ vẫn chưa công bố kết luận thanh tra biệt phủ của Phạm Sỹ Quý, giám đốc Sở Tài nguyên môi trường Yên Bái, ông Trọng cho rằng phải bình tĩnh xem xét toàn diện các mặt để tìm nguyên nhân, khi xử lý thì “không phải dập cho người ta không thể ngóc đầu dậy được, Bác Hồ dạy cốt để cán bộ sửa sai, để tiến bộ trưởng thành…”.

4 tháng trước, tâm thế của ông Trọng cũng trở nên “hiền hòa” một cách bất ngờ. Trong cuộc tiếp xúc với cử tri Hà Nội ngày 23/6/2017, ông Trọng có một phát biểu “lạ”: “Đối với Trịnh Xuân Thanh đã khai trừ đảng và khởi tố, truy nã toàn quốc, quốc tế. Chúng ta làm đồng bộ nhưng phải có bước đi, có tình, có lý, mở đường cho người ta tiến, cốt là đánh động để răn đe, ngăn ngừa” – một cách nói rất dễ khiến dư luận hiểu rằng ông đã mệt mỏi và chấp nhận thất bại trong quyết tâm trước đó “bắt bằng được Trịnh Xuân Thanh”.

Cần lưu ý, tháng Sáu năm 2017 lại là khoảng thời gian mà quyết tâm “bắt bằng dược Trịnh Xuân Thanh” đã dường như bị tụt xuống mức thật thấp, thấp đến mức vô vọng.

Phải chăng vào lúc này, tâm thế “xử” Đinh La Thăng cũng lúng túng hệt như lúc chưa xảy ra vụ người Đức tố cáo mật vụ Việt Nam bắt cóc Trịnh Xuân Thanh?

“Thỏa thuận ngầm”?

Dư luận xã hội cũng đặt dấu hỏi về liệu đã có một “thỏa thuận ngầm” nào đó giữa người đứng đầu đảng cầm quyền với một thế lực chính trị nào đó, để khi vụ việc Đinh La Thăng “êm” thì những vụ tày trời khác như Võ Kim Cự – cựu bí thư Hà Tĩnh và bị xem là một trong những thủ phạm gây ra nạn xả thải của nhà máy Formosa làm ô nhiểm biển 4 tỉnh miền Trung, Nguyễn Thị Kim Tiến – đương kim bộ trưởng Bộ Y tế và là nhân vật phải chịu trách nhiệm về vụ Công ty Pharma nhập thuốc ung thư giả gây phẫn uất trong dư luận, biệt phủ gây phẫn nộ dư luận của Phạm Sỹ Quý, giám đốc Sở Tài nguyên môi trường Yên Bái và là em ruột Bí thư tỉnh ủy Yên Bái Phạm Thanh Trà… cũng được cho “chìm xuồng”…

Trong thực tế, công cuộc “chống tham nhũng” của đảng CSVN chưa bao giờ thực tâm và cũng chưa bao giờ đạt được một kết quả đáng kể nào nhằm “yên dân”. Và nếu giả thiết về “thỏa thuận ngầm” là có cơ sở, chủ trương “chống tham nhũng” của Tổng bí thư Trọng – không chỉ với Đinh La Thăng mà đối với rất nhiều quan chức “trót nhùng chàm” khác – sẽ được người dân và cán bộ hiểu thuần túy theo cách “đánh trống bỏ dùi”, “bánh vẽ”, trong đó không loại trừ thâm ý “chống tham nhũng nhằm mặc cả quyền lực”.

P.C.D.

Older Posts »

Categories