Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Bảy 18, 2019

20190718. QUANH ĐỀ XUẤT DÙNG LU CHỐNG NGẬP

ĐIỂM BÁO MẠNG

PHÓ GIÁO SƯ HỒNG XUÂN, NGƯỜI HIẾN KỄ DÙNG LU CHỐNG NGẬP XIN NGHỈ PHÉP DÀI NGÀY

ĐỖ HƯNG /GDVN 16-7-2019

Ngày 16/7, Phó Giáo sư Phan Thị Hồng Xuân – Đại biểu Hội đồng nhân dân khóa IX, Trưởng khoa Đô thị học Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận với Phóng viên Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam liên quan đến việc xin nghỉ phép dài ngày của mình.

Phó Giáo sư Hồng Xuân chia sẻ, rất cần nghỉ ngơi sau biến cố quá lớn đối với bản thân.

Phó Giáo sư Phan Thị Hồng Xuân. (Ảnh: Báo Điện tử Sài Gòn Giải Phóng)

Cô Xuân cũng đã có báo cáo với Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học và Xã hội nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh những phát biểu trước Hội đồng nhân dân Thành phố vừa qua.

Phó Giáo sư Hồng Xuân cũng có nói rõ những ý tứ mà dư luận chưa hiểu và phân tích tích cực.

Trước những biến cố này, cô Xuân rất buồn vì bị hiểu sai ý và bị cho là ngớ ngẩn.

Liên quan đến vụ việc, ngày 12/7, tại kỳ họp Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 15, đại biểu Hội đồng nhân dân – Phó Giáo sư Hồng Xuân đã đề xuất trang bị lu nước để chống ngập.

Ngay sau đó, đề xuất này đã vấp phải nhiều ý kiến trái chiều trên mạng xã hội và một số cơ quan truyền thông.

Đỗ Hưng
CÁI LON TRONG LỜI BÀ CỤC VÀ CÁI LU CỦA BÀ NGHỊ
XUÂN DƯƠNG/ 15-7-2019

“Lon bà Cục” là câu chuyện râm ran từ ngõ hẻm ra đến đường cái quan về lý giải của bà Ninh Thị Thu Hương, Cục trưởng Cục Văn hóa cơ sở Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, rằng chữ “lon” “nếu bị thêm dấu thêm mũ trong các quảng cáo ngoài trời sẽ rất khủng khiếp”.

Còn “Lu bà Nghị” là câu chuyện vị Đại biểu Hội đồng nhân dân (đơn vị quận Gò Vấp) Thành phố Hồ Chí Minh Phan Thị Hồng Xuân nêu sáng kiến trang bị cho mỗi gia đình chiếc lu to chứa nước mưa để chống ngập cho thành phố.

Được biết vị đại biểu trên có học vị tiến sĩ, học hàm phó giáo sư và là Phó Trưởng khoa Nhân học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh.

Nghe nói hội trường cuộc họp được phen tỉnh ngủ không biết có phải vì đề xuất rất “xã hội nhân văn” của vị Phó trưởng khoa này hay còn vì lâu lắm cử tri mới thấy được đóng góp của một nhà khoa học cho chính quyền thành phố.

Dụng cụ bằng đất nung dùng để đựng nước có nhiều tên gọi: ang, vại, lu, khạp, vò,…

Về phương diện ngôn ngữ, việc dùng từ “lu” không có gì phải bàn luận trừ trường hợp có những suy luận lệch lạc như chuyện thêm mũ thêm dấu vào chữ “lon” theo lý giải của bà Cục trưởng Cục Văn hóa cơ sở.

Được biết ngoài Bắc, cơ quan cùng “chủng loại” với Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh là “Học viện Khoa học xã hội” được báo chí tặng cho cái tên là “lò” ấp tiến sĩ!

Cái “lò ngoài Bắc” đã đào tạo ra vô số tiến sĩ với những đề tài như: “Hành vi nịnh trong tiếng Việt”; “Đặc điểm giao tiếp với dân của Chủ tịch UBND xã”;…

Dùng cụm từ “Lò ngoài Bắc” để bà con có cái mà mắng mỏ giống như “Lon Việt Nam”, còn nếu viết “Lò ấp tiến sĩ ngoài Bắc” thì “tiến sĩ” nào chẳng viết được.

Có điều, Hội đồng nhân dân thành phố là nơi bàn những vấn đề hệ trọng liên quan đến các vấn đề kinh tế, xã hội, đời sống khoảng 10 triệu người, cao hơn nhiều dân số những quốc gia nhỏ như Lào, Mông Cổ, Singapore,…

Đưa ra sáng kiến hay kiến nghị phải có tính khả thi chứ không phải nói để khỏi bị quy là “nghị gật”.

Để hiểu vì sao những bình luận “bảo vệ” quan điểm của vị Phó Trưởng khoa Nhân học lại bị phản bác trên mạng xã hội, chỉ xin nêu một ví dụ:

Số liệu quan trắc tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy trận mưa ngày 25/11/2016 đo được tại quận Tân Bình là 407,6mm, tại trung tâm thành phố là 301mm, huyện Nhà Bè là 345mm, huyện Cần Giờ là 293mm… Bình quân toàn thành phố là 336,5 mm. [1]

Cũng nên biết “lượng mưa” là lượng nước rơi xuống thiết bị hứng nước đặt trong trạm quan trắc.

Lượng mưa 300 mm có nghĩa là nếu đất không thấm nước hoặc nước không thoát ra kênh rạch, ao, hồ thì mặt đất sẽ bị ngập 30 cm.

Số liệu của Tổ chức khí tượng thế giới cho thấy lượng mưa trung bình tại Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 5 đến tháng 10 từ trên 200 mm đến trên 300 mm (xem bảng)

Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Cả năm
Lượng mưa (mm)
13,8
4,1
10,5
50,4
218,4
311,7
293,7
269,8
327,1
266,7
116,5
43,3
1.931

Nguồn: Số liệu thống kê của Tổ chức khí tượng thế giới

Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích gần 2.100 km2 tức là khoảng 2,1 tỷ mét vuông, với lượng mưa 0,336 mét thì lượng nước mưa đọng trên mặt đất (ngày 25/11/2016) sẽ vào khoảng 700 triệu mét khối.

Cứ cho rằng nước thoát ra kênh rạch, ao hồ gần hết, chỉ còn 1/10 đọng trên mặt đất và giả sử mỗi cái lu chứa được 1 mét khối thì theo đề xuất của bà Nghị nọ, Thành phố Hồ Chí Minh cần 70 triệu cái lu để chứa nước.

Giả sử mỗi cái lu chiếm diện tích 1 mét vuông thì thành phố phải dành ra 70 triệu mét vuông (70 km2) làm chỗ đặt lu. 

Diện tích này lớn gấp gần 10 lần diện tích quận 1 (7,73 km2), gấp gần 20 lần ba quận nhỏ nhất là quận 3 (4,92km2), quận 4 (4,18 km2) và quận 5 (4,27 km2).

Đấy là chưa nói đến giá tiền mua một chiếc lu.

Có thể người hoạt động trong lĩnh vực “xã hội nhân văn” thực hiện các phép tính cộng, trừ, nhân, chia chậm hơn lĩnh vực khoa học tự nhiên nhưng chắc chắn đã làm đến Phó khoa của Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thì không thể không biết lời dạy của cổ nhân “Bảy lần đo, một lần cắt”.

Làm nhà giáo mà chỉ biết “cắt”, không biết “đo” thì học trò sẽ biết gì?

Về trình độ giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ Việt Nam hiện tại, thiết nghĩ không gì chính xác hơn là dẫn ý kiến trong bài: “ “Thiếu” giáo sư, tiến sĩ (?!)” đăng trên Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam:

“Nếu nói rằng chúng ta đang “quá tải” hay “lạm phát” giáo sư, tiến sĩ thì cũng không hẳn, nhất là khi chỉ có vài trăm giáo sư là đang có cống hiến cho sự nghiệp khoa học, giáo dục…

Chính phủ rất cần sự đóng góp của “giới tinh hoa”, đó là các giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ” nhưng ngược lại cũng cần “Tránh việc đào tạo tiến sĩ và xét công nhận giáo sư, phó giáo sư không thực chất, hình thức, háo danh ảnh hưởng đến uy tín và danh dự của những nhà khoa học chân chính”. [2]

Theo bài báo, cả nước chỉ có “vài trăm” giáo sư là có cống hiến cho sự nghiệp khoa học, giáo dục vậy số còn lại “cống hiến” cho cái gì?

Chuyện cái lon, cái lu và cái lò liệu có phản ánh mặt bằng trình độ cán bộ, công chức và đội ngũ “tinh hoa” hiện nay hay không?

Đoán rằng không ai dám xúc phạm các “nguyên khí quốc gia”, có điều nhân bàn về vần “l” trong các phát kiến kể trên, mấy “chuyên gia” trà đá vỉa hè được phen cười sái quai hàm khi biến báo câu thơ:

“Lạy trời cho thổi gió Nồm; Ðể cho thuyền Chúa thuận buồm về kinh” như sau:

“Lạy trời cho thổi gió “Lồm”; Em mà “lói” ngọng, anh chồm vào … “nu””.

Tài liệu tham khảo:

[1]//tuoitre.vn/dem-qua-sai-gon-hung-luong-mua-ky-luc-400mm-20181126094958512.htm

[2] //dangcongsan.vn/noi-hay-dung/thieu-giao-su-tien-si-499315.html

Xuân Dương
CƠ CHẾ NÀO ĐẺ RA NHỮNG ĐẠI BIỂU GÂY CƯỜI ?
LÊ TRƯƠNG/ RFA 14-7-2019

Quốc hội tức là dân, dân quyết sai thì dân chịu, chứ kỷ luật ai?”, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng-năm 2014.

“Chưa có tượng đài là thiệt thòi cho chúng tôi”-Cầm Ngọc Minh, chủ tịch UBND tỉnh Sơn La.

“Con lãnh đạo làm lãnh đạo là hạnh phúc của dân tộc”- Nguyễn Thị Quyết Tâm, Chủ tịch HĐND Tp HCM.

“Nếu chúng ta sai, chúng ta nhận lỗi trước dân. Nếu dân sai thì dân phải chịu trách nhiệm trước pháp luật”-Bộ trưởng Mai Tiến Dũng, Chủ nhiệm Văn phòng chính phủ.

Quan to còn đanh thép như thế thì chị LON với chị LU cũng có đã đáng gì mà phải cười.

Nếu rảnh liệt kê hết các phát ngôn gây cười của các quan chức Việt Nam, có lẽ phải được cuốn từ điển.

Nhưng thú vị nhất là cho dù có cả một lịch sử phát ngôn ngô nghê của các vị nhưng chúng ta cứ chờ mà xem, không biết chừng chỉ trong nay mai lại tiếp tục có những phát ngôn ngô nghê hơn nữa, “vươn lên tầm cao mới”.

Vì bản chất vấn đề không nằm ở cá nhân các vị kể trên. Nguyên nhân cốt lõi ở chỗ cơ chế nào đã gầy dựng họ trở thành những người được đại biểu cho nhân dân. Và không may thay, họ tưởng mình được nhân dân tin tưởng cử làm đại biểu thiệt, nên rất cố gắng phát ngôn giùm cho nhân dân, mặc dù nhân dân không có nhờ, cả trong những lĩnh vực mà hiểu biết của họ là số không.

Hội đồng nhân dân nhưng chẳng có ông dân nào

Đầu tiên phải xét cơ chế bầu cử của Hội đồng nhân dân.

Trong 105 vị (hiện tại là 104, do một vị bị bắt hồi đầu năm nay vì tội tham ô) đại biểu Hội đồng nhân dân Tp HCM (viết tắt là HĐND) khóa 2016-2021, có 96 vị là đảng viên và đang giữ các chức vụ lớn nhỏ trong hệ thống nhà nước. Bao gồm chủ tịch, phó chủ tịch HĐND, trưởng các ban của HĐND, chủ tịch, phó chủ tịch các quận huyện, bí thư, phó bí thư quận ủy, Thành đoàn, quận đoàn, giám đốc và phó giám đốc các sở ngành, trưởng phó các phòng ban thuộc các sở; chủ tịch, phó chủ tịch một vài hội đoàn, doanh nghiệp, viện nghiên cứu trực thuộc nhà nước, tổng biên tập báo, công an và sĩ quan cao cấp trong quân đội.

Đại biểu Phan Thị Hồng Xuân, người có phát biểu dùng lu chứa nước để tránh lụt lội trong thành phố
Đại biểu Phan Thị Hồng Xuân, người có phát biểu dùng lu chứa nước để tránh lụt lội trong thành phố Courtesy of Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh

Với các chức vụ như trên, các vị này không thể là “dân”.

Còn lại 9 người trong lý lịch không thấy ghi là đảng ủy viên hay bí thư, phó bí thư chi bộ, bao gồm 1 nghệ sĩ cải lương, 1 hòa thượng, 1 ni sư, 1 linh mục, 1 giảng viên đại học, một trưởng ban Bạn đọc của một tờ báo, một tổng giám đốc công ty Bachy Soletanche chuyên về xây dựng, 100% vốn của Pháp; một giám đốc HTX chuyên trồng hoa lan và một bác sĩ.

Xét theo tiêu chí phổ quát, thì chỉ có 9 người này thực sự là dân đúng nghĩa.

Tức có đến 91,4 % đại biểu HĐND Tp HCM đang là quan chức và đảng viên.

Thế thì tổ chức HĐND của bà Phan Thị Hồng Xuân có đại diện thực sự cho dân không? Hỏi là đã trả lời.

“Cho đẹp đội hình”

Trong Luật tổ chức chính quyền địa phương, quyền lực của HĐND rất lớn. Họ quyết định mọi điều, từ kế hoạch phát triển mọi mặt của địa phương cho đến nguồn và phân bổ tài chính để thực hiện những kế hoạch đó. HĐND còn đồng thời là cơ quan giám sát UBND thực hiện các nghị quyết của họ.

Nhưng, với cơ cấu cụ thể của một khóa HĐND như kể trên, nói không oan cơ chế HĐND hiện tại chỉ là cơ chế giả hiệu, mị dân, tiêu tốn ngân sách.

Một mình ông quan chức đóng cả ba vai. Ở ghế chính quyền, ông là lãnh đạo, có nhiệm vụ thực hiện các nghị quyết của HĐND. Vừa bước vào phòng họp HĐND, ông biến thêm thành hai phân thân khác : vừa là người ra lệnh cho chính ông thựchiện các quyết sách của địa phương, lại cũng là người đi giám sát việc chính ông thực hiện các quyết định đó.

Tréo ngoe và quái gở!

Chưa kể, trong một chế độ toàn trị, lợi ích của chính quyền luôn luôn nảy sinh xung đột lợi ích với những người được chính quyền “quản lý”, nhưng chính các ông cầm quyền lại tự xưng là “đại biểu của nhân dân”, thì nghe có chết cười không?

Hình minh hoạ. Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng ở Hà Nội hôm 21/10/2013. Ông từng phát biểu "Quốc hội tức là dân, dân quyết sai thì dân chịu, chứ kỷ luật ai?"
Hình minh hoạ: Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng ở Hà Nội hôm 21/10/2013. Ông từng phát biểu “Quốc hội tức là dân, dân quyết sai thì dân chịu, chứ kỷ luật ai?” AFP

Một điểm quái gở khác. Theo luật, các đại biểu của nhân dân phải được “bầu cử” từ đủ cơ cấu thành phần trong xã hội. Phải có hòa thượng và có linh mục; có nam thì phải có nữ; có người lớn tuổi thì phải có người trẻ; có đảng viên thì phải có người ngoài đảng; phải có người dân tộc thiểu số; có doanh nhân thuộc doanh nghiệp tư nhân, có trí thức thì phải có công nhân; có quan chức thì phải có nghệ sĩ, nhà báo…

Đúng và đủ cơ cấu rồi, họ phải lọt qua các vòng hiệp thương của tổ dân phố, của cơ quan, của địa phương…, tức là họp mặt nhau lại, hỏi “Ai đồng ý bầu vị này ứng cử đại biểu HĐND hay đại biểu Quốc hội”. Nhiều người đồng ý giơ tay thì vị ấy thành ứng cử viên. Lọt qua được vòng bầu cử toàn quốc và được Ủy ban thẩm tra tư cách đại biểu đồng ý thì trở thành đại biểu nhân dân. Cấp đại biểu HĐND hay đại biểu Quốc hội đều tương tự như nhau.

Nhưng kết quả thực sự của số phiếu bầu thì ngoài một số người trong Ủy ban bầu cử ra, không ai biết. Không đi bầu, không bỏ phiếu nhưng trong thùng phiếu vẫn có phiếu đầy đủ bầu cho những người không biết là ai, cũng là chuyện thường ngày ở huyện.

Thế cho nên mới có những đại biểu nữ, ngoài đảng, người dân tộc thiểu số mới trên 20 tuổi, xinh như bông hoa. Nhưng khi vào họp thì tiếng Kinh còn lơ lớ chưa hiểu hết, vốn sống, trải nghiệm đều chưa có, chuyên môn càng không. Hay những công nhân, nghệ sĩ, hoặc các giáo sư tiến sĩ có thể rất giỏi chuyên môn nhưng ú ớ về pháp luật. Nhưng làm sao một người chưa sõi tiếng Kinh, hay một công nhân trình độ bình thường đọc hiểu được các báo cáo kinh tế, văn hóa, các dự án luật dày hàng chục trang, dầy đặc các vấn đề hóc búa và các thuật ngữ chuyên môn khó hiểu? Làm thế nào để họ tham gia lập hiến, lập pháp, đối nội, đối ngoại, quyết định các chính sách quan trọng của đất nước?

Trường hợp bà Phan Thị Hồng Xuân đang bị dân mạng Việt Nam chế giễu ngập trời với đề xuất mỗi hộ gia đình nên sắm lu chứa nước mưa để giảm ngập cho thành phố phản ánh rất rõ sự vô lý này. Trình độ chuyên môn của bà Xuân không hề kém cỏi. Theo đúng những gì ghi trong lý lịch đại biểu HĐND, bà là Phó giáo sư, tiến sĩ Lịch sử chuyên ngành Dân tộc học, cử nhân Luật Hành chánh, cử nhân chuyên ngành Đông Nam Á học. Nếu cần ý kiến về đúng chuyên ngành Dân tộc học, có lẽ bà sẽ đóng góp được nhiều. Nhưng, do được cơ cấu là đại biểu, và chết cái bà cũng tưởng bà là đại biểu của nhân dân thật, nên mới xảy ra vạ miệng “thợ điện đi sửa ống nước” như rứa.

Cạnh đó còn phải kể đến ngót nghét 80%-90% đại biểu HĐND và Quốc hội là đảng viên và quan chức đương nhiệm. Nhưng đảng viên thì không được phát ngôn trái với nghị quyết đảng. Vậy thì trong những vấn đề xung đột giữa lợi ích của đảng và của dân, hay giữa của dân và của ngành nghề, nhóm lợi ích mà mình đang giữ trọng trách, đại biểu sẽ nói lên tiếng của ai?

Ở Việt Nam, đại biểu quốc hội hay đại biểu HĐND lại không phải là một vị trí chuyên môn như nghị sĩ ở các thể chế khác. Tuy lá phiếu của đại biểu có thể góp phần đẩy đất nước tiến nhanh hay kéo lùi, nhưng thực chất đó không phải là công việc chính. Cho nên, giơ tay biểu quyết ra vô số điều luật sai bét nhưng cho đến nay chưa thấy đại biểu nào bị kỷ luật vì hoạt động kém hiệu quả hay phát ngôn ngây ngô vô tác dụng khi xâydựng luật cả.

Nói cho cùng, bầu cử đại biểu chỉ để cho đẹp đội hình. Làm đại biểu chỉ là một thứ vinh quang kiêm nhiệm, cho oai. Oai nhưng lại có kỳ hạn. Hết năm năm, nếu trong cơ quan vẫn chưa lên được chức cao hơn, thì đại biểu cũng chỉ về đuổi gà. Không chừng còn phải khép nép trước sếp.

***

Ở một mô hình đúng đắn, hội đồng nhân dân phải là tập hợp của những người dân thực sự. Đó là những người không giữ một vị trí, quyền lợi nào trong bộ máy chính quyền hay các tổ chức phụ thuộc hay chịu ảnh hưởng từ nó. Có như vậy họ mới hiểu thấu quyền lợi và nghĩa vụ của dân. Tiếng nói của họ mới là phản ánh tiếng nói thật từ người dân.

Đối trọng với nó, cơ chế “HĐND” hiện tại của Việt Nam cần phải thay đổi thành thể chế hội đồng đô thị (hoặc hội đồng tỉnh, huyện). Để thực sự làm được những điều ghi trong luật (ban hành các quyết sách áp dụng trong nội bộ địa phương), hội đồng này phải bao gồm các nhà quản trị xã hội (không phải quản lý) có đủ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp trong lĩnh vực phụ trách. Các biện pháp phát triển kinh tế, văn hóa.. v.v trong địa phương do hội đồng này đề ra phải được hội đồng nhân dân (hội đồng nhân dân thực sự), như một cách trưng cầu ý kiến và thống nhất cách thực hiện trước khi được ban hành.

Còn mô hình Quốc hội, từ lâu các nhà nghiên cứu lập pháp và báo chí trong nước đã bàn rầm rộ, nhưng rồi lại rơi vào im lặng như các cao trào tư tưởng trước đó.

Nó không gì khác ngoài việc thay thế các “đại biểu của nhân dân” tự xưng bằng chế độ nghị viện như nhiều nước đã thực hiện từ rất lâu.

* Bài viết không thể hiện quan điểm của Đài Á Châu Tự Do

NÉM ĐÁ ‘LON BÀ CỤC’, ‘LU BÀ NGHỊ’ : VĂN HÓA PHẢN BIỆN ĐANG BỊ BIẾN MẤT

TRẦN PHƯƠNG/ GDVN 17-7-2019

Phê phán, phản đối, mạt sát và tự động “ném đá” đang là cách ứng xử thiếu văn hóa của một bộ phận người Việt. (Ảnh minh họa: Báo Công Lý)

Trong thời đại khoa học – công nghệ phát triển như hiện nay, mỗi người có thể dễ dàng tương tác với nhau qua mạng xã hội bằng những ý kiến thẳng thắn. Và ở một góc độ nào đó, những góp ý thẳng thắn mang tính xây dựng (phê phán kèm theo giải pháp) cũng là một kênh tham khảo giúp cho các cơ quan chức năng làm việc tốt hơn.

Tuy nhiên, mạng xã hội cũng có mặt trái, ở đó là tràn lan các thông tin không được kiểm chứng, nhất là khi người ta nhằm vào cá nhân, vô tư lăng mạ, đay nghiến người khác, luôn đưa thông tin tiêu cực…

Việc bày tỏ ý kiến cá nhân là quyền của mỗi người, song điều tối kỵ khi nói về quan điểm cá nhân là chê bôi, xúc phạm người khác.

Dù ở bất kỳ thời đại nào thì lối hành xử như vậy cũng chỉ mang tính “bản năng”, hẳn nhiên không phải cách ứng xử của những người có văn hóa.

Không khó để nhận ra một xu hướng gần đây của cộng đồng mạng chính là phong trào “ném đá, quăng gạch” vô tội vạ vào bất kỳ ai nếu như họ có những quan điểm khác với suy nghĩ của số đông.

Gần đây nhất, câu chuyện “Lon bà Cục” và “Lu bà Nghị” đã trở thành trò chế giễu của cộng động sử dụng mạng xã hội.

“Lon bà Cục” là câu chuyện râm ran từ ngõ hẻm ra đến đường cái quan về lý giải của bà Ninh Thị Thu Hương, Cục trưởng Cục Văn hóa cơ sở Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, rằng chữ “lon” “nếu bị thêm dấu thêm mũ trong các quảng cáo ngoài trời sẽ rất khủng khiếp”.

Còn “Lu bà Nghị” là câu chuyện vị Đại biểu Hội đồng nhân dân (đơn vị quận Gò Vấp) Thành phố Hồ Chí Minh Phan Thị Hồng Xuân nêu sáng kiến trang bị cho mỗi gia đình chiếc lu to chứa nước mưa để chống ngập cho thành phố.

Những phát ngôn của bà Cục trưởng hay vị Đại biểu Hội đồng nhân dân Thành phố có lẽ “khác thường” nên đã nhận rất nhiều phản ứng từ dư luận xã hội, trong số ấy có vô vàn lời lẽ chửi rủa thậm tệ.

Người ta cũng có lý khi nói rằng người dân có thể kém hiểu biết thì nói chưa chuẩn có thể hiểu được, còn cán bộ nhà nước có vị trí như thế mà phát ngôn “ngây thơ” không được chấp nhận. Và, ở nhiều quốc gia, sau khi “lỡ lời” thì thậm chí những vị này còn nhanh chóng từ chức.

Nhưng dẫu sao thì việc chỉ trích, thóa mạ người khác một cách thậm tệ trên mạng xã hội hoặc bằng bất cứ hình thức nào thì cũng là việc không nên. Bày tỏ ý kiến, quan điểm trái chiều cũng nên thể hiện một cách văn minh, còn chỉ nói cho sướng miệng mà không góp phần làm cho xã hội tốt lên thì cũng chỉ vô nghĩa.

Trước các ý kiến và đề xuất về “Lon” và “Lu” của các bà là những cuộc tranh luận không hồi kết về cải cách chữ viết của Giáo sư Bùi Hiền và Giáo sư Hồ Ngọc Đại hay cả vụ án có nhiều ý kiến trái chiều như vụ Nữ sinh giao gà ở Điện Biên, hay một vài biểu hiện tiêu cực của nền giáo dục Việt Nam, một số hình ảnh liên quan đến lực lượng Công an…

Việc phản biện những câu chuyện này sẽ không có gì đáng nói nếu những phản biện có tính văn hóa, có luận cứ, luận chứng chứng minh những cái chưa hợp lý và đưa ra những giải pháp mang tính góp ý cho vấn đề.

Tuy nhiên, thật tiếc là thay vì việc tranh luận có văn hóa, có tri thức thì một bộ phận không nhỏ người dùng mạng xã hội thích ném đá, mạt sát hơn là góp ý.

Việc “Cái Lon của bà Cục” và “Cái Lu của bà Nghị” đã chuyển thành những thứ chế giễu và tung ra những thứ rác văn hóa trên mạng xã hội, biến thành trò cười cả hang cùng ngõ hẻm, các nhà khoa  học cao tuổi như ông Hiền, ông Đại phải khốn khổ vì những lời mạt sát của thế hệ con cháu…

Những điều đó có đem lại kết quả gì không? Không gì cả! Tất cả chỉ làm những người đưa ra ý tưởng thêm tổn thương đau đớn.

Không một nhận ra hoặc cố tình không nhận ra rằng ý kiến đó là ý kiến cá nhân, có tính mới hay không, có áp dụng được vào thực tiễn hay không?

Được và chưa được như thế nào rất ít người đề cập đến vấn đề đó.

Văn hóa phản biện gần như đã bị giết chết trên diễn đàn của mạng xã hội.

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Lân Dũng (Ủy viên Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực) cho rằng: “Chúng ta đang sống trong thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0, mọi việc đang cần đổi mới tư duy, tôn trọng mọi sáng kiến, phát minh.

Chúng ta cần tôn trọng cái mới nếu nó hợp lý hơn, tiến bộ hơn cái cũ. Mạng xã hội là thành tựu của Cách mạng công nghiệp 4.0 nhưng cần tôn trọng nhau, không nên thoải mái “ném đá”, nhất là những chuyện mình không nắm vững.

Phản biện là rất cần thiết nhưng phản biện phải có văn hóa và mang tính xây dựng. Văn hóa phản biện là nói đúng sự thật, nói có lý, không phải “a dua” một cách tùy tiện…”[2]

Nói về nguyên nhân việc thiếu văn hóa phản biện hiện nay, Phó giáo sư Bùi Hoài Sơn, Viện trưởng Văn hoá nghệ thuật quốc gia cho rằng: “…Theo một số cuộc điều tra xã hội học, người Việt Nam đến thư viện đọc sách, học tập, nghiên cứu vì say mê khoa học không nhiều mà chủ yếu phục vụ thi cử hay hoàn thành một chứng chỉ, bằng cấp nào đó.

Vì thế trong nghiên cứu, học tập người Việt nặng về giáo điều, sao chép và học thuộc lý thuyết có sẵn.

“Lối học tầm chương, trích cú đó trói buộc những sáng kiến của con người, kìm hãm lối tư duy phản biện, dẫn tới thiếu tự tin, không dám vượt bỏ quá khứ”. [2]

Có lẽ do vậy nên việc hình thành văn hóa phản biện của đa phần người Việt bị hạn chế rất nhiều. Chưa muốn nói là không có như hiện nay.

Nói về văn hóa phản biện, tại hội nghị Tổng kết năm học 2017-2018 và triển khai năm học 2018-2019 của ngành giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Thiện Nhân, Bí thư thành ủy đã nêu quan niệm: “Bản chất của tranh luận, phản biện chính là khoa học tìm tòi cái mới, cái tiên tiến, cái tốt hơn. Xây dựng “thói quen được hỏi, được giải đáp và được đề nghị làm khác đi” có nghĩa là cần có sự sáng tạo, phát triển nhưng vẫn giữ được “tôn sư trọng đạo”, thầy cô vẫn được tôn trọng, giữ gìn đạo lý truyền thống dân tộc”.[3]

Chính người lớn, những người thường xuyên sử dụng mạng xã hội hàng ngày cũng kêu gào đòi hỏi phải có tính phản biện trong trường học, trong giáo dục và trong đời sống hàng ngày.

Tuy nhiên, thực tế rất ít bài viết, ý kiến có tính phản biện được nêu lên từ trên các phương tiện thông tin chính thống đến mạng xã hội.

Chúng ta muốn xây dựng, muốn tìm tòi cái mới thì tất phải xây dựng văn hóa phản biện nếu không cái mới, cái tiến bộ có thể chết ngay từ khi là ý tưởng ban đầu.

Sự thiếu văn hóa trong phản biện và bằng những hành động ném đá, mạt sát người khác có lẽ để thỏa mãn dục vọng nào đó của bản thân người ném đá mà thôi.

* Tài liệu tham khảo:

[1] //baoquocte.vn/gs-nguyen-lan-dung-phan-bien-phai-co-van-hoa-77899.html

[2] //vnexpress.net/thoi-su/vien-truong-van-hoa-nguoi-viet-qua-tin-vao-may-rui-3895502.html

[3] //www.dangcongsan.vn/khoa-giao/xay-dung-van-hoa-tranh-luan-phan-bien-494028.html

Trần Phương

 

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Bảy 17, 2019

20190717. NGHĨ VỀ 230 NĂM CÁCH MẠNG PHÁP 14/7/1789

ĐIỂM BÁO MẠNG

NƯỚC PHÁP MỘT LẦN TÔI ĐÃ GẶP

LÊ PHÚ KHẢI / BVN 13-7-2019

Anonymous - Prise de la Bastille.jpg

Đột chiếm ngục Bastille

Cách mạng Pháp được xem là cuộc cách mạng triệt để, tiêu biểu nhất mà các cuộc cách mạng tư sản trước đó ở Anh, ở Hà Lan chưa làm được. Vua Louis 16 và hoàng hậu Marie Antoinette bị cách mạng chặt đầu. Nó xoá bỏ triệt để các đặc quyền đặc lợi của phong kiến. Quần chúng nổi dậy ở Paris đã phá ngục Bastille ngày 14.7.1789, giết chết tên chỉ huy Launay – người ra lệnh bắn vào quần chúng đi phá ngục. Đầu của Launay bị xóc vào ngọn giáo mang đi diễu hành trên đường phố. Ngày 14.7 trở thành ngày Quốc khánh Pháp. Cách mạng 1789 từ đó trở thành trung tâm của lịch sử thế giới hiện đại. Khẩu hiệu “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” (Liberté – Égalité – Fraternité) của Cách mạng 1789 đã in đậm trên bầu trời nhân loại… Chính vì thế mà Marx đã gọi Cách mạng Pháp là “đầu tàu của lịch sử”.

Loài người ghi nhận công lao vĩ đại của Cách mạng Pháp còn ở chỗ, nó lần đầu tiên trong lịch sử, đã dõng dạc tuyên ngôn về Quyền Con người. Ngày 26.8.1789, bản Tuyên ngôn về các Quyền Con người và các Quyền Công dân gồm 17 điều được chính thức thông qua.

Tuyên ngôn Quyền Con người và Quyền Công dân của Cách mạng Pháp đã toả sáng thế giới suốt hơn 2 thế kỷ qua và mãi mãi tỏa sáng trong lịch sử loài người. Lý do có nhiều, nhưng như một sử gia đã nhận định, chủ yếu là do “tính chất phổ biến tuyệt đối của nó, do cách lập luận thuần tuý lý trí của nó, do cái giọng nói lên những chân lý tuyệt đối của nó”.

230 năm đã đi qua, chúng ta hãy dành ít phút để đọc lại những dòng mở đầu trịnh trọng của bản tuyên ngôn lịch sử này: “Các đại biểu của nhân dân Pháp họp thành Quốc hội, cho rằng việc không biết tới, sự lãng quên hay sự coi thường các quyền của Con người là những nguyên nhân gây ra những đau khổ chung thân và sự hư hỏng của những kẻ cầm quyền, vì thế đã quyết định trình bày các quyền tự nhiên thiêng liêng và không thể tước bỏ được của Con người”.

Nước Pháp đến giữa thế kỷ 18 là nước đông dân nhất Châu Âu với 24 triệu thần dân. Tuy nông nghiệp vẫn lạc hậu, nhưng công thương nghiệp Pháp phát triển với công nghệ dệt, khai khoáng và luyện kim, trong các xí nghiệp máy móc được sử dụng rộng rãi, tập trung hàng ngàn công nhân, giao thương buôn bán được mở mang, đồng tiền vàng của Pháp lúc đó lưu hành khắp Châu Âu. Xã hội Pháp phân chia rõ rệt. Phong kiến quý tộc và tăng lữ chiếm địa vị thống trị với rất nhiều đặc quyền đặc lợi. Tầng lớp thứ ba bao gồm nông dân, thợ thuyền và tư sản bất mãn sâu sắc với giới quý tộc và tăng lữ. Vua Louis 16 ăn chơi xa xỉ đến mức phải vay nợ của các chủ ngân hàng để trang trải cho ngân khố. Đúng như sử gia Pháp Albert Mathier (1874-1932) đã phân tích: “Cách mạng 1789 đã bùng nổ ra không phải trong một đất nước khánh kiệt, mà trái lại, nó bùng nổ trong một đất nước đang phồn vinh, đang trên đà phát triển mạnh mẽ”.

Cách mạng 1789 đã diễn ra với những thăng trầm đầy kịch tính và đẫm máu. Và nó còn “kỳ lạ” nữa! Hàng ngàn ca khúc cách mạng đã ra đời trong những năm đó. Có đại biểu Quốc hội lên diễn đàn chỉ hát thật hùng hồn, hừng hực… một bài ca rồi đi xuống!

Hơn nửa thế kỷ sau, cháu của Napoléon là Louis Bonaparte lên làm tổng thống, nhưng tên này lại muốn quay lại làm vua, và năm 1852 Louis Bonaparte đã đảo chính, khoác áo vua lên làm hoàng đế. Nền Cộng hoà thứ hai lại bị thay bằng đế chế II!

Nước Pháp có câu ngạn ngữ đầy ý nghĩa: “Những dân tộc may mắn không có lịch sử” (Les peuples heureux n’ont pas d’histoire). Có nghĩa là, không có địch họa, không có thiên tai, không có chiến tranh… các sử gia không có gì để viết (!), nhân dân sẽ được sống bình an. Nhưng nước Pháp lại là nước có “quá nhiều lịch sử”. Đến bây giờ các sử gia vẫn còn tranh cãi về Cách mạng Pháp 1789, về những thăng trầm và tàn sát đẫm máu liên tiếp của cuộc cách mạng này.

*

Nước Pháp một lần tôi đã gặp… để được nhìn tận mắt, nghe tận tai về cái đất nước đã sinh ra câu ngạn ngữ “Những dân tộc may mắn không có lịch sử!”.

… Từ bên đường bên kia, một người đàn ông trung niên khá đẹp trai đã lao sang bên này, nơi chúng tôi đang đứng. Anh ta cúi chào, vui vẻ nói chuyện với ông chú tôi một cách rất vồn vã, thân mật… rồi đưa chú tôi một tờ rơi lớn bằng bàn tay, có in hình anh ta ở mặt trước và chữ ở mặt sau. Tôi hỏi: Tay này thân với chú lắm sao!? Chú tôi cười và nói: Y đang tranh cử chức quận trưởng quận 19 này. Biết chú quen biết nhiều Việt kiều trong quận nên y tranh thủ vận động chú và Việt kiều bỏ phiếu cho y… Nói rồi ông chú tôi đưa cái “tờ rơi” cho tôi coi. Tôi ngắm chân dung y ở mặt trước rồi lật mặt sau đọc. Ngay dòng chữ in đậm trên cùng là một câu “khẩu hiệu” rất mùi mẫn: “Paris của tôi, đó là Quận 19” (Mon Paris, c’est le 19e). Dưới là tên y, François Asselineau được in đậm nhất. Bên dưới là “sơ yếu lý lịch” của Asselineau: 43 tuổi, sinh ra và luôn sống ở Paris, đã có vợ và 2 con. Từng học trường Quốc gia Hành chính về Thanh tra Tài chính. Hiện nay là Tổng giám đốc trong một tập đoàn địa phương…

François Asselineau – người tranh cử chức quận trưởng quận 19 Paris năm 2001

Thì ra là vậy, chức quận trưởng được tranh cử đến từng người dân trong quận ngay trên hè phố như vậy! Chú tôi còn cho hay, lúc này thị trưởng Paris cũng đang tái tranh cử chức thị trưởng. Ông này mới tổ chức một cuộc hoà nhạc, mời các nhạc công trứ danh ở Paris biểu diễn, bán vé lấy tiền để cứu trợ đồng bào bị lũ lụt ở Miền Trung Việt Nam (năm đó, 2001, Miền Trung Việt Nam đang có lụt lớn). Ông này cũng muốn tranh thủ cử tri Việt ở Paris.

Xem cái cách người Pháp tranh cử mà thấy hổ thẹn cho nền dân chủ “đảng cử dân bầu” của chế độ độc trị ở Việt Nam. Một chính thể luôn leo lẻo là “của dân, do dân và vì dân” nhưng nhân dân biến mất trong việc chọn lựa những người sắp tới sẽ cai trị mình! Một tay muốn được chức chủ tịch quận ở Việt Nam thì chỉ lo chạy chọt “các đồng chí trên thành uỷ là đủ”! Chưa bao giờ khái niệm nhân dân có trong đầu óc họ. Lúc tôi viết những dòng này, người ta cũng đang cơ cấu nhân sự cho đại hội 13 của đảng cầm quyền. Một nhúm người trên bộ máy cai trị ở chóp bu, đang “cơ cấu” những người sẽ là chủ tịch quốc hội, chủ tịch nước, thủ tướng chính phủ, bộ trưởng, bí thư tỉnh… để cai trị đất nước trong giai đoạn sắp tới. Nhân dân chỉ là, hay muốn là gì cũng được!!!

Năm 1789, lúc Cách mạng Pháp nổ ra, thì ở nước ta, cũng năm 1789 đó, người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ vừa đại thắng quân Thanh, sau đó vui mừng cưới công chúa Ngọc Hân xứ Bắc, rồi rút quân về Nam và tiếp tục làm vua. Chế độ phong kiến Việt Nam kéo dài đến cuối thế kỷ 19 thì quân xâm lược Pháp kéo vào, với pháo hạm và đại bác của nền công nghiệp Pháp, đã mau chóng chiếm được Việt Nam. Bọn thực dân tiếp tục duy trì chế độ phong kiến nửa thực dân ở Việt Nam cho đến đầu thế kỷ 20… và đó là mảnh đất màu mỡ để những người cộng sản Việt Nam rước chủ nghĩa Marx-Lenin độc đảng vào Việt Nam.

Lúc tôi đặt chân đến Paris thì năm trước, tổng bí thư Lê Khả Phiêu cũng mới đi thăm nước Pháp. Việt kiều ở Paris cho hay: cũng muốn xem mặt mũi ông vua nước mình thế nào, nhưng báo chí, truyền hình… ở Pháp không hề đưa một giọt tin tức, một tấm hình… Vì tổng thống Pháp chỉ tiếp các nguyên thủ quốc gia, có tư cách pháp nhân để ký kết các hiệp định kinh tế, văn hoá… Nếu tổng bí thư một đảng như ông Phiêu cũng được tổng thống tiếp thì thành một tiền lệ, sau này tổng bí thư một đảng ở các nước đa đảng sang Pháp cũng đòi tổng thống Pháp phải tiếp thì… chết (!). Năn nỉ mãi, tổng thống Pháp Jacques Chirac mới nể mặt bà Nguyễn Thị Bình (người đi đến gặp Jacques Chirac trước, để môi giới cho cuộc gặp) mà tiếp ông Phiêu. Người đi xe cùng bà Bình sau này kể lại rằng, đã đi được một quãng, bà Bình đòi quay về để xức nước hoa lên mu bàn tay. Bà Bình kể lại, khi bắt tay bà, tổng thống Pháp theo cách lịch sự của người Pháp đã cúi xuống hôn tay bà. Thế là mùi nước hoa đã… “góp phần” xúc tiến cho cuộc gặp.

Nhưng tổng thống Pháp chỉ tiếp xã giao ông Phiêu có 45 phút. Đó là trường hợp rất hy hữu tổng thống Pháp “tiếp xã giao” ai đó. Vì tổng thống đã tiếp, thì phải có chương trình nghị sự, có ký kết làm ăn buôn bán… Vậy mà báo chí trong nước đã làm rùm beng lên việc tổng thống Pháp tiếp tổng bí thư Lê Khả Phiêu!

212 năm sau ngày vua Quang Trung cưới công chúa Ngọc Hân và nhân dân Paris chặt đầu cả vua Louis và hoàng hậu Marie Antoinette, tôi đã gặp một nước Pháp hiện thân của tự do và dân chủ để nghĩ về đất nước của mình – hiện thân của một quốc gia đã sống ngoài nhân loại cả ngàn năm mà vẫn không chịu thay đổi!

Trưa ngày 19.2.2001, kênh 1 đài vô tuyến truyền hình Pháp đã dành cả chương trình thời sự một tiếng đồng hồ để nói về Charles Trenet. Dân Pháp không thể tin rằng, nhà soạn nhạc kiêm ca sỹ có hơn 50 năm gắn bó với đời sống tâm hồn của dân Pháp như Trenet lại từ bỏ nước Pháp ra đi vào những tháng năm đầu của thế kỷ mới! Sẽ thiếu vắng Trenet ở tất cả các nẻo đường vui sống của nước Pháp! Chất lượng cuộc sống sẽ giảm sút nếu thiếu vắng những nhạc phẩm, những giọng ca, những ánh mắt… như Trenet. Ông là một nghệ sĩ như thế, một con người cần cho sự song hành giữa thực và mơ của đời sống Pháp. Tổng thống Cộng hoà Pháp Jacques Chirac đã xuất hiện trên chương trình này để chia buồn với nhân dân Pháp. Phát biểu trên nhật báo Le Monde, kịch sỹ kiêm ca sỹ trứ danh Serge Hureau cho rằng sự ra đi của Trenet “nhắc nhở chúng ta rằng, người nghệ sỹ đó thuộc về ký ức tập thể của chúng ta, không nhất thiết như một lâu đài, mà như quán cà-phê góc phố”.

Hơn 50 năm lao động nghệ thuật, Trenet có một gia tài âm nhạc đồ sộ với trên 1000 bài hát, mà như Đài phát thanh quốc gia Pháp thì “một nửa số đó là ăn khách”. Thính giả Pháp cho rằng Trenet có đến 20 bài ca bất hủ đã “đi vòng quanh trái đất”! Riêng bài “Tình ta còn gì?” (Que reste-t-il de nos amours), người ta thống kê được có 2000 ca sỹ thành danh đã ca bài đó. Bài “Biển” (Le mer) đã được “tái bản” đến 4000 lần và hàng năm tác giả của nó được hưởng tới 3 triệu francs tiền bản quyền. Trenet được thính giả Mỹ xem là ca sỹ tình ca của họ khi các bài ca của ông được trình diễn bằng tiếng Anh tại Mỹ. Tác giả bài viết này đã theo dõi trọn vẹn chương trình thời sự trưa ngày 19.2.2001 của truyền hình Pháp và được thấy lần lượt một bà lão 90 tuổi trong một trại dưỡng lão tại một làng quê hẻo lánh, rồi đến một anh lính thuỷ trẻ trên boong tàu ngoài khơi xa phát biểu cảm tưởng của mình và sau đó, hát ngay một ca khúc của Trenet để tưởng niệm người nghệ sỹ này. Và thật bất ngờ, trên màn ảnh nhỏ xuất hiện một người dân Hà Nội vừa ngồi trên xe xích-lô chạy trên đường phố vừa ca bài Le mer của Trenet.

Người Pháp yêu quý Trenet vì ông vừa là nhà soạn nhạc, vừa là thi sỹ đặt lời, vừa là một ca sỹ có giọng ca mượt mà truyền cảm. Người Pháp coi trọng Trenet vì ông là nhà cách tân âm nhạc Pháp. Vào những năm 30 của thế kỷ 20, Trenet đã kết hợp tính chất ca nhạc kịch của nhạc jazz với nhạc kịch khiến cho ca khúc Pháp có tính hài hước nhưng không sống sượng, dí dỏm mà lại có duyên. Lòng yêu nước sâu đậm của ông thấm đẫm trong từng cung bậc của mỗi một âm thanh. Vì thế, nhạc của Trenet đã “chia sẻ một chút niềm vui cho bao cuộc đời tro bụi” (lời một bài ca của Trenet). Người Pháp nào cũng muốn soi lên ánh mặt trời để tìm xem trong các bản nhạc của ông có cái gì khiến nó giản dị mà hay đến thế. Và cuối cùng họ đã tìm thấy chính mình, chính nhân dân Pháp cần lao, yêu chuộng hoà bình, tự do và công lý. Bài ca “Nước Pháp dịu hiền” (Douce France) của Trenet đã viết thay cho hàng triệu trái tim Pháp:

Nước Pháp dịu hiền

Quê hương yêu dấu

Thời thơ ấu vô tư êm ả của tôi…

Có điều lạ lùng là, Trenet viết liên tục và viết rất nhanh trong mọi hoàn cảnh. Bài Le mer bất hủ chỉ được viết trong 4 phút! Trong những ngày lâm bệnh nặng, Trenet nói: Tôi mơ ước những mái nhà tranh, không ngờ tôi đã xây dựng được những lâu đài!

Tối hôm sau, chương trình ca nhạc của Đài phát thanh Pháp có một chương trình của nhạc sỹ Trần Tiến (Việt Nam) để tưởng niệm Trenet. Có lẽ người Pháp đánh giá cao Trần Tiến.

Một nghệ sỹ lớn như vậy của nước Pháp, vậy mà khi tôi viết một bài về Trenet, vội đến cơ quan thường trú của Đài Tiếng nói Việt Nam tại Paris để kịp gửi về Hà Nội, thì đã nhận được một câu trả lời quá bất ngờ: Một ca sỹ chết thì có gì mà phải đưa tin!

Thì ra, cái văn hoá độc trị, độc tài đã thấm sâu vào từng đường gân thớ thịt, từng tế bào của các đồng nghiệp của tôi! Với họ, chỉ có các lãnh tụ, các nhà lãnh đạo, những người có quyền chức chết đi thì báo đài mới đưa tin, mới tụng ca “tài đức” của họ! Đặt cơ quan thường trú ở Paris, nhưng Đài của tôi không hiểu rằng, nhân dân Pháp đã chọn khẩu hiệu vui sống (joie de vivre) và chất lượng cuộc sống (qualité de la vie) cho hành trình đi đến tương lai của mình. Vì thế, những người làm cho nhân dân vui sống như Trenet là thần tượng của họ, chứ không phải các “ông lớn” như ở Việt Nam.

Ở Pháp hơn một tháng, tôi ít đi đâu, chỉ ngồi nhà xem truyền hình và lướt xem các báo Pháp để tìm hiểu về truyền thông của nước “tư bản giẫy chết” này. Trình độ tiếng Pháp của tôi enfantin, nhưng được ông chú hỗ trợ nên cũng đủ để tìm hiểu về truyền thông ở Pháp. Hồi đó có dịch gia súc bị lở mồm long móng, ông bộ truởng nông nghiệp Pháp phải lên truyền hình liên tục nên tôi nhớ mặt ông ta. Một lần thấy ông bộ trưởng này xuất hiện trên truyền hình và xách túi đi… chợ. Ông hỏi mua trứng rồi cãi qua cãi lại với người bán hàng, cuối cùng ông bị bà bán hàng vác chổi đuổi đánh, các bà khác cũng đuổi theo đánh… Tôi lạ quá nên hỏi ông chú tôi. Ông cười nói, đó là tiểu phẩm cháu ạ! Một diễn viên được hoá trang như ngài bộ trưởng nông nghiệp để diễn, các bộ trưởng khác của Pháp cũng từng được hoá trang như thế và được lên truyền hình khi có vấn đề gì đó cần hài hước, phê phán.

Sau hơn 200 năm Cách mạng Pháp 1789, nhân dân Pháp đã thực sự là “ông chủ” và sẵn sàng “đuổi đánh” những tên “đầy tớ” như bộ trưởng nông nghiệp… Trên các tờ báo Pháp rất ít khi thấy ảnh các vị như tổng thống, thủ tướng, bộ trưởng… Ngay trang nhất, dưới “tít” của một tờ báo lớn như Le Monde, chạy một tin lớn: “Les fumeurs de cannabis pourront désormais échapper au tribunal” (tạm dịch: Những người hút dầu gai có thể từ nay thoát khỏi toà án). Dầu gai là một thứ gây nghiện, vậy mà những người hút nó có thể sẽ không phải hầu toà!

Trang nhất báo Le Monde với dòng tin in đậm “Les fumeurs…” dưới “tít” báo

Tin như thế mà đưa ngay trang nhất, vì báo chí Pháp là “của dân”, “do dân”, “vì dân”. Còn báo chí của chế độ độc tài đảng trị ở Việt Nam thì trang nhất thường dày đặc hình ảnh của các quan lớn bé. Nơi ông tổng bí thư chỉ đạo, ông thủ tướng chém gió, bà chủ tịch quốc hội biểu diễn thời trang áo dài!!! Việt Nam vẫn sống ngoài nhân loại ở mọi lĩnh vực, nó không có trong Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp hơn 200 năm trước!

Thấy tôi chỉ ngồi nhà xem truyền hình, xem báo, không mấy khi đi đâu cả, bà thím tôi nói: Ai đến Paris cũng lao đi xem tháp Eiffel, bảo tàng Louvres, nhà thờ Đức Bà… Sao cậu cứ ngồi nhà? Tôi trả lời: Nếu đến Paris mà chỉ thăm các nơi đó thì họ chưa hiểu hết nước Pháp. Bà ngạc nhiên: Vậy phải đến đâu? Tôi nói: Phải đi trên cầu Concorde, vì nó là cây cầu được xây bằng đá ngục Bastille. Khi nhân dân Paris phá ngục Bastille trong Cách mạng 1789, đã không quên lấy đá của ngục tù này để xây dựng cây cầu mang tên Hoà giải (Concorde). Chỉ có nhân dân Pháp với khát vọng là “hiện thân của tự do” mới có những cây cầu như thế, để muôn đời Tự do đạp lên bóng tối của ngục tù!

*

… Chúng tôi đi qua một nhà thờ đổ nát, hàng đàn bồ câu bay ào lên khi có người đi qua cái nhà thờ hoang này. Tôi ngạc nhiên, vì sao ngay giữa phố phường đông vui, lại có một căn nhà ngay mặt tiền đổ nát mà không được “xử lý”?! Chú tôi giải thích: Đây là nhà thờ của một ông cố đạo đã già. Thành phố đã điều đình để mua lại của vị tu hành này với giá cực đắt, nhưng ông ấy không đồng ý. Phải đợi khi nào ông ấy qua đời mới xây dựng lại được. Theo luật pháp của Cộng hoà Pháp, đất đai là sở hữu tư nhân, không ai có quyền xâm phạm.

Ở Việt Nam, luật pháp quy định đất đai là sở hữu toàn dân, nên nhà thơ Nguyễn Duy gần đây mới viết:

Cướp xưa băng nhóm làng nhàng

Cướp nay có Đảng có Đoàn hẳn hoi

Có con dấu đóng đỏ tươi

Có còng, có súng, dùi cui, nhà tù…

Ai về thành phố Bác Hồ

Mà xem cướp đất bên bờ Thủ Thiêm

Bây giờ mẹ phải dặn thêm

Quan tham là cướp cả đêm lẫn ngày!

Tôi đã “gặp” nước Pháp như thế, nên cùng với loài người tiến bộ nín thở theo dõi cuộc bầu cử tổng thống Pháp ở vòng chung kết 2017 chỉ còn có hai nhân vật. Một bên là người đàn bà (Marie Le Pen) “chua ngoa, lắm điều, lỗ mãng”, theo chủ nghĩa dân tộc quá khích, bài ngoại, phản đối nhập cư, phản đối tự do thương mại… Một bên là người đàn ông mới bước chân vào chính trường (Emmanuel Macron) “mang thông điệp nhân văn cho toàn thế giới”, chống kỳ thị một cách không khoan nhượng, sống với thời đại toàn cầu. Không nín thở sao được, khi nước Pháp vừa bị khủng bố ở State de France, ở nhà thờ Bataclan, trước đó 17 người đã chết ở toà soạn báo Charlie Hebdo chỉ vì tội… châm biếm! Vì thế, tại vòng một cuộc tranh cử (23.4), 50% cử tri Pháp đã ủng hộ phe hữu. Nước Pháp đang chia rẽ lớn trong ngày đi bầu cử người bẻ lái “con tàu lịch sử” (Marx). Có nhìn thẳng vào sự thật như thế mới thấy hết ý nghĩa mà ngày 7.5.2017, người đàn ông 39 tuổi có tên là Macron đã dũng cảm “đi trên cầu Concorde” để … đến thẳng điện Élyseé.

2018-2019. Macron đã cải cách “quá trớn”, động chạm đến quyền lợi của dân khi tăng thuế nhiên liệu. Nghệ sĩ accordion Mouraud đã châm ngòi cho giới tài xế Pháp, những người mặc áo vàng khi cần sửa chữa xe trên đường, nổi lên biểu tình. Phe hữu cực đoan cùng với phe tả cực đoan đã dấy lên cuộc biểu tình của những người áo vàng (gilets jaune), thế là bọn du côn đã nhảy vào khống chế cuộc biểu tình, hàng chục doanh nghiệp bị đập phá, xe bị đốt…

Nền kinh tế đứng thứ sáu thế giới, thứ ba Châu Âu ấy lại một phen chao đảo! Những thế lực độc tài trên thế giới hí hửng. Nhưng họ không biết rằng, điều 35 của Hiến pháp 1793 Cách mạng Pháp đã quy định “quyền khởi nghĩa của nhân dân”. Nhân dân có quyền nổi dậy một khi chính quyền do chính nhân dân bầu ra lại đi ngược nguyện vọng của nhân dân. Nước Pháp là như thế! Chỉ có người Pháp mới hiểu được, mới nhuần nhuyễn quyền công dân được khởi nghĩa ghi trong Tuyên ngôn của Cách mạng 1789. Chính quyền chỉ là “đầy tớ” của nhân dân, và nhân dân luôn thường trực quyền trừng phạt chính quyền. Không hiểu điều này, người ta luôn luôn ngạc nhiên về nước Pháp. Nhưng chính giới tinh hoa của Pháp đã đứng ra “dàn xếp” để lấy lại yên bình cho nước Pháp. Hàng trăm phụ nữ Pháp đã biểu tình ôn hoà, họ đã quỳ xuống đường để mặc niệm cho 10 người đã chết trong các cuộc đụng độ…

L.P.K.

Tác giả gửi BVN

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Bảy 16, 2019

20190716. BÀN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

ĐIỂM BÁO MẠNG

TẠI SAO BIẾT ĐÚNG MÀ KHÔNG LÀM ?

NGUYỄN ĐÌNH CỐNG / BVN 11-7-2019

Kết quả hình ảnh cho phát triển bền vững

Đó là việc Bảo vệ môi trường, nằm trong kế hoạch Phát triển bền vững( PTBV).

Từ giữa thế kỷ 20 nhiều nhà khoa học đã phát hoảng và cảnh báo nạn “Tài nguyên cạn kiệt, môi trường bị hủy hoại”. Nhân loại đứng trước nguy cơ tự diệt vong.

Năm 1987 bà Gro Harlem Brundtland đã đọc báo cáo có tên: “Tương lai chung của chúng ta”, với luận điểm quan trọng, là phát triển hôm nay phải quan tâm đến  tương lai. Gọi tắt là PTBV. Báo cáo đã lôi cuốn sự quan tâm của đa số nhân loại.

Từ đó gần như toàn bộ Thế giới nghiên cứu và thực hành PTBV, nghĩa là khi làm kinh tế thì việc đầu tiên phải nghĩ đến, phải thực hành cho bằng được là Bảo vệ môi trường, giữ được nguồn vốn. Việc đó là vô cùng quan trọng, cần thiết không những cho bây giờ mà chủ yếu cho mai sau.

Tuy vậy có  một vài nước vẫn theo cách “ăn xổi ở thì”, phát triển kinh tế bằng mọi giá, phá nát tài nguyên, hủy hoại và làm nhiễm độc môi trường, tập trung làm giàu cho một số nhóm lợi ích, còn quốc gia thì nợ nần ngập đầu, để lại tai họa khủng khiếp cho hậu thế. Việt Nam là một trong vài nước đứng ở hàng đầu như vậy.

Tại sao lại như thế ? Phải chăng chúng ta không biết đến PTBV. Không phải không biết. Chúng ta biết nhiều, nói nhiều, viết nhiều  về PTBV. Trong nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ đều viết về PTBV. Trong phát biểu của Thủ tướng vẫn nói đến PTBV. Nói nhiều, viết hay, nhưng không làm hoặc làm ngược lại.

Không làm là do không muốn, không thể hay còn lý do nào khác. Điều này được xét trên hai cấp độ: của từng người dân và của cả đất nước. Với từng người dân thì đó là thói ích kỷ của một số kẻ tạo ra sự hủy diệt cục bộ của môi trường. Với quốc gia, phải chăng là do đặc điểm vừa ngu vừa tham của thế lực độc quyền thống trị.

Ông bạn tôi, GS Ngô thì quy kết cho là tại chuyên chính vô sản (CCVS). Thì chính  CCVS, dựa trên liên minh công nông và chủ nghĩa Mác Lê mới đẻ ra độc quyền của thống trị vừa ngu vừa tham. Cũng chính vì CCVS mà tinh hoa của dân tộc, những người muốn làm, biết làm đã bị Quy hoạch cán bộ của Đảng loại bỏ.

Biết được, nhưng không làm vì nếu làm thì sẽ mang lại lợi ích cho ai, lúc nào chưa biết, nhưng chắc chắn sẽ làm chậm và giảm lợi ích trước mắt của tập đoàn thống trị. Lấy thí dụ, nếu làm một cơ sở sản xuất mà bảo vệ nghiêm ngặt môi trường thì thống trị không tham nhũng được, chỉ có thể thu được lợi A sau nhiều năm. Nhưng nếu vì tham nhũng (TN) rồi để cho sản xuất bất chấp môi trường thì các nhóm lợi ích thuộc thống trị sẽ thu được hàng trăm, hàng ngàn vạn  A chỉ trong nháy mắt.

Nhưng tại sao bọn thống trị độc tài lại quá quan tâm đến lợi ích trước mắt của chúng mà bất chấp tác hại lâu dài đến đất nước? Vì bọn chúng duy trì sự thống trị dựa vào dối trá và đàn áp. Những việc đó chỉ có thể thực hiện trong thời gian ngắn, Thế nào rồi chúng cũng sẽ tự sụp đổ hoặc bị đánh đổ. Phải nhanh chóng vơ vét bằng mọi biện pháp, mà chủ yếu là TN.

CCVS tất yếu đẻ ra TN mà lớn nhất, nguy hại nhất là TN quyền lực. Trong TN quyền lực thì xếp hàng đầu là điều 4 HP và quyền quyết định  tuyệt đối về cán bộ, một loại quyền phản dân chủ, phản tiến bộ, phản khoa học.

Các nhà lý luận của Đảng cho rằng nguyên nhân của tham nhũng là sự thoái hóa biến chất về đạo đức của một số cán bộ, đảng viên. Điều này không sai nhưng chưa đúng. Hỏi, ở đâu sinh ra và nuôi dưỡng bọn thoái hóa ấy. Rõ ràng chúng hàng giờ, hàng phút sinh ra từ CCVS. Vừa bắt được một thằng bỏ lò thì hai ba thằng khác đã sinh ra và lớn dần. Đảng hy vọng các Nghị quyết về làm trong sạch, kỷ luật và nêu gương sẽ khắc phục được tai họa, nhưng các Nghị quyết như vậy chẳng có tác dụng gì đáng kể.

Hiện nay Đảng đang chuẩn bị Đại hội XIII. Lại thi nhau viết và thảo luận báo cáo chính trị ở các cấp. Lại nêu ra các chỉ tiêu và biện pháp về PTBV, nhưng rồi tất cả chỉ là trò đùa khi mà Đảng vẫn kiên trì chủ nghĩa Mác Lê, khi mà vẫn củng cố CCVS, củng cố sự độc quyền, nơi sinh ra đủ loại tham nhũng.

Ở ĐH XIII này, nếu Đảng không tìm ra được các biện pháp hữu hiệu để PTBV, vẫn tìm mọi thủ đoạn để lừa dối và đàn áp thì không tránh được nhận xét của Nguyên Ngọc là phản nước hại dân. Nhưng khi mà Đảng chỉ dựa vào đội ngũ cán bộ và trí thức của mình thì chắc chắn sẽ không tìm ra được sự thật. Vì sao vậy? Vì bọn họ chủ yếu là tầng lớp hữu danh vô thực, lại bị ý thức hệ khống chế, chỉ có trình độ nhắc lại như sáo vẹt những điều tầm thường.

Nếu Đảng thật sự muốn đất nước PTBV thì phải xóa bỏ thành kiến, không xem những người phản biện là thế lực thù địch mà là thuộc thành phần tinh hoa của đất nước để đối thoại vợi họ, cùng họ thảo luận để tìm ra sự thật vốn bị ẩn giấu dưới một lớp vỏ khô cứng.

N.Đ.C.

Tác giả gửi BVN

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Bảy 15, 2019

20190715. BỆNH ‘SÙNG BÁI CÁ NHÂN’ Ở VIỆT NAM

ĐIỂM BÁO MẠNG

TƯ TƯỞNG NÔ BỘC HAY BỆNH ‘SÙNG BÁI CÁ NHÂN’ CỦA NGƯỜI VIỆT (NHÌN TỪ TRƯỜNG HỢP SÙNG BÁI  ÔNG NGUYỄN PHÚ TRỌNG)

QUÁCH HẠO NHIÊN  / viet-studies 12-7-2019

Ông Nguyễn Phú Trọng

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Việt Nam, ông Nguyễn Phú Trọng trong một hình ảnh được truyền thông Việt Nam công bố hôm 21/6/2019 ở Hà Nội

  1. Thể chế độc Đảng, chính quyền độc tài – mảnh đất màu mỡ nuôi dưỡng tư tưởng nô bộc và “bệnh sùng bái cá nhân” của đám đông dân chúng

Trong cuộc sống, việc một cá nhân này thể hiện sự yêu mến, kính trọng hay hâm mộ, thần tượng với cá nhân khác (có tài năng và phẩm hạnh) là chuyện rất bình thường, chẳng có gì đáng bàn. Tuy nhiên, yêu mến, hâm mộ đến mức “thần thánh hóa”, “huyền thoại hóa” thậm chí “đội lên đầu”, để lên bàn thờ gia tiên hoặc “dựng tượng đài”, “xây bảo tàng” lưu niệm … thì không những là sự bệnh hoạn mà đằng sau đó chắc chắn là một âm mưu, một “động cơ không trong sáng”. Nói cách khác, khi ta bắt đầu có suy nghĩ “thần thánh hóa”, “huyền thoại hóa” một cá nhân nào đó – vốn cũng là người trần mắt thịt như ta – dù với lý do gì cũng đồng nghĩa với việc đang tự lừa dối chính mình và lừa dối người khác. Ở giác độ văn hóa, đây chính là nguyên nhân làm khởi phát cho cái bi kịch chung của xã hội – bi kịch về sự “vô minh” hay “cuồng tín”, “mù quáng” của dân chúng (vì thiếu bản lĩnh và không có niềm tin vào bản thân nên lúc nào cũng dựa dẫm vào người khác). Một xã hội mà mỗi cá nhân không có niềm tin với bản thân là một xã hội không có hy vọng, hoặc không, cũng là đang tiềm ẩn những mối nguy hiểm (một khi xã hội bắt đầu xuất hiện những tiếng nói khác). Hay nói khác đi, đó là xã hội đang chết dần chết mòn vì cái tâm lý nô bộc do căn bệnh “sùng bái cá nhân” mà ra.

Lịch sử nhân loại cho thấy, bệnh “sùng bái cá nhân” diễn ra khắp mọi nơi, từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây… Tuy vậy, có lẽ trong thời “bốn chấm không” hôm nay, bệnh “sùng bái cá nhân” thường rất khó trị ở các quốc gia với thể chế chính trị nhất nguyên, nền cai trị độc tài và trước đó thường có một nền chính trị quân chủ chuyên chế kéo dài…Vì hơn ai hết để có thể duy trì sự độc tài, độc tôn của mình, chính quyền nhà nước ở các quốc gia này buộc phải dùng mọi chiêu trò và thủ đoạn chính trị để “phong thánh” cho các “lãnh tụ vĩ đại”, “lãnh tụ kính yêu” thông qua vô số những câu chuyện mang màu sắc của sự kỳ bí, ảo diệu, hoang đường nhằm đánh vào cái tâm thức “ngu trung”; sự tôn thờ “minh quân”, “minh chủ” vô điều kiện của đại bộ phận đám đông dân chúng, từ đó buộc họ phải phủ phục quỳ lạy và đời đời nhớ ơn…Trên thế giới hiện nay, không khó để nhận ra một số cá nhân được dân chúng “phong thánh” và sùng bái vô điều kiện như trường hợp: Fidel Castro – Cuba; Maduro – Venuezuela (trước đó là Hugo Chavez), Tập Cận Bình – Trung Quốc (trước đó là Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình…); Kim Jong Un – Bắc Hàn (trước đó là Kim Nhật Thành, Kim Jong –il)…

  1. Từ Hồ Chí Minh đến Nguyễn Phú Trọng

Lịch sử Việt Nam đến thời điểm này có thể nói Chủ tịch Hồ Chí Minh là người được “phong thánh” một cách bài bản và thường xuyên nhất. Công bằng và khách quan mà nói, xét trong những điều kiện và bối cảnh lịch sử cụ thể, với tầm vóc trí tuệ nhất là những gì đã làm được, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn rất xứng đáng được tôn vinh, tôn kính hay “phong thánh” từ dân chúng (dĩ nhiên là với điều kiện sự tôn kính này được diễn ra một cách tự nhiên chứ không phải dùng quyền lực chính trị để áp đặt). Vì xét ở giác độ văn hóa, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia muốn kế thừa và phát triển vẫn rất cần có những cá nhân với những phẩm chất và tài năng xuất chúng làm “điểm tựa” và tạo niềm tin để các cá nhân bình thường khác soi vào mà phấn đấu, vươn lên. Và nếu mọi chuyện diễn ra một cách tự nhiên như vậy, thì việc Chủ tịch Hồ Chí Minh được dân chúng hôm nay “phong thánh” như cách mà cha ông trước đó đã từng phong cho các bậc tiền hiền như: Nguyễn Trãi, Chu Văn An hay Đức Thánh Trần… thì kể ra cũng chẳng có gì quá đáng. Thế nhưng đáng tiếc thay, những người cộng sản, những người đồng chí đương thời với ông và nhất là những kẻ được xem là “học trò xuất sắc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cố tình không chịu hiểu điều này, ngày qua ngày họ tùy tiện thêu dệt, bịa chuyện về ông để một mặt lừa phỉnh dân chúng, mặt khác lại mang ông ra làm tấm bình phong để che đậy những quyết sách sai lầm, những việc làm hại dân, hại nước của họ. “Yêu nhau thì lại bằng mười hại nhau”, hậu quả là ở chiều ngược lại, Hồ Chí Minh vô tình trở thành đối tượng cho những người mang tư tưởng cực đoan công kích, bôi nhọ, dè bĩu, khinh thường… Một con người từng đi vào thơ ca với những niềm tin yêu trong sáng của dân chúng “mong manh áo vải hồn muôn trượng, hơn tượng đồng phơi những lối mòn” nhưng lại được/bị phong thánh và tùy tiện ghán ghép trong một bức tranh bên cạnh Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni (bởi những kẻ xuẩn ngốc và xu nịnh) từ đó, vô tình trở thành đề tài đàm tiếu cho “các thế lực thù địch” của “Đảng ta” thì thử hỏi có tệ hại và xót xa không?

Quan sát xã hội Việt Nam gần đây, có thể nói bệnh “sùng bái cá nhân” của người Việt hôm nay có vẻ ngày một trầm trọng và khó chữa trị hơn nữa. Và người đang được mọi tầng lớp xã hội hiện nay “phong thánh” và sùng bái không ai khác ơn là ông Tổng Bí Thư kiêm Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng. Câu nói “Người Đốt Lò Vĩ Đại” được giới truyền thông – bồi bút phát tán ra dân chúng đã nói lên tất cả điều này. Hay gần nhất là việc chính quyền cho xuất bản sách nhan đề “Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng  với tình cảm của nhân dân và bạn bè quốc tế” với những lời lẽ bốc thơm của ông Phạm Minh Chính – Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tổ chức trung ương: “cuốn sách là tư liệu quý của đảng viên, các tầng lớp nhân dân và tin tưởng rằng nó sẽ hỗ trợ cho khối đại đoàn kết và tình cảm giữa dân với Đảng, để “trên dưới một lòng đổi mới đất nước”  [1] đã cho thấy, với cái đà này rất có khả năng ông Nguyễn Phú Trọng rồi đây cũng sẽ trở thành “bậc vĩ nhân” hay “lãnh tụ xuất chúng” của dân tộc này; rồi đây ông sẽ được xây tượng đài, nhà mồ hay viện bảo tàng trên khắp dãy đất hình chữ S này sau khi tạ thế? Điều đó cũng có nghĩa, 96 triệu dân Việt Nam trong tương lai ngoài việc phải tôn thờ vô điều kiện “Bác Hồ – vị cha già dân tộc” thì Tổng Bí Thư, Chủ tịch Nguyễn Phú Trọng cũng sẽ là một tấm gương sáng ngời đầy tiềm năng cần đưa vào sử sách để các thế hệ cháu con học tập và noi theo…?

Thật lòng mà nói, kể từ khi ông Trọng trở thành người nắm quyền hành tuyệt đối ở đất nước này (và ngay cả khi ông bắt đầu khởi động chiến dịch “nhóm lò đốt củi” gần đây), nếu nhìn ở tầm vóc tư tưởng, trí tuệ trong vai trò của một chính khách đang dẫn dắt cả dân tộc cùng đi, bản thân tôi đã rất nhiều lần tự hỏi dân tộc này, đất nước này rồi sẽ đi về đâu mỗi khi nghe ông phát ra những câu vừa buồn cười, sáo rỗng và nhất là bất chấp hiện trạng nhiễu nhương, bộn bề của xã hội và đất nước hôm nay:“đất nước có bao giờ được như thế này không?”, “giáo dục nước nhà chưa bao giờ được như bây giờ?”; “cơ đồ dân tộc chưa bao giờ được như hôm nay?”…

Còn nói về sự đức độ, liêm khiết của ông ấy ư? Rất có thể so với những người khác, ông Trọng được đánh giá tốt hơn nhưng mà làm sao dân chúng kiểm chứng được điều này trong một cơ chế vốn bị bưng bít, hoặc không thì lại nửa kín nửa mở rất “tùy hứng lý qua cầu”!? Để có thể thăng tiến và ở trên ngôi cao quyền lực như hiện nay đương nhiên ai cũng biết trước đó ông buộc phải kinh qua rất nhiều vị trí, chức vụ ở cơ sở, địa phương và trung ương. Vậy thì làm cách nào để dân chúng kiểm tra giám sát đồng chí Nguyễn Phú Trọng  khi còn giữ các chức vụ như Chủ tịch Hội đồng Lý luận trung ương, Bí thư Thành ủy Hà Nội, Chủ tịch Quốc Hội…là trong sáng, liêm khiết hay không gây ra những hậu quả gì nghiêm trọng? Không phải những “đồng chí” mà ông Trọng đã và đang chuẩn bị “đưa vào lò” (hoặc bị cách hết các chức vụ trong Đảng) như: Đinh La Thăng, Trịnh Xuân Thanh, Trần Việt Tân, Bùi Xuân Thành, Nguyễn Văn Hiến, Phan Thị Mỹ Thanh, Nguyễn Xuân Anh, Vũ Huy Hoàng, Tất Thành Cang, Vũ Văn Ninh, …tất cả đều trải qua những vòng tuyển chọn, quy trình sàng lọc để quy hoạch, tuyển chọn rất bài bản và nghiêm ngặt của chính cái thể chế này đó sao? Thế nên, tôi phải nhắc lại rằng, việc ông Trọng quyết tâm chống tham nhũng để làm trong sạch bộ máy là điều cần ghi nhận và trân trọng, tuy nhiên, không nên vì chuyện này mà cố tình quên hoặc đánh đồng với việc, lẽ ra, trong vai trò là người nắm quyền lực tuyệt đối ông Trọng phải là người chịu trách nhiệm cao nhất khi để cho những thuộc cấp của mình vi phạm pháp luật, vi phạm điều lệ Đảng (đặc biệt tất cả những kẻ vi phạm đều là những Đảng viên, lãnh đạo cấp cao “thuộc diện Trung ương quản lý”).

Trong cái nhìn như vậy, một khi đã xác định “tham nhũng là quốc nạn”, là “giặc nội xâm” đang tàn phá đất nước này thì theo tôi đến thời điểm này ông Trọng vẫn đang nợ toàn thể quốc dân đồng bào một lời xin lỗi chân thành và nghiêm túc. Trước đây, khi để xảy ra những sai lầm trong vấn đề “cải cách ruộng đất”, Chủ tịch Hồ Chí Minh khi ấy đã phải đứng ra xin lỗi đồng bào miền Bắc (trước Quốc hội 1956), vậy mà giờ đây, việc chống tham nhũng của ông Trọng trên thực tế chẳng qua chỉ là chuyện “xử lý nội bộ trong Đảng” (cả nghĩa đen và nghĩa bóng của cụm từ này vì như ông Trọng từng nói chống tham nhũng là “ta tự đánh ta”) nhưng ông vẫn chưa một lần nào lên tiếng nhận lỗi trước người dân. Người ta nói rằng, chỉ riêng vụ án ở Thủ Thiêm thôi đã có không biết bao nhiêu người dân phải chịu cảnh tan nhà nát cửa, vợ chồng con cái ly tán, có người còn lê la chẳng khác gì ăn mày từ Sài Gòn ra Hà Nội để gõ cửa các cơ quan công quyền suốt 20 năm ròng. Thử hỏi trong 20 năm ấy, ông Trọng làm gì ở Hà Nội? Ông có nghe dư luận oán than về gia tộc Lê Thanh Hải ở Sài Gòn không? Ông có thấy những người dân oan đi khiếu kiện phải ăn bờ ngủ bụi không? Và hiện nay Thanh tra Chính phủ lại là nơi cửa quyền và tham nhũng người dân thêm một lần nữa, ông có biết không? Nếu các vị Thanh tra Chính phủ liêm khiết và chí công vô tư thì vụ Thủ Thiêm có kéo dài đến 20 năm như hôm nay không? Đừng ai nói với tôi là ông ấy bận trăm công nghìn việc nên không nghe, không thấy, không biết những chuyện này.

Từ đây, tôi cho rằng, dân chúng hôm nay đặc biệt là một số người được xem là tầng lớp trí thức, tinh hoa trong xã hội đang có những động thái tuyên truyền và thêu dệt để tung hô và “phong thánh” cho ông Trọng trong việc chống tham nhũng hiện nay thì đất nước này quả là đang đến hồi mạt vận rồi chăng? Thể chế này đã và đang đẻ ra một bầy sâu ăn tàn phá hại đất nước, ông Trọng một mặt cho người đi bắt sâu (theo kiểu nay bắt một con, mốt bắt một con…và không biết đến khi ông tạ thế đã bắt hết chưa) nhưng mặt khác lại đồng ý đặt bút ký “phê duyệt quy hoạch 184 nhân sự Trung ương khóa mới” để tiếp tục điều hành và duy trì cái thể chế này thì có khác gì đang tạo điều kiện cho những bầy sâu mới sinh sôi?

Đến đây, tôi thấy cần phải nhắc lại điều mà nhiều người đã nói, đất nước này, dân tộc này đã được hòa bình và thống nhất về mặt cương vực lãnh thổ hơn 40 năm rồi nhưng tại sao về mặt tư duy, tư tưởng cứ phải lệ thuộc và nhất là luôn phải bái vọng về phương Bắc? Cái “cơ đồ của dân tộc” hôm nay mà cha ông phải đổ máu xương để giành lại cho con cháu (như chính các vị thường xuyên nói) có lẽ nào lại là một đất nước Việt Nam mãi “không chịu phát triển” hay sao? Tôi hỏi thật ông Trọng và những trí thức đang tung hô và bốc thơm ông lên tận mây xanh có thấy đau lòng trước hiện tình đất nước và con người Việt Nam hôm nay không? Tôi rất mong và hy vọng các vị hãy chân thành và trung thực đối diện với lương tâm mình một lần thôi trước khi trả lời câu hỏi trên để cái lưỡi không xương của các vị sau này không bị hóa thạch, còn có cơ may được tan vào đất. Còn hiện tại, với riêng tôi, tuy ông Trọng đang tổ chức bắt một vài con sâu nhưng cũng chính ông đã và đang nuôi dưỡng rất nhiều ấu trùng sâu mới bằng cái thể chế lỗi thời và nhất là rập khuôn từ tập đoàn chính trị phương Bắc do Tập Cận Bình đứng đầu. Điều này cũng có nghĩa, cái công bắt vài con sâu của ông không thể nào bù đắp cho cái tội rất lớn của ông với dân tộc này khi vẫn duy trì cái thể chế hiện thời. Không khéo cái lò đốt củi do chính ông xây rồi đây cũng sẽ là nới thiêu đốt chính bản thân ông mà thôi! Vậy nên, ông Trọng và những kẻ sùng bái, xu nịnh ông xin có “Đừng lớn lối khi dân lành ốm đói/Vẫn còng làm cho thẳng lưng ăn”! [2].

  1. Thay lời kết

Trước năm 1945, Nam Cao thuộc số những nhà văn viết theo trường phái “tả chân” – nghĩa là “hiện thực phê phán”. Sau 1945, lịch sử Đảng xem ông như một nhà văn “sớm giác ngộ lý tưởng và đi theo Cách mạng”. Và truyện ngắn nổi tiếng nhan đề “Đôi mắt” chính là tác phẩm được nhiều nhà phê bình văn học của Đảng lấy ra làm minh chứng cho sự “sớm giác ngộ” này của Nam Cao. Sở dĩ phải nhắc lại vấn đề này là vì tôi muốn đề cập đến một chi tiết rất đắc giá trong tác phẩm này nhưng tiếc thay các nhà soạn sách giáo khoa của Đảng ta trong phần yêu cầu giảng dạy cho học sinh phổ thông hoặc là không hiểu hoặc là hiểu nhưng cố tình lờ đi, không dám nhắc tới. Ấy là chi tiết Nam Cao để cho hai nhân vật Hoàng và Độ bàn về cuộc chiến tranh và những người nông dân ít học đi làm cách mạng dưới sự dẫn dắt của Đảng và tài thao lược của “ông Cụ” – Hồ Chí Minh lúc bấy giờ. Mẩu đối thoại của nhân vật Hoàng và Độ dưới đây sẽ cho chúng ta thấy tư tưởng rất “độc” này của Nam Cao trong truyện ngắn“Đôi mắt”:

“Tôi cười nhạt:

– Nghe anh nói, tôi nản quá. Như vậy cuộc kháng chiến của ta có lẽ đến hỏng à?

Anh chộp lấy câu của tôi, nhanh như một con mèo vồ con chuột:

– “Ấy đấy, tôi bi lắm. Cứ quan sát kỹ thì rất nản. Nhưng tôi chưa nản có lẽ chỉ vì tôi tin vào ông Cụ. Tôi cho rằng cuộc Cách mạng tháng Tám cũng như cuộc kháng chiến hiện nay chỉ ăn vì người lãnh đạo cừ. Hồ Chí Minh đáng lẽ phải cứu vãn một nước như thế nào kia, mới xứng tài. Phải cứu một nước như nước mình kể cũng khổ cho ông Cụ lắm. Anh tính tượng trưng cho phong trào giải phóng cả một cái đệ tứ cường quốc là Ðại Pháp, mà chỉ có đến thằng Ðờ-Gôn.

Tôi nhắc đến tên mấy nhân vật kháng chiến khác của Pháp, còn đáng tiêu biểu bằng mấy Ðờ-Gôn. Anh lắc đầu:

– Bằng thế nào được Hồ Chí Minh!

Và anh tiếp:

– Ông Cụ làm những việc nó cừ quá, đến nỗi tôi cứ cho rằng dù dân mình có tồi đi nữa, ông Cụ xoay quanh rồi cũng cứ độc lập như thường. Những cú như cú Hiệp định sơ bộ mồng 6 tháng 3 thì đến chính thằng Mỹ cũng phải lắc đầu: nó cho rằng không thể nào bịp ông già nổi. Thằng Pháp thì nghĩa là gì? Bệt lắm rồi. Không có thằng Mỹ xúi thì làm gì Pháp dám trở mặt phản Hiệp định mồng 6 tháng 3? Mình cho nó như vậy đã là phúc đời nhà nó lắm rồi. Ðáng lẽ nó phải bám chằng chằng lấy chứ?”

Với chi tiết trên, có thể nói, Nam Cao chính là nhà văn đầu tiên đã bàn và phê phán trực diện căn bệnh “sùng bái cá nhân”, “sùng bái lãnh tụ” của người Việt thời hiện đại đặc biệt là thành phần trí thức cách mạng thời kỳ đầu ở miền Bắc. Từ thực tế lịch sử này nhìn lại thực tại xã hội hôm nay, có dịp theo dõi các bài viết của một vài nhân sĩ trí thức Việt Nam, đặc biệt là những facebooker có “số má” trên mạng xã hội khi họ bàn về việc chống tham nhũng của ông Trọng thời gian qua tôi thấy xấu hổ thay cho cái cái tư duy, cái tâm lý nô bộc hay là “bệnh sùng bái cá nhân”, “sùng bái lãnh tụ” vừa hồn nhiên vừa có chủ đích của họ.

Người dân bình thường, ít học nếu có mê muội, cuồng tín và thần tượng cá nhân nào đó nghĩ lại vấn còn cảm thông được. Nhưng mang danh là trí thức, là nhà văn, nhà báo mà ăn nói kiểu nước đôi, ba phải lúc thì ra vẻ thương xót, bênh vực người dân Thủ Thiêm lúc thì bợ đỡ, tung hô ông Trọng lên tận mây xanh và nhất là cố tình lờ đi chuyện ông Trọng thực ra cũng là một mắc xích tối quan trọng đã gián tiếp gây ra những oan khuất kia của người dân thì quả là những tay điếm bút thuộc hàng cao cấp, thượng thừa!

 Đến đây thì tôi lại càng thấm thía cho nhận định rất ghê gớm của Nam Cao qua câu nói của văn sĩ Hoàng ở trên: “Hồ Chí Minh đáng lẽ phải cứu vãn một nước như thế nào kia, mới xứng tài. Phải cứu một nước như nước mình kể cũng khổ cho ông Cụ lắm”.

Than ôi, dân tộc này nếu có bị ông Trọng và cái thể chế chính trị do chính ông ấy tạo ra bắt làm con tin thêm vài trăm năm nữa hoặc đến khi nào tìm được đường đi tới thiên đường XHCN âu cũng rất hợp lẽ và rất đáng đời!

CT, 12/7/2019

QHN

——–

Chú thích nguồn;

[1]: Xem tại: https://tuoitre.vn/ra-mat-sach-ve-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-nguyen-phu-trong-20190620181934048.htm

[2]: “Nhìn từ xa…Tổ quốc” – thơ Nguyễn Duy.

Tác giả gởi cho viet-studies ngày 12-7-19

ĐIỂM YẾU TRONG CÔNG TÁC CÁN BỘ CỦA ĐẢNG LÀ GÌ ?

PHẠM QUÝ THỌ / BBC 13-7-2019

Ông Phạm Quý Thọ

Tác giả Phạm Quý Thọ nhấn mạnh một nhà nước toàn trị có thể là mối nguy cho phát triển bền vững

Đảng Cộng sản Việt Nam thường nhấn mạnh rằng cán bộ là gốc quyết định thắng lợi. Cải cách thể chế phụ thuộc vào công tác cán bộ. Đảng nhận định ‘sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ đảng trong thời gian qua và hiện nay đang đe doạ sự tồn vong của chế độ.

Vì vậy, Đảng đang tập trung nỗ lực cao cho công tác này, như trừng phạt những cán bộ vi phạm, đẩy mạnh học tập tấm giương Chủ tịch Hồ Chí Minh và ‘quy hoạch cán bộ cấp chiến lược’ cho Đại hội 13… Các động thái mạnh trên thể hiện ‘sự quyết tâm’, nhưng ‘duy ý chí’, bởi vì nguyên nhân được nêu chỉ là ‘bề nổi của tảng băng chìm’.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khi phát biểu khai mạc Hội nghị TƯ 7 khoá XII ngày 7/5/2018 đã yêu cầu cần ‘trả lời cho được câu hỏi vì sao 20 năm qua, đặc biệt những năm gần đây mặc dù Đảng ta đã có rất nhiều chủ trương, chính sách về công tác cán bộ…, nhưng trong thực hiện vẫn còn nhiều bất cập, hiệu quả còn thấp? Nguyên nhân từ đâu, ở khâu nào, cấp nào… để có ‘giải pháp lớn, có tính đột phá’

Nếu không chỉ ra thực chất của vấn đề thì công tác cán bộ nói riêng và cải cách thể chế nói chung sẽ khó thành công.

Mấu chốt và căn nguyên

Bộ máy ‘thu tô trục lợi’ không Đổi mới chẳng Bảo thủ

Ông Nguyễn Phú Trọng ‘đi lại bình thường, họp kỷ luật đảng’

VN níu giữ hay sẽ thay mô hình Xô Viết?

Bình luận vụ Trần Văn Mẫn, Nguyễn Bá Cảnh

‘Mấu chốt’ ở đây chỉ bản chất của sự việc, hiện tượng. Thuật ngữ này trích lời của danh sĩ Ngô Thì Nhậm (1746 – 1803) và nó còn nguyên ý nghĩa thiết thực, đặc biệt đối với công tác cán bộ gắn với thể chế.

Trước hết, có mấy dòng về ông.

Ngô Thì Nhậm là một sĩ phu Bắc Hà, sống vào thời hậu Lê và Tây Sơn đầy loạn lạc, đồng thời là viên tướng có công lớn trong việc giúp triều Tây Sơn đánh lui quân Thanh.

Ông được ca tụng với câu đối đáp nổi tiếng được lưu truyền:

‘Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai đã biết ai’

‘Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế’

Chuyện kể rằng sau khi nhà Tây Sơn sụp đổ, Ngô Thì Nhậm bị bắt, giải về Hà Nội. Đặng Trần Thường – quan dưới triều Nguyễn chủ trì xử phạt. Tương truyền Ngô Thì Nhậm và Đặng Trần Thường có quen biết với nhau. Vốn có thâm thù vì Đặng Trần Thường đã từng xin Ngô Thì Nhậm (cận thần của vua Quang Trung) ‘tiến cử’, nhưng bị từ chối. Nhớ lại chuyện xưa, Đặng Trần Thường kiêu ngạo ra vế thứ nhất câu đối, và Ngô Thì Nhậm khẳng khái đáp lại.

Ngô Thì Nhậm được coi là ‘quân sư’ có quan niệm chính sự ‘cấp tiến’ thời bấy giờ.

Khi bàn về mối quan hệ giữa “giáo”, “pháp”, “chính” ông nói: “Sở dĩ “giáo” không phổ cập được là do học trò không được học, mà học trò không học là do thầy không tinh, sở dĩ “pháp” không được lập là do người giỏi không được dùng, mà người giỏi không được dùng là do thưởng phạt không công minh, sở dĩ “chính” không thi hành được là do kẻ lại không được liêm, mà kẻ lại không được liêm là do bổng lộc không được đủ. Song thầy giảng không tinh, thưởng phạt không công minh và bổng lộc không đủ, duyên cớ là đều do tình trạng thiếu thốn và sự thực thiếu thốn. Cho nên, dù có cấp bách lo việc này nhưng nếu không nắm được mấu chốt của nó, thì dù “trí” có thể biết được, nhưng “thế” vẫn không thể làm được”.

Quan niệm mà Ngô Thì Nhậm đã tiếp cận dựa trên cơ sở bản tính tự nhiên của con người và con người chịu ảnh hưởng bởi hoàn cảnh. Ông lý giải rằng: “Dục là tính [tự nhiên], nó ở trong nhật dụng thường hành, như đói thì muốn ăn, khát thì muốn uống, không có không được”.

Tuy nhiên, do ảnh hưởng nặng nề của Nho giáo thời phong kiến, Ngô Thì Nhậm chủ trương xóa bỏ mọi dục vọng để “Tâm” được tuyệt đối trong sáng. Có như vậy quan lại mới thực hành được ‘chính đạo’.

Tính duy lý kinh tế

Việt Nam

Việt Nam đang có một nền kinh tế hàng hóa và tiêu thụ khá phát triển ở khu vực

Điều ‘mấu chốt’ không những chỉ được nhận biết mà còn được thực hành trong xã hội tư bản với quan hệ sản xuất tiến bộ hơn và năng suất vượt trội, bởi thế nó đã làm sụp đổ chế độ phong kiến và tiếp tục phát triển.

Việt Nam chống được tham nhũng với thể chế này?

Thông điệp từ ba câu hỏi của ông Nguyễn Phú Trọng

Nhân sự đại hội đảng đang khó thế nào?

Trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, Phần 1 K. Marx và F. Enghen đã khái quát’sức tàn phá’ khủng khiếp của quan hệ tư bản chủ nghĩa, rằng ‘khi chiếm được chính quyền, những mối quan hệ ràng buộc con người phong kiến với “những bề trên tự nhiên”, đều bị phá vỡ bởi giai cấp tư sản, … Và, sự phát triển tư bản chủ nghĩa đã ‘dìm những xúc động thiêng liêng của lòng sùng đạo, của nhiệt tình hiệp sĩ, của tính đa cảm tiểu tư sản xuống dòng nước giá lạnh của sự tính toán ích kỷ…’

Hai nhà tư tưởng đã viết Tuyên ngôn Đảng Cộng sản năm 1848, nghĩa là cho đến thời điểm hiện tai đã hơn 170 năm. Nhưng những dự đoán của các ông về xã hội cộng sản chủ nghĩa chưa biết đến khi nào thành hiện thực.

Ngày nay xã hội tư bản chủ nghĩa được hoàn thiện lên nhiều nhờ những quy luật và nguyên tắc vận hành của nó, như sở hữu tư nhân, động cơ lợi nhuận, tự do kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng và người tiêu dùng thông minh.

Ngoài ra, có lẽ, xã hội tư bản, phần nào đó khắc phục được những ‘khuyết tật’ mà K. Marx đã từng cảnh báo.

Sự phát triển của xã hội tư bản chủ nghĩa dựa trên nền tảng của điều ‘mấu chốt’ được khái quát thành học thuyết về tính duy lý kinh tế, theo đó việc tối đa hóa lợi ích là một cách giải thích tốt về hành vi con người, nhấn mạnh rằng lòng vị tha và sự ‘quan tâm đến người khác’ là quan trọng.

Kinh tế thị trường ngày càng phát triển đã khẳng định rằng chế độ tư hữu là sự bảo đảm quan trọng nhất của tự do. Khi tư liệu sản xuất nằm trong tay nhiều người hoạt động độc lập với nhau họ mới có thể tự quyết định cách hành xử của mình và cạnh tranh với nhau để phát triển. Khi nằm trong tay các cá nhân riêng rẽ, quyền lực kinh tế có thể trở thành phương tiện áp bức, nhưng không bao giờ có thể kiểm soát được toàn bộ cuộc sống của con người.

Hơn thế, nền kinh tế thị trường hiện đại trong các nước phát triển thường đi đôi với dân chủ, xã hội dân sự và cơ chế kiểm soát quyền lực bởi tam quyền phân lập.

Toàn trị và mối nguy

Chế độ xã hội chủ nghĩa được thiết lập dựa trên công hữu về tư liệu sản xuất và được vận hành bởi công cụ kế hoạch hoá tập trung. Xác lập những chuẩn mực duy ý chí dựa trên chủ nghĩa tập thể, chế độ này đã chối bỏ điều ‘mấu chốt’, bản tính tự nhiên của con người. Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu cản trở sáng tạo và tăng năng suất, khiến chế độ không thể tiếp tục tồn tại.

Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc năm 1989, hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, người ta nói nhiều hơn về kinh tế thị trường như một quỹ đạo phát triển tất yếu, về những vấn đề toàn cầu, như biến đổi khí hậu, môi trường, giàu nghèo, dân chủ và nhân quyền.

Tuy nhiên, còn số ít quốc gia, trong đó có Việt Nam, từng tuyên bố là chế độ xã hội chủ nghĩa đang cải cách và hội nhập. Người ta còn bàn cãi về mô hình kiểu Trung Quốc hay quá độ chuyển đổi sang thị trường.

Kiểu thể chế này dựa trên tư tưởng rằng đảng cộng sản có thể duy trì quyền lực duy nhất chỉ bằng cách thúc đẩy phát triển kinh tế, và với chế độ độc đảng mạnh có thể hiện đại hóa xã hội.

Thực tế chỉ ra rằng một nhà nước toàn trị có thể là mối nguy cho phát triển bền vững.

Trong quá trình chuyển đổi các phương tiện sản xuất đã bớt độc quyền, nghĩa là quyền lực kinh tế đã bớt tập trung, nhưng quyền lực chính trị vẫn là sự độc tài của một đảng, chi phối mọi hoạt động của xã hội thì bất ổn ắt nảy sinh.

Để duy trì chế độ đảng trị cố gắng quản lý mọi mặt đời sống xã hội, kể cả nhân tính và từng cá nhân, không còn cách nào hơn, một bộ máy đặc quyền đặc lợi và cồng kềnh phải được thiết lập. Nghĩa là các cán bộ cộng sản có thể được bổ nhiệm vào các vị trí quan trọng trong bộ máy chính quyền từ trung ương đến cơ sở và được hưởng các ưu đãi để trung thành và tuân theo mệnh lệnh từ trung ương.

Chối bỏ và nguy cơ

Việt Nam

Việt Nam hiện có dân số đông đứng thứ 15 trên thế giới

Tuy nhiên, trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường khả năng quyền lực vượt ra ngoài tầm kiểm soát và dung dưỡng lòng tham, sự thiếu năng lực chuyên môn trong tầng lớp thống trị vẫn không được tính đến.

Đặc quyền đặc lợi dưới các chế độ tem phiếu, nhà ở hay đồ phân phối khác trong thời bao cấp nay chuyển thành những tài sản chiếm đoạt được từ sở hữu toàn dân, nhà nước hoặc từ tiền thuế của dân dưới nhiều hình thức nhưng được che đậy bởi các quy định, rào cản nhân danh ý thức hệ xã hội chủ nghĩa.

Thiếu đi cải tổ chính trị cần thiết cũng đồng nghĩa rằng không có gì ngăn cản tầng lớp lãnh đạo khỏi việc chiếm đoạt này.

Việc phanh phui các vụ tham nhũng gần đây ở mọi cấp của chính quyền cho thấy rằng mối nguy lớn nhất cho chế độ nhà nước độc đảng chính là quyền lực không được kiểm soát.

Việc chối bỏ dân chủ hóa, xã hội dân sự, và nhân quyền phổ quát để kiểm soát quyền lực đang tha hoá cũng đồng nghĩa với việc tăng cường tập trung quyền lực là mâu thuẫn chính trị lớn nhất hiện nay.

Điều ‘mấu chốt’ do Ngô Thì Nhậm nêu ra từ hơn hai thế kỷ trước trong xã hội phong kiến đã thay đổi về chất cùng với sự văn minh nhân loại, từ sự thiếu thốn, lòng tham như một bản năng tự nhiên của con người được phát triển thành học thuyết về tính duy lý kinh tế trong xã hội tư bản. Đây là cơ sở lý thuyết kinh tế liên quan đến hành vi con người giúp vận hành một thể chế dân chủ với một năng suất vượt trội và một khối lượng tài sản khổng lồ được tạo ra.

Một khi quyền lực tuyệt đối được kiểm soát thì ‘độc quyền chân lý’ cũng không còn. Khi đó ‘trí’ có thể nhận ra điều ‘mấu chốt’ và ‘thế’ có thể làm được nếu dựa vào dân.

Bài viết phản ánh quan điểm riêng của tác giả, nguyên Chủ nhiệm Khoa Chính sách công, Học viện Chính sách & Phát triển, Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Việt Nam.

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Bảy 14, 2019

20190714. PHẢN BIỆN DỰ ÁN ĐƯỜNG SẮT CAO TỐC BẮC-NAM

ĐIỂM BÁO MẠNG

LẬP HỘI ĐỒNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐƯỜNG SẮT CAO TỐC TRỤC BẮC-NAM

NHẬT MINH/ GDVN 12-7-2019

Thủ tướng Chính phủ vừa quyết định thành lập Hội đồng thẩm định Nhà nước để thẩm định Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam. Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư làm Chủ tịch Hội đồng.

Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư làm Phó Chủ tịch Hội đồng.

Ảnh minh họa: baochinhphu.vn

Các ủy viên Hội đồng gồm lãnh đạo các Bộ, ngành: Giao thông vận tải, Tài chính, Xây dựng, Tài nguyên và Môi trường, Công Thương, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Quốc phòng, Công an, Khoa học và Công nghệ, Ngoại giao, Tư pháp, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thông tin và Truyền thông; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; lãnh đạo Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp; lãnh đạo Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trách nhiệm, quyền hạn của Hội đồng, Chủ tịch Hội đồng, Phó Chủ tịch Hội đồng, các thành viên Hội đồng, cơ quan thường trực Hội đồng và Tổ chuyên gia thẩm định liên ngành được thực hiện theo các quy định tại Nghị định số 131/2015/NĐ-CP ngày 25/12/2015 của Chính phủ hướng dẫn về dự án quan trọng quốc gia.

Hội đồng được thuê liên danh tư vấn trong nước và tư vấn nước ngoài bảo đảm độc lập, khách quan với tư vấn lập Dự án để thẩm tra Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Dự án theo đúng quy định.

Việc thuê tư vấn thẩm tra và chi phí thẩm định, thẩm tra Dự án thực hiện theo quy định tại các Điều 10, Điều 11, Điều 12 Nghị định số 131/2015/NĐ-CP.

Hội đồng được sử dụng con dấu và tài khoản (nếu cần) của Bộ Kế hoạch và Đầu tư để phục vụ cho hoạt động của Hội đồng.

Nhật Minh
ẢO TƯỞNG XÂY ĐƯỜNG SẮT CAO TỐC BẮC-NAM
NGUYỄN NGỌC CHU / TVN 11-7-2019

Sau khi Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa ra con số 26 tỷ USD cho đường sắt Bắc – Nam tốc độ 200km/h dựa trên tính toán của các chuyên gia Đức và Hà Lan đã dấy lên tranh luận về con số cách biệt 32 tỷ USD so với 58,7 tỷ USD cho tốc độ 350 km/h của Bộ Giao thông Vận tải.

Biện hộ cho con số 58,7 tỷ USD, ông Tổng giám đốc Công ty tư vấn TEDI Phạm Hữu Sơn nêu ra mấy điểm dưới đây:

1. Chi phí xây lắp đường sắt tốc độ 200 km/h giảm so với đường sắt tốc độ 350 km/h là 10%; chi phí thiết bị giảm 26%; các hệ thống thông tin tín hiệu, thiết bị phụ trợ có mức đầu tư cơ bản như nhau. Nên không thể có việc tổng mức đầu tư giảm hơn một nửa nếu xây dựng đường sắt Bắc Nam tốc độ 200 km/h thay vì 350 km/h.

2.  Đường sắt tốc độ cao cần đảm nhiệm vận tải hành khách khối lượng lớn mà ngành hàng không và đường bộ không thể đáp ứng. Đường sắt tốc độ cao phù hợp cho các quãng đường từ 300 đến 800 km; nếu tàu Bắc Nam chạy tốc độ 200 km/h thì sẽ không thể cạnh tranh được với hàng không và các phương tiện khác.

3.  Công nghệ chạy tàu tốc độ cao được Bộ Giao thông Vận tải đề xuất là “động lực phân tán” tương tự tàu Shinkansen của Nhật Bản, là xu thế được nhiều nước áp dụng. Nếu chọn tàu tốc độ 200 km/h sẽ đi ngược lại xu thế thế giới và nhiều thiết bị cho loại tàu này đã không còn sản xuất.

TEDI là công ty tư vấn về đường sắt Bắc – Nam của Bộ Giao thông Vận tải. Mọi chiến lược phát triển đường sắt Bắc – Nam của Bộ Giao thông Vận tải đều dựa vào TEDI. Ý kiến của TEDI ở một chừng mực nhất định thể hiện ý kiến của Bộ Giao thông Vận tải. Vì thế, không thể không phản biện quan điểm của TEDI. Qua phát biểu của ông Tổng giám đốc TEDI cho thấy Bộ Giao thông Vận tải có những cách nhìn chưa đúng sau đây.

Ảo tưởng xây đường sắt cao tốc Bắc-Nam

Đường sắt cao tốc Bắc-Nam vận tài hàng hóa như thế nào, giá cả ra sao?

 

I. Vận tải hàng hóa là yêu cầu tiên quyết

Vận chuyển hàng hóa và vận chuyển hành khách là hai chức năng quan trọng của giao thông đường sắt. Ở nhiều tuyến đường, vận tải hàng hóa còn được ưu tiên hơn vận tải hành khách.

Với đường sắt sắt Bắc – Nam của Việt Nam, mang tính cột sống duy nhất kéo dài suốt đất nước qua hầu hết các tỉnh thành quan trọng, thì ưu tiên vận chuyển hàng hóa không thể kém ưu tiên vận tải hành khách. Bởi vậy, bất cứ đề xuất nào ở tốc độ, 200km, 350 km, 500 km… thì cũng bắt buộc phải chuyên chở được hàng hóa. Đây là điều kiện tiên quyết.

Bởi vậy, tuyến đường có vận tốc 350km/h hiện nay của Bộ GTVT đề xuất không chuyên chở được hàng hóa, thì bị loại hoàn toàn ra khỏi mọi xem xét. Đơn giản như trong toán học – là vi phạm tiên đề.

II. Những đánh giá không đúng của TEDI

Thứ nhất, do tính cột sống nối hầu hết các tỉnh thành trong cả nước, thì giao thông giữa các tỉnh thành mới là quan trọng số 1, chứ không chỉ là giao thông giữa 2 địa điểm Hà Nội và TP.HCM. Lượng hành khách và hàng hóa lưu thông giữa các tỉnh lớn hơn nhiều lần so với tuyến trực tiếp hà Nội – TP.HCM.

Chẳng hạn, với tốc độ 200km/h, tuyến Hà Nội – Vinh chỉ mất 1h 30 phút, Thanh Hóa – Vinh mất 45 phút, Vinh – Đồng Hới mất 1 h. Tương tự TP HCM – Phan Thiết mất 1 h. Phan Thiết – Nha trang mất 1h… Nghĩa là thời gian đi lại giữa các tỉnh ngắn và vô cùng thuận lợi.

Bởi thế lấy Hà Nội – TP HCM để so sánh với thời gian máy bay rồi khẳng định không cạnh tranh được với máy bay là một lầm lẫn ấu trĩ.

Thứ hai, các chủng loại giao thông là song hành cùng nhau, bổ sung cho nhau, chứ không phải loại trừ nhau. Lấy mục đích xây đường sắt 350km/h để cạnh tranh với máy bay, bóp chết vận tải hàng không là không thực tế , trái với biện chứng và tự trở thành mù quáng.

Thứ ba, vận tải hàng hóa mới là ưu điểm vô đối của tốc độ 200km/h mà TEDI có tình bỏ qua là một sai lầm nghiêm trọng.

Thứ tư, nói rằng thiết bị tàu hỏa đường sắt 200km/h đã ngừng sản xuất là hồ đồ. Hãy tìm hiểu lại đường sắt thế giới. Nói dùng tốc độ 200km/h là “đi ngược với xu thế thế giới” là sai. Các hệ thống đường sắt là cùng song hành. Đường sắt cao tốc 350 – 500km/h chỉ chiếm một tỷ phần rất nhỏ. Chưa nước nào chỉ có mỗi đường sắt tốc độ cao trên 350 km/h, mà bỏ đi toàn bộ hệ thống đường sắt tốc độ dưới 350km/h, bỏ đi hệ thống đường sắt chở hàng.

Thứ năm, không có hành khách. Với tàu tốc độ 350km/h lưu lượng hành khách rất ít, do giá thành vé cao, dẫn đến còn lâu mới thu hồi vốn.

Thứ sáu, thời gian xây dựng kéo dài. Chắc chắn tuyến đường tốc độ 350km/h do giá thành đắt, không thể dễ dàng huy động nguồn vốn, nên sẽ kéo dài đến 20 -30 năm và còn lâu hơn nữa.

Thứ bảy, kéo theo gánh nặng nợ nần. Tổng vốn đầu tư 58,7 tỷ USD là quá sức đối với nền kinh tế Việt Nam. Tập trung nguồn lực lớn như vậy, việt Nam sẽ lún sâu vào gánh nợ, không còn nguồn lực dành cho các đầu tư khác. Chưa nói đến hiệu quả kém, chậm khai thác, và lâu hoàn vốn.

Thứ tám, ảo tưởng. Bệnh ảo tưởng đã lan nhiễm vào mọi ngóc ngách của nước ta. Nghèo đói nhưng lại đi vay để sắm cái đắt tiền nhất mà người giàu hơn nhiều lần cũng không dám sắm. Đã lạc hậu, nhưng lại mơ tưởng đi tiên phong trước cả các nước tiên phong, cho nên mới đề ra những câu khẩu hiệu phi thực tế loại: “ Đi tắt đón đầu”,…

Hệ thống tàu tốc độ 200km/h cả Âu – Mỹ sở hữu đã hơn nửa thế kỷ rồi mà Việt Nam còn mơ vẫn chưa được. Huống chi, còn có những người ảo tưởng hơn ngồi ở bộ GTVT mơ luôn lên trời xanh – lại mơ ngay làm đường sắt 350km/h, không chỉ bán cả gia tài, mà còn thế chấp cả tài nguyên, đi vay tiền mà mua mà xây cho bằng được, dẫu chỉ một đoạn, dẫu kéo dài cả mấy chục năm. Đó là tai họa lớn cho đất nước.

III. Tổng mức xây dựng đường sắt Bắc – Nam tốc độ 200km/h không quá 20 tỷ USD.

Mức đầu tư 26 tỷ USD cho đường sắt Hà Nội – Sài Gòn tốc độ 200km/h của Bộ Kế hoạch và Đầu tư là vẫn còn cao. Hãy cho các công ty tư nhân Việt Nam tính toán đầu tư thì con số sẽ về dưới 20 tỷ USD.

IV.Thời gian xây dựng 10 năm

Với bất cứ công trình kinh tế nào thì thời gian xây dựng càng nhanh càng tốt, càng sớm đưa vào khai thác càng có lợi. Với tổng số vốn đầu tư không đến 20 tỷ USD, với một ban điều hành giỏi, thời gian xây dựng tuyến đường sắt Bắc – Nam tốc độ 200km/h sẽ không vượt quá 10 năm.

Để cho các công ty tư nhân Việt Nam xây dựng đường sắt Bắc – Nam tốc độ 200 km/h thì chắc chắn giá thành dưới 20 tỷ USD và thời gian xây dựng dưới 10 năm.

Kết luận

1. Xây đựng đường sắt Bắc – Nam tốc độ 200 km/h là phương án duy nhất đúng cho Việt Nam.

2. Ưu tiên công nghệ châu Âu là nơi có hệ thống đường sắt tốc độ 200km/h phát triển rộng rãi nhiều năm và giàu kinh nghiệm.

3. Đặt mục tiêu xây dựng trong 10 năm.

4. Giới hạn cận trên cho tổng chi phí đầu tư là 20 tỷ đô la.

5. Mở thầu quốc tế dành cho các công ty Âu – Mỹ – Nhật về thiết kế, tư vấn, giám sát.

6. Chỉ có các công ty Việt Nam tham gia xây dựng đường sắt Bắc – Nam dưới sự thiết kế, tư vấn và giám sát quốc tế.

Đừng nghĩ rằng các công ty tư nhân Việt Nam chưa có kinh nghiệm nên không thể xây dựng đường sắt Bắc – Nam. Họ biết cách thuê chuyên gia nước ngoài để thiết kế, mua thiết bị và điều hành xây dựng, cùng chuyển giao công nghệ ở mức giá hợp lý. Mức giá của các công ty tư nhân khi phải tự bỏ tiền túi sẽ thấp hơn mức giá của nhà nước từ 2, 3, 4 lần, mà chất lượng lại đảm bảo theo dự kiến. Khác với nhà nước là chủ đầu tư, giá thành đắt gấp 2,3,4 lần nhưng chất lượng vẫn không xác định.

Vấn đề xây dựng đường sắt Bắc – Nam tốc độ nào, cách thức như thế nào, giá thành ước lượng bao nhiêu, trong khoảng thời gian nào, đã rất rõ ràng. Người quyết định có tầm nhìn sáng suốt sẽ cao hơn mọi lời của tư vấn. Còn đối với tầm nhìn phụ thuộc vào tư vấn thì câu hỏi mãi chạy vòng quanh. Và số phận đường sắt Bắc – Nam nói riêng, cùng với số phận đất nước nói chung, cũng chạy vòng quanh theo tư vấn.

Tiến sĩ toán học Nguyễn Ngọc Chu

 

CẢ THẾ KỶ NỮA CHẮC GÌ XÂY XONG ĐƯỜNG SẮT CAO TỐC
LÃ NGỌC KHUÊ / TVN 12-7-2019

Tôi rất hoan nghênh Diễn đàn Vì Việt Nam hùng cường trên Tuần Việt Nam/VietNamNet đã đăng tải nhiều bài viết với các góc nhìn khác nhau về dự án đường sắt tốc độ cao Băc-Nam trong thời gian gần đây. Nhờ đó, Diễn đàn đã đóng góp được nhiều ý kiến khách quan, chất lượng, có tinh thần xây dựng với dự án đặc biệt quan trọng này.

Trong bài viết dưới đây nhằm góp thêm ý kiến cho Diễn đàn, tôi sẽ tập trung phân tích tốc độ của tàu và hàng loạt yếu tố khác ngõ hầu chỉ ra tính khả thi và hiệu quả của dự án với hi vọng rằng, chúng ta sẽ có lựa chọn đầu tư tốt nhất.

Cả thế kỷ nữa chắc gì xây xong đường sắt cao tốc

Cả thế kỷ nữa chắc gì đã xây xong đường sắt cao tốc Bắc Nam?


Nghịch cảnh hết sức phi lý

Ai cũng biết sự yếu kém lạc hậu của đường sắt Bắc Nam hiện nay đã kéo dài hơn 4 thập kỷ qua. Vì thế, nếu bây giờ làm đường sắt tốc độ cao theo phân kỳ như Tedi đưa ra thì lại phải chờ thêm 30-35 năm nữa mới may ra khắc phục được yếu kém, bất cập hiện nay.

Điều đáng nói, không một ai dám khẳng định như đinh đóng cột là cái đích đó sẽ đến đúng hẹn khi nhìn vào cách triển khai, thực hiện “như sên” các dự án đường sắt đô thị ở Hà Nội và TP.HCM mà độ phức tạp và trình độ kỹ thuật của chúng còn lâu mới so sánh được với đường sắt cao tốc.

Như vậy, tôi lo ngại rằng, đích để đường sắt cao tốc Bắc – Nam về đúng hẹn là bất định, cả thế kỷ nữa chắc gì đã xây xong, và ai biết điều gì sẽ xảy ra khi ấy? Sự trả giá của nền kinh tế, xã hội do sự lạc hậu, yếu kém của đường sắt còn kéo dài và lớn đến đâu. Vì thế, phải tính đến những phương án đầu tư sao cho khả thi, chắc ăn và kịp thời giải tỏa các áp lực rất lớn hiện nay.

Theo báo cáo tiền khả thi, tuyến đường sắt tốc độ cao được thiết kế 350km/h, tốc độ khai thác 300km/h. Tuyến đường chỉ chuyên dùng cho chở khách, và bỏ qua vận tải hàng hóa. Đây thực chất là dự án từng được Quốc hội xem xét tại kỳ họp tháng 6 năm 2010.

Do không đảm bảo được nguồn lực, suốt hơn 4 thập kỷ qua chúng ta đã phải lờ đi mọi nhu cầu đầu tư cho đường sắt. Thị phần vận tải đường sắt cả về hàng hóa và hành khách tụt xuống chỉ còn trên dưới 1,5%, không đáng kể. Sự đi lại của nhân dân trên hành trình xuyên Việt hết sức gian nan vất vả cần được cải thiện là điều ai cũng rõ. Nhu cầu vận tải hàng hóa bằng đường sắt Bắc- Nam cũng hết sức nóng bỏng, gay gắt.

Tuyến đường sắt 1m già nua lạc hậu, tốc độ chậm, chỉ chạy được 8 đôi tàu hàng/ngày đêm không sao cạnh tranh nổi với hàng chục vạn xe tải vận hành. Sự lên ngôi và độc tôn của đường bộ không chỉ ảnh hưởng nặng nề tới trật tự, an toàn giao thông, ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, mà quan trọng hơn, đã làm cho chi phí logistics của Việt Nam cao một cách bất thường, chiếm 21% GDP, theo thống kê của Ngân hàng Thế giới, gần gấp đôi các nước trong khu vực và gấp 4 đến 6 lần của các nước phát triển như Nhật Bản, Canada và Hoa Kỳ, làm suy giảm sức cạnh tranh của hàng hoá, đặt nền kinh tế đối mặt với những khó khăn, thách thức rất lớn.

Thực tế trên sẽ càng trớ trêu, trở thành nghịch cảnh và hết sức phi lý khi tuyến đường sắt cao tốc mà chúng ta chủ chương tạo nên một năng lực thông qua 160 đôi tàu/ngày đêm, nhưng theo báo cáo tiền khả thi, thì tới năm 2055 chỉ có thể lấy đầp trên dưới 40% công suất vận tải hết sức to lớn đó. 60% năng lực còn lại đành bỏ phí và hoàn toàn vô dụng đối với nhu cầu vận tải hàng hóa Bắc Nam.

Tôi cho rằng, vận tải hành khách và vận tải hàng hóa trên trục Bắc – Nam là mục tiêu phải được đồng thời đặt ra, phải được đáp ứng đầy đủ của dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, như Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã kiến nghị tại văn bản 3762 ngày 5/6/2019.

Tốc độ là yếu tố quyết định 

Về mặt pháp lí, tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam có tốc độ vận hành từ 160km/h đến 200km/h đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định tại các quyết định 214/QĐ-TTg ngày 10/02/2015 và quyết định 1468/QĐ-TTg ngày 24/8/2015.

Những yếu tố kinh tế kỹ thuật nào đã làm nên cơ sở cho các quyết định nói trên của Thủ tướng? Tôi sẽ phân tích vào yếu tố tốc độ như là yếu tố cốt lõi quyết định sự thành bại của dự án.

Thứ nhất: Để dự án đạt được mục tiêu vừa vận tải hàng hóa, vừa vận tải hành khách thì chỉ cho phép tuyến đường có tốc độ tối đa 250km/h, tốc độ khai thác vận hành trên dưới 200km/h.

Thứ hai: Tốc độ vận hành là yếu tố quyết định nhất cho tính khả thi của dự án xét về phương diện tài chính. Tổng mức đầu tư tỷ lệ thuận với tốc độ vận hành. Tốc độ càng cao thì tổng mức đầu tư càng lớn. Nếu đầu tư tuyến đường sắt cao tốc có tốc độ vận hành 300km/h thì chỉ tính riêng 3 hạng mục là kiến trúc tầng trên kiểu mới với các tấm bản bê tông thay cho ba lát, chi phí cho hệ thống thông tin tín hiệu điều khiển chạy tàu cao tốc, chi phí mua sắm phương tiện, đã cần tới gần 20 tỷ USD.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư có cơ sở khi đưa ra khái toán tổng mức đầu tư của dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam với dải tốc độ vận hành trên dưới 200km/h, chỉ vào khoảng 26 tỷ USD. Đó là mức chi trả phù hợp hơn trong điều kiện của chúng ta.

Thứ ba: tốc độ vận hành quyết định cho tính khả thi về năng lực làm chủ trang bị kỹ thuật dự án của người Việt Nam, một đòi hỏi hết sức quan trọng, quyết định cho sự thành bại của dự án.

Cấp tốc độ vận hành càng lớn yêu cầu trang bị kỹ thuật càng cao, người Việt càng khó có khả năng tiếp cận và làm chủ được, cả trong thi công hạ tầng cũng như trong đầu tư phương tiện, tổ chức khai thác vận hành.

Kết quả là mọi việc sẽ nhất nhất do đối tác nước ngoài chi phối, quyết định, từ việc lựa chọn tiêu chí, tiêu chuẩn, quy cách, giá cả, thiết kế các hạng mục hạ tầng, xuất nhập khẩu vật tư, mua sắm phương tiện … Họ thâu tóm mọi hợp đồng dự án, các doanh nghiệp Việt Nam bị gạt khỏi cuộc chơi, nhiều lắm chỉ có thể là nhà thầu phụ cung ứng nhân công giá rẻ.

Vậy nên lựa chọn cấp tốc độ vận hành trên dưới 200km/h là một lựa chọn hợp lí, vừa tầm, nhằm khắc phục nguy cơ độc quyền trong việc cung ứng công nghệ và trang bị kỹ thuật của đối tác nước ngoài, giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam có thể tiếp cận và vươn lên làm chủ được trang bị kỹ thuật, khiến cho dự án được triển khai một cách đúng đắn, làm nên hiệu quả bền vững lâu dài.

Thứ tư: tốc độ vận hành quyết định tới chi phí vận doanh và tính hiệu quả trong khai thác.

Đường sắt cao tốc vận hành ở tốc độ 300km/h gây nên những quá trình tương tác động lực học khốc liệt giữa hạ tầng và phương tiện, khiến cho trang bị kỹ thuật của đoàn tàu và hệ thống kiến trúc tầng trên bị xuốn cấp nhanh chóng. Chi phí sửa chữa, thay thế các cấu kiện phụ tùng hư hỏng rất tốn kém, nhất là với những quốc gia chưa thể làm chủ và sở hữu công nghệ Đường sắt cao tốc mà tôi sẽ đề cập trường hợp Đài Loan dưới đây.

Thứ năm: tốc độ vận hành quyết định cho việc xã hội hóa khai thác chạy tàu.

Yếu điểm của đường sắt là suất đầu tư cao, rất khó thực hiện xã hội hóa đầu tư, mọi yêu cầu đổ dồn lên vai Nhà nước. Điều khả dĩ nhất trong việc xã hội hóa đầu tư đường sắt là mô hình Nhà nước đầu tư hạ tầng, doanh nghiệp vận doanh bỏ vốn xây dựng nhà ga, mua sắm phương tiện, thiết bị để tổ chức khai thác chạy tàu.

Nếu đó là một tuyến đường sắt cao tốc, kỹ thuật rất cao, các doanh nghiệp chưa hề tiếp cận với kỹ thuật của các đoàn tàu theo kiểu ShinKanSen, chưa thể hình dung hết những nhu cầu đầu tư, những việc cần làm… liệu rằng có ai dám dũng cảm đứng ra đấu thầu khai thác một tuyến đường sắt cao tốc.

Nhưng nếu chúng ta lựa chọn cấp tốc độ chạy tàu ở mức vừa phải, trên dưới 200km/h, một cấp tốc độ mà các doanh nghiệp Việt nam có thể tiếp cận, có thể làm chủ thì chủ trương xã hội hóa quá trình khai thác chạy tàu đường sắt tốc độ cao có thể là hiện thực.

Thứ sáu: tốc độ vận hành quyết định cho thời gian thực thi dự án. Đây là một tiêu chí không thể bỏ qua. 40 năm đã lãng quên đường sắt, bây giờ chủ chương làm một tuyến đường sắt cao tốc, thời gian về đích cần 35 năm, 40 năm, thậm chí là còn bất định. Nguy cơ cả một thế kỷ đường sắt tụt lại phía sau rất có thể trở thành hiện thực, thành cái nợ của thế hệ chúng ta đối với đất nước.

Cả thế kỷ nữa chắc gì xây xong đường sắt cao tốc

Ảo tưởng xây đường sắt cao tốc Bắc-Nam tốc độ 350km/h

Thế giới e ngại vì chi phí quá lớn

Có người e ngại, không làm đường sắt cao tốc là không đi tắt đón đầu, không theo kịp trào lưu của thế giới. Sau một vài thập kỷ nở rộ những dự án Đường sắt cao tốc, thế giới đang đứng trước một cuộc điều chỉnh mang tính tổng thể.

Hàn Quốc, một quốc gia có tiềm lực kinh tế và trình độ khoa học kỹ thuật cao hơn chúng ta rất nhiều, vậy mà việc xây dựng tuyến đường sắt tốc độ cao Seoul – Busan đã trở thành điển hình của sự rắc rối. Tổng thống nước này, ông Lee Hae Chan từng nói: đó là một thất bại chính trị.

Đài Loan có trình độ phát triển rất cao, nhưng dân chúng đã biểu tình phản đối Tổng thống Lý Đăng Huy dùng ngân sách xây đường sắt tốc độ cao Đài Bắc – Cao Hùng. Sau đó, một tổ hợp các tập đoàn tư nhân cùng nhau thực hiện dự án nhưng rồi tiếp tục thua lỗ do công suất dư thừa, khác đi tàu ít, thu không đủ chi, lãi vay quá nặng, chi phí rất cao cho mua sắp phụ tùng thay thế vì Đài Loan hoàn toàn phải dựa vào Nhật Bản.

Ngay bên cạnh chúng ta, Thủ tướng Prayut Chan Ocha của Thái Lan yêu cầu tốc độ dự án đường sắt cao tốc Thái Lan hợp tác với Nhật Bản chỉ nên ở mức 180km/h – 200km/h.

Theo thống kê của Viện nghiên cứu Môi trường và Năng lượng (Hoa Kỳ) thì chỉ có 1/3 trong số hơn 30 quốc gia đã có hoặc chủ chương xây dựng đường sắt cao tốc lựa chọn cấp tốc độ cao tốc 300km/h. Hơn 20 quốc gia còn lại đều lựa chọn các tuyến đường có tốc độ khai thác chỉ ở mức trên dưới 200hm/h, trong đó có các nước giàu có và phát triển như Nauy, Phần Lan, Đan Mạch, Thụy Điển, Thụy Sĩ…

Đặc biệt nhất là nước Đức, một quốc gia đầy tiềm lực cả về kinh tế cả về kỹ thuật, sau một thời gian khai thác các tuyến Đường sắt cao tốc với tốc độ trên 300km/h, đã nhận ra đó là một dải tốc độ không hợp lí và rất không kinh tế. Nó không đủ nhanh bằng máy bay, lại cũng không phù hợp với thị hiếu của người đi tàu, nhất là với khách du lịch. Hơn thế việc đầu tư hạ tầng rất đắt đỏ cộng với sự hao phí vật tư dẫn tới chi phí vận doanh quá lớn và không hiệu quả. Sau khi đã khai thác, vận dụng 4 thế hệ tàu cao tốc khác nhau từ ICE1 đến ICE4, gần đây người Đức đã quyết định cho ra đời một thế hệ các đoàn tàu tốc độ cao mới: IC x, với tốc độ tối đa chỉ là 250km/h, tốc độ khai thác trên dưới 200km/h. Theo kế hoạch đã được công bố, đến năm 2025 thế hệ các đoàn tàu IC x mới này sẽ thay thế, loại trừ tất cả các đoàn tàu đường sắt tốc độ cao ICE đã được vận hành trước đó.

Vậy nên xây đường sắt tốc độ cao có tốc độ khai thác từ 160km/h đến 200km/h theo đúng các quyết định của Thủ tướng, là phù hợp với xu thế chung, đảm bảo dự án khả thi, hiệu quả, là một lựa chọn đích đáng, không thể nào khác được.

Giáo sư Lã Ngọc Khuê 

ĐƯỜNG SẮT CAO TỐC BẮC-NAM: CHỌN SAI LÀ CÓ TỘI VỚI DÂN, VỚI NƯỚC

TRẦN VĂN TƯỜNG/ BVN 12-7-2019

Hôm qua, báo chí đã đưa một tin chấn động: Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tính toán tổng vốn đầu tư dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam chỉ khoảng 26 tỉ USD, giảm hơn 32 tỉ USD so với đề xuất của Bộ Giao thông Vận tải.

Mức đầu tư giảm đáng kể mà vẫn bảo đảm hiệu quả kinh tế, phù hợp với điều kiện và định hướng phát triển, nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa, tốc độ chạy tàu vẫn đáp ứng 200km/giờ, thời gian di chuyển giữa Hà Nội và TP.HCM chỉ trong 8 giờ là khá thuận lợi và hợp lý.

Phương án này được cho là phù hợp chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ làm giảm chi phí đầu tư, giảm chi phí vận tải cho nền kinh tế, hơn nữa là bảo đảm tính khả thi, hiệu quả đầu tư phát triển.

Tính toán trên khá toàn diện, đưa ra nhiều kịch bản so sánh khách quan và thiết thực hơn. Có tới 4 kịch bản được đưa ra dựa trên báo cáo nghiên cứu tiền khả thi bao gồm:

(1) Nâng cấp tuyến đường sắt hiện tại có tốc độ khai thác 80-90km/giờ tàu khách và 50-60km/giờ tàu hàng.

(2) Nâng cấp tuyến đường sắt hiện tại thành đường đôi khổ 1.435mm, điện khí hóa khai thác chung tàu khách và tàu hàng có tốc độ 200km/giờ.

(3) Nâng cấp tuyến đường sắt hiện tại tốc độ 70km/giờ cho tàu khách địa phương và tàu hàng.

(4) Đầu tư tuyến đường sắt tốc độ cao đường đôi, khổ 1.435mm, điện khí hóa chỉ khai thác cho tàu khách có tốc độ 320km/giờ, tốc độ thiết kế 350km/giờ.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề xuất lựa chọn kịch bản (2) “Nâng cấp tuyến đường sắt hiện tại thành đường đôi khổ 1.435mm, điện khí hóa khai thác chung tàu khách và tàu hàng có tốc độ 200km/giờ” được nhiều nhà quản lý và chuyên gia đánh giá cao, bảo đảm tính khả thi về mặt kỹ thuật, các doanh nghiệp trong nước có thể tiếp cận hoặc liên kết thực hiện, hạn chế các doanh nghiệp nước ngoài thâu tóm các hợp đồng có giá trị lớn thuộc dự án… Hơn nữa, tránh độc quyền và bị lệ thuộc công nghệ, đỡ lãng phí, tăng khả năng xã hội hóa đầu tư.

Đường sắt cao tốc Bắc – Nam: Chọn sai là có tội với dân, với nước

MPI chọn phương án nâng cấp tuyến đường sắt hiện tại thành đường đôi khổ 1.435mm có tốc độ 200km/giờ.

Báo chí cũng cho hay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã chỉ ra những bất cập trong phương án do Bộ Giao thông Vận tải đệ trình. Chẳng hạn, sau khi kết thúc giai đoạn 1, hoàn thành đầu tư đoạn Hà Nội – Vinh và Nha Trang – TP.HCM vào năm 2032, năng lực khai thác 2 tuyến này đạt 364.000 hành khách/ngày.

Trong khi dự báo số lượng hành khách trên 2 đoạn tuyến này vào năm 2035 chỉ đạt từ 55.000 – 58.000 hành khách/ngày, tức chỉ gần 16% công suất đầu tư. Ngoài ra, khi đầu tư dự án đường sắt tốc độ 350km/giờ chỉ để chở khách mà không phục vụ vận tải hàng hóa là quá dư thừa và lãng phí.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng dẫn chứng từ kinh nghiệm nâng cấp tuyến đường sắt cũ chở hàng hóa và đầu tư xây dựng mới một tuyến đường sắt tốc độ cao chuyên chở khách ở Hà Lan. Chính phủ nước này sau khi đánh giá, so sánh đã không thực hiện tuyến đường sắt Dusseldorf – Amsterdam từ 200km/giờ lên 300km/giờ vì chi phí vận hành tăng từ 1,8 tỉ euro lên 3,4 tỉ euro và không phát huy tối đa hiệu quả. Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng phương án làm đường sắt tốc độ cao có vận tốc tối đa 200km/giờ là phù hợp, giảm chi phí đầu tư.

Đường sắt tốc độ cao cực kỳ tốn kém và thường chỉ dành cho những quốc gia có sẵn nguồn lực và nền kinh tế mạnh, GDP gấp nhiều lần Việt Nam, đều đã hoàn thành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm chủ công nghệ tiên tiến như Nhật Bản, Pháp, Đức, Ý, Trung Quốc, Tây Ban Nha…

Không phải quốc gia nào giàu có, làm chủ khoa học công nghệ kỹ thuật cũng làm đường sắt tốc độ cao nếu nhận thấy không phù hợp hay ít hiệu quả hơn phương án đầu tư khác. Hà Lan, như đã nêu, là minh chứng rõ ràng nhất vì họ nhận thấy dự án không phát huy tối đa hiệu quả. Mỹ là nước giàu có nhưng ưu tiên xây dựng một mạng lưới đường bộ cao tốc liên bang, hệ thống giao thông đường bộ và hàng không rất thuận lợi trong vận chuyển, đi lại cho mọi người dân, liên kết khắp các vùng giúp phát triển kinh tế mà không chọn đường sắt cao tốc.

Đường sắt cao tốc liên quan đến nhiều lĩnh vực về khoa học, công nghệ, kỹ thuật, kinh tế, xã hội và vốn đầu tư… Riêng về kỹ thuật cũng bao gồm nhiều chuyên ngành tương trợ với nhau như quỹ đất xây dựng, cầu đường, kiến trúc, thông tin, sức kéo, vận tải. Điều này đòi hỏi đưa ra nhiều phương án, giải pháp so sánh và phản biện mới có thể chọn phương án tốt nhất, giảm thiểu rủi ro, mang đến hiệu quả lâu dài.

Đầu tư đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, trước tiên hãy nghĩ tới hiệu quả và vốn không quá lớn để có giá vé phù hợp cho số đông người dân sử dụng dịch vụ. Nếu giá vé cao sẽ khó cạnh tranh với hàng không. Đó còn là tính khả thi, thuận lợi cho dự án. Làm đường sắt tốc độ cao phù hợp với điều kiện và nhu cầu phát triển, tránh lãnh phí. 

Hàn Quốc và Đài Loan cũng e dè

Tại châu Á, nhiều tuyến đường sắt tốc độ cao khai thác không thu hồi được vốn, thậm chí phải dừng hoạt động. Bởi đầu tư xây dựng mới với chi phí quá cao, đòi hỏi phải tăng giá vé để thu hồi vốn.

Hàn Quốc từng xây dựng một tuyến đường sắt tốc độ cao nối thủ đô Seoul với sân bay Incheon, mới đây đã dừng hoạt động sau 4 năm đưa vào sử dụng vì lỗ nặng, giá vé lại cao, không cạnh tranh nổi với các phương tiện khác và xe buýt cao tốc.

Đài Loan làm đường sắt tốc độ cao dài 350km sử dụng công nghệ Nhật Bản, khai trương năm 2007. Theo tính toán, mỗi ngày sẽ thu hút 240 ngàn lượt hành khách trong năm đầu tiên nhưng thực tế sau gần 7 năm khai thác, trung bình mỗi ngày chỉ đạt 130 ngàn lượt hành khách, khiến thua lỗ hơn 1,5 tỉ USD. Năm 2015, nhằm duy trì hoạt động tuyến đường sắt tốc độ cao, chính quyền phải chi ngân sách giải cứu với số tiền hơn 1 tỉ USD.

Hơn nữa là tính khả thi, không đội vốn. Ta đã có cả một “bảo tàng kinh nghiệm thất bại” trong đầu tư tuyến đường sắt Cát Linh – Hà Đông tại Hà Nội, hết sức lưu ý để tránh lặp lại.

Dự án đường sắt Cát Linh – Hà Đông chỉ dài 13,5 km thế nhưng đến nay đã 8 lần lỡ hẹn, đội vốn lên gần gấp đôi, chậm tiến độ hơn 5 năm so với kế hoạch được duyệt… Đáng chú ý, dù chỉ còn 1% khối lượng công việc nhưng vẫn chưa biết bao giờ mới đưa vào khai thác.

Khâu quản lý, điều hành yếu kém. Dự án phải điều chỉnh tổng mức đầu tư từ 8.7700 tỷ đồng lên 18.000 tỷ đồng, tăng hơn 200%. Riêng phần đội vốn 250 triệu USD, phải trả nợ trong 9 năm cả gốc lẫn lãi là 650 tỉ/năm. Sau 8 lần lỡ hẹn, chậm tiến độ hơn 5 năm, đến nay vẫn chưa biết bao giờ mới có thể khai thác. Ta làm quản lý nhà nước, chủ đầu tư nhưng lại để nhà thầu dẫn dắt và phải chạy theo. Có lẽ đây bài học lớn và đắt giá nhất từ trước đến nay trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, lựa chọn nguồn vốn và cung cấp công nghệ thiết bị.

Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, 2 phương án có tính năng gần tương đương nhau nhưng lại chênh lệch quá lớn chi phí đầu tư lên tới 32 tỉ USD là khoản tiền quá khủng với một đất nước mới thoát nghèo, nợ công lên đến 3,5 triệu tỉ đồng chiếm 61,4% GDP năm 2018. Trong khi nước ta, vốn đầu tư cho các công trình giao thông còn thiếu trước hụt sau, hàng loạt dự án dân sinh đã quy hoạch từ nhiều năm nhưng vẫn chưa thể thực hiện vì thiếu vốn.

Dự án đường sắt tốc độ cao, cần xem xét cẩn trọng. Trong điều kiện hiện nay nước ta có thu nhập trung bình, nợ công đã cận ngưỡng cho phép và sức ép trả nợ vay cũ tăng từng năm. Chọn phương án sao phù hợp với điều kiện và nhu cầu phát triển, mang lại hiệu quả, đảm bảo khả năng thu hồi vốn và tham gia nội địa hóa cao, giảm thiểu rủi ro, tránh phụ thuộc vào công nghệ và chuyên gia nước ngoài trong cung cấp, lắp đặt, vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng, phụ tùng thay thế.

Nếu công tác quản lý lỏng lẻo khiến nhiều dự án giao thông đội vốn, đất nước càng càng thêm nặng gánh nợ nước ngoài, thì làm đường sắt tốc độ cao quá dư thừa và lãng phí sẽ thiệt hại càng lớn, đồng nghĩa với phải trả giá càng cao. Không chỉ lợi ích quốc giá mất đi, quan trọng hơn là làm giảm lòng tin nhân dân.

Nước ta còn nhiều dự án cấp bách phải làm. Nếu không tính toán cẩn trọng, lường hết các rủi ro, chọn phương án đầu tư đường sắt tốc độ cao không hiệu quả sẽ dẫn đến thiệt hại khôn lường. Chưa kể phải sửa sai vì đầu tư lãng phí, mất đi cơ hội phát triển các dự án phục vụ kinh tế và giải quyết việc làm. Thất thoát nhiều khi không đáng lo sợ bằng quyết định đầu tư sai lầm.

Những chủ trương và quyết định đúng đắn, trước đó luôn cần phản biện và đánh giá độc lập để tránh dựa vào cảm tính hoặc ý chí cá nhân hay “lợi ích nhóm”. Nước ta không thiếu người có tâm huyết, chuyên môn và kiến thức để tìm ra giải pháp tốt ưu cho dự án đường sắt tốc độ cao. Lo là cơ quan nhà nước lắm khi không chú trọng đến nguồn lực này, xem các phản biện hay nhận xét và đánh giá trái ý là những điều khó chịu, khó nghe, không muốn.

Tôi ủng hộ ý kiến Bộ Kế hoạch và Đầu tư kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét thành lập Hội đồng thẩm định Nhà nước tổ chức thẩm định báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án đường sắt tốc độ cao bảo đảm độc lập, khách quan với đơn vị tư vấn lập dự án này. Nên chăng mở thêm diễn đàn cho các nhà quản lý, chuyên gia trong và ngoài nước góp ý. Chọn sai phương án đầu tư đường sắt tốc độ cao dẫn đến lãng phí là có tội với dân, với nước. 

T.V.T.

Nguồn: https://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/duong-sat-cao-toc-bac-nam-chon-sai-la-co-toi-voi-dan-voi-nuoc-548844.html

Sau một tháng kiến nghị của 118 văn nghệ sĩ trí thức nổi tiếng VN yêu cầu 18 vị lãnh đạo QG không để cho các nhà đầu tư, thầu Trung cộng làm đường cao tốc và đường sắt cao tốc Bắc – Nam, hôm qua người đại diện là nhạc sĩ Phó Đức Phương mới nhận được một trả lời chính thức.

Dù quá muộn nhưng gã cũng hoan nghênh trả lời này của bộ trưởng KHĐT Nguyễn Chí Dũng. Gã gửi kèm thư trả lời của ngài bộ trưởng ý kiến của bà Phạm Chi Lan một chuyên gia kinh tế vô cùng nhiệt huyết với đất nước để bạn đọc của gã hiểu hơn các nhẽ trong câu chuyện này.

“Thưa anh Phó Đức Phương!

Cảm ơn anh đã chuyển cho xem thư của Bộ trưởng Bộ KH-ĐT. Có trả lời chính thức thế này là khá lắm rồi, dù trả lời quá chậm. Xưa nay các quan không có thói quen trả lời dân đâu (không gây sự, bắt bớ là “tử tế” lắm rồi!).

Lần này chắc vì tên tuổi của 118 vị ký kiến nghị lớn quá, khiến họ không dám làm ngơ. Cũng không rõ đây là “sáng kiến cá nhân” của ông bộ trưởng, hay là ông được phân công viết thư trả lời nữa. Dù sao, bộ trưởng này cũng thật khôn, gửi thư này vừa tỏ ra tiếp thu ý kiến các anh với thái độ nhũn nhặn và cảm ơn đàng hoàng, vừa đá tiếp quả bóng sang Bộ GTVT!

Thật ra bên trong thì Thủ tướng là người phản hồi sớm hơn cả đối với kiến nghị của các anh (và chắc của công luận nói chung nữa). Ngày 7/6, Ttg đã có công văn cho Bộ GTVT, yêu cầu xem lại các quy định để tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong nước tham gia đấu thầu làm đường cao tốc Bắc-Nam. Vài hôm sau, giải trình trước Quốc hội, bộ trưởng bộ GTVT đã phải nói rõ rằng các quy định đã được điều chỉnh để các nhà đầu tư trong nước có thể hợp vốn, hợp danh để tham gia…

Gần đây nhất, Bộ GTVT công bố có 26 nhà đầu tư trong nước và 14 nhà đầu tư nước ngoài gồm nhiều quốc tịch Anh, Nhật, Mỹ, Hàn quốc, TQ… mua đơn thầu rồi. Vậy là bước đầu đã có thay đổi lớn so với tuyên bố của tay thứ trưởng Bộ GTVT hồi cuối tháng 4 rằng chỉ có nhà đầu tư Trung Quốc quan tâm…

Tuy nhiên, giai đoạn tới khi người ta xét sơ tuyển, rồi tuyển chọn nhà đầu tư vào các vòng sau mới thật rắc rối đây. Sẽ có thể có trăm phương nghìn kế để gạt bỏ các nhà đầu tư trong nước và các nhà thầu nước ngoài không phải TQ ra, để rồi rút cục hầu hết các gói thầu lại rơi vào tay TQ. Anh xem bài 1 trong chuỗi 3 bài phỏng vấn về dự án ĐCTBN trên tờ Ngưởi Đô thị thì biết. Vậy là chúng ta sẽ phải “chiến đấu” tiếp.

Một lần nữa, xin cảm ơn anh và 117 anh chị đã có bản kiến nghị rất đắt giá. Lũ “chuyên gia kinh tế” chúng tôi có nói đến mấy cũng không thể có tác động bằng vài lời các anh chị cùng nhau lên tiếng!

Thân kính,

PCLan”

Lưu Trọng Văn

‘MỔ XẺ’  DỰ ÁN ĐƯỜNG SẮT CAO TỐC BẮC-NAM KIM TỰ THÁP CỦA VIỆT NAM

TÔ VĂN TRƯỜNG/ BVN 14-7-2019

Vì sao đất nước ta còn nghèo, ngân sách thu không đủ chi, trong khi nợ công, nợ xấu đang là đại vấn đề, có thể gây ra các bất ổn trong xã hội nhưng người ta vẫn “say mê” các siêu dự án, trong đó có dự án khủng như đường sắt cao tốc Bắc Nam, dù biết hiệu quả kinh tế rất thấp, chưa kể đến các mặt tác động xấu đến môi trường xã hội? Lý do đơn giản, chỉ cần Quốc hội “bấm nút” thông qua chủ trương sẽ có bẫm tiền về khoản “Tư vấn”. Sau này, dù cho dự án có phải STOP thì tiền tư vấn đã bỏ túi, lại được tiếng là biết lắng nghe các ý kiến phản biện xã hội!

Cách đây gần chục năm Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Hồ Nghĩa Dũng đã không thuyết phục được các đại biểu Quốc hội “bấm nút” ủng hộ dự án đường sắt cao tốc Bắc-Nam đầu tư 56 tỷ đô la vì khi “Phân tích kinh tế dự án đầu tư” các chuyên gia và đại biểu Quốc hội đã chỉ ra hiệu quả tài chính của dự án rất thấp, chỉ số nội hoàn tài chính (FIRR) chỉ đạt 2,4 – 3,0%. Trong khi đó, suất thu lợi tối thiểu chấp nhận được, phải khoảng 8%, nếu tính theo USD.

Ngày nay, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Nguyễn Văn Thể lại tiếp tục đưa ra dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam, vẫn chỉ dành cho vận chuyển hành khách “chỉ xách theo ca táp” với nguồn vốn đầu tư rất khủng: 58,7 tỷ đô la, trong khi Bộ Kế hoạch & Đầu tư phản bác, đưa ra phương án đầu tư khác 26 tỷ đô la (chênh lệch đến hơn 32 tỷ đô la) gây nên cơn bão tranh luận trong xã hội.

Người dân, và nhiều nhà khoa học vẫn chưa quên bài học kinh nghiệm quý báu về dự án thủy điện Sơn La. Hồi ấy, việc lựa chọn phương án quy mô lớn hay nhỏ cho Sơn La có vốn đầu tư chỉ từ 2,4 đến 3,6 tỷ USD mà cả nước, kể cả Quốc hội và Chính phủ, đã phải “quần quật” đến gần 10 năm trời từ 1992 đến 2001 để có thể đi đến quyết định cuối cùng. Trong quá trình đó, đã có hàng chục cuộc hội thảo để tranh luận trên cả hai miền Nam – Bắc với hàng trăm cán bộ khoa học phản biện, và cũng có đến 3 tổ chức tư vấn độc lập của nước ngoài tham gia.

Khi các thành viên Chính phủ bỏ phiếu quyết định lựa chọn phương án thì số người ủng hộ phương án Sơn La trung bình chỉ là thiểu số ít ỏi. Các nhà khoa học trong cả nước, đặc biệt là Hội Thủy lợi Việt Nam đã quyết liệt bảo vệ quan điểm phương án Sơn La trung bình với các luận chứng khoa học, phân tích sâu về bài toán hệ thống, các yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường và liên hệ với thực tế. Sau đó, Chính phủ đã họp lại, lắng nghe, phân tích và tiếp thu ý kiến của các nhà khoa học, thay đổi quyết định chọn phương án Sơn La trung bình như ngày nay vừa tiết kiệm, vừa đạt hiệu quả kinh tế, vừa an toàn hơn.

Bài học kinh nghiệm của các nước.

Đài Loan là nước nhập công nghệ Shinkansen của Nhật Bản nhưng lại thất bại trong việc kiểm soát và làm chủ nó. Đài Loan phụ thuộc vào phía nhà cung cấp Nhật Bản, khi nào có trục trặc, rủi ro đều phải mời chuyên gia Nhật Bản sang và tất nhiên phải trả tiền rất đắt. Ngược lại, Trung Quốc khác hẳn Việt Nam, họ khôn ngoan mở cửa cho cả Đức, Pháp vào để cạnh tranh nên Nhật Bản bị ép rất nhiều như phải chuyển giao công nghệ hoàn toàn, phải sản xuất và lắp đặt ở ngay Trung Quốc và cho chuyên gia, nhà thầu Trung Quốc tham gia khiến Nhật Bản phải ngao ngán. Đặc biệt Hàn Quốc đã dạy cho Pháp và châu Âu một bài học đau đớn về chuyển giao công nghệ tàu cao tốc bằng việc qua mặt Alstom-TGV thắng gói thầu tàu cao tốc ở Brazil với công nghệ KTX-II được phát triển dựa trên chính công nghệ TGV của Pháp.

Canada đã sử dụng loại tàu “Turbo Train” có tốc độ đến 230-260 km/giờ, nhưng sau đó không dùng nữa, một phần vì lý do kỹ thuật, phần khác vì hiệu quả kinh tế kém. Ở Canada người ta đã tính toán các phương án cho một tuyến đường và thấy tàu khách cao tốc 300 km/giờ không có lợi ích rõ rệt so với loại tàu khách nhanh 240 km/giờ, nhưng vốn xây dựng lại gấp rưỡi, trong khi thời gian ngồi tàu chỉ giảm được một phần tư.

Ngay cả Trung Quốc cũng đã phải trả giá cho sự lựa chọn sai lầm của mình. khi xây dựng tuyến đường sắt cao tốc đầu tiên từ ga Lunyang Lu Thượng Hải ra sân bay Pudong đạt tốc độ nhanh nhất thế giới (cho đến hiện nay) là 431km/giờ chạy trên đệm từ, nhưng không thu hút được khách vì giá vé quá cao (do chi phí đầu tư quá lớn) và do chọn sai vị trí ga đầu (không phải là từ trung tâm của Thượng Hải). Tuyến đường sắt cao tốc nhanh nhất và đắt nhất thế giới này ở Trung Quốc hiện chỉ phục vụ cho các khách du lịch (do các công ty du lịch ép khách phải sử dụng khi ra sân bay).

Trung Quốc đã rút ra 5 bài học là (1) Lựa chọn công nghệ phù hợp & phát triển đường sắt cao tốc có kế hoạch; (2) Giá vé phải rẻ; (3) Trợ giá, để cạnh tranh được với phương tiện máy bay; (4) Rủi ro lớn nhất của đường sắt cao tốc là tham nhũng (5) Khó khăn lớn nhất của đường sắt cao tốc là không bao giờ hoàn vốn được.

Nỗi lo này chẳng của riêng ai.

Nợ công là vấn đề mang tính toàn cầu, nghĩa là nước nào cũng phải đối mặt. Nỗi lo này cũng chẳng của riêng ai. Trong quá trình toàn cầu hóa, nợ công đang trở thành gánh nặng đối với các nước nghèo và có thể là một trong những nguyên nhân gây bất ổn chính trị, ảnh hưởng xấu đến chủ quyền quốc gia. Vậy mà ở nước ta vẫn còn nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều nơi, nhiều người bình chân như vại, quen tiêu tiền đi vay như “tiền chùa”! Đã đến lúc phải gióng lên hồi chuông báo động trước thói quen tai hại đó. Bởi nếu không căn cơ, tằn tiện, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn, không kiểm soát chặt chẽ nguồn vốn vay thì sẽ không chỉ có một mà nhiều Vinashin! Không nói ra, ai cũng hiểu khi không có khả năng trả nợ thì đó sẽ là thảm họa dân tộc thực sự!

Trong Đông y, để chữa bệnh, người ta đòi hỏi thuốc tốt phải có đủ 3 đặc tính đó là “dẫn”, “dưỡng” và “trị”. Cùng một loại bệnh nhưng tùy vào thể trạng của mỗi người mà có cách chữa trị khác nhau mới hiệu quả. Thầy thuốc khổ nhất, khi khám chữa bệnh gặp phải anh bệnh nhân nhà nghèo, cơ thể ốm yếu, không am hiểu về thuốc, nhưng cứ nằng nặc đòi khỏe ngay và yêu cầu dùng loại thuốc càng đắt tiền, càng tốt. Anh ta chỉ nghĩ đến mình, dù có mệnh hề gì đã có con cháu lo, kể cả suốt đời phải “kéo cày, trả nợ”! Nhưng nghĩ đến mình như vậy cũng là nghĩ dại. Bởi người yếu quá thì cần phải “dưỡng” nhiều hơn. Có thể hiểu rằng một cơ thể yếu ớt mà dùng thuốc chỉ có “trị” mà không “dẫn”, và “dưỡng”, thì cái nguy ắt sẽ đến, rất dễ “tắc tử”!

Giải pháp về phát triển hạ tầng giao thông.

Có 2 quan điểm chính thống về vai trò, lợi ích phát triển cơ sở hạ tầng giao thông. Quan điểm thứ nhất là “Demand led view”: mô hình phát triển cơ sở hạ tầng chạy theo sự gia tăng của nhu cầu giao thông. Đây là hướng bị động. Kinh tế phát triển dẫn đến nhu cầu đi lại của người dân và vận chuyển hàng hóa tăng cao dẫn đến nhu cầu đầu tư mở rộng, nâng cấp, làm mới để nâng cao năng lực vận chuyển của hệ thống giao thông. Theo quan điểm này, cơ sở hạ tầng giao thông chỉ đóng vai trò là “facilitator” (phương tiện hỗ trợ) làm quá trình cho phát triển kinh tế xã hội diễn ra thuận lợi hơn, việc nâng cấp/xây mới các tuyến giao thông chỉ là điều kiện “cần thiết” mà chưa phải là điều kiện “đủ” cho sự phát triển.

Quan điểm thứ 2 là “Supply led view”: Hướng chủ động cung cấp, chuẩn bị về cơ sở hạ tầng giao thông để đáp ứng nhu cầu về giao thông trong tương lai hoặc chủ động để kích thích phát triển sản xuất. Theo quan điểm này, sự nâng cấp mở rộng hệ thống giao thông tất yếu sẽ dẫn đến kích thích phát triển kinh tế. Minh chứng là khi có giao thông tốt sẽ mở rộng thị trường hiện taị ở các địa phương, đồng thời mở ra các thị trường mới ở xa hơn, gia tăng nhu cầu tiêu dùng, nguồn lực sản xuất, thu nhập ở địa phương cao hơn. Đây gọi là ảnh hưởng cấp số nhân (multiplier effects). Việc xây dựng cơ sở hạ tầng dịch vụ giao thông tạo ra công ăn, việc làm cho nhiều người. Theo quan điểm này, giao thông vận tải đóng vai trò là “động lực” của phát triển kinh tế xã hội và thường đúng với các siêu dự án cơ sở hạ tầng nhưng muốn thực thi phải có điều kiện cần và đủ.

Muốn đảm bảo cho hệ thống giao thông vận tải phát triển bền vững, hiệu quả trong tương lai, đường sắt cao tốc phải xuất hiện đúng thời điểm, trên cơ sở tính toán kỹ lưỡng tính khả thi của dự án, hiệu quả kinh tế, khả năng hoàn vốn, làm chủ công nghệ, khả năng chi trả, nguồn nhân lực v.v… Dự án của Bộ Giao thông đưa ra các phương án nhưng mục đích chỉ quy về dự án cao tốc bỏ qua tốc độ cao. Mục tiêu phải là vận tải hành khách và hàng hóa dọc Bắc Nam bằng đường sắt một cách kinh tế nhất trong vòng 100 năm. Từ đấy, mới so sánh tính toán các phương án. Lúc đó, phương án đường sắt cao tốc sẽ xuống hàng thứ yếu vì không vận tải được hàng hóa.

Về phía Nhật Bản, từ năm 1999 JICA đã tiến hành khảo sát lập quy hoạch phát triển tổng thể hệ thống giao thông Việt Nam, gọi là Vitranss 1. Hồi đó, đã bắt đầu nhen nhóm đề xuất về Shinkansen ở VN. Trong khoảng thời gian từ 2000 đến 2008, giới tư nhân chuyên về phát triển đường sắt của Nhật đã lobby Chính phủ Nhật tìm cách bán công nghệ Shinkansen của họ. Năm 2008, Chính phủ Nhật quyết định chi tiền để làm Vitranss 2, chính thức đề xuất Shinkansen. Nhật Bản rất muốn bán Shinkansen sang Việt Nam bởi từ trước đến nay họ mới chỉ thành công thương vụ này ở Đài Loan, tuy nhiên, hiện nay do một số nguyên nhân vẫn chưa hoàn chỉnh.

Đường sắt Bắc-Nam phải đóng vai trò như cột sống của đất nước, bên cạnh đường bộ và đường thủy là hệ tuần hoàn và thần kinh. Từ trục đường sắt này cần phát triển các tuyến đường xương cá nối các địa phương của cả nước, đặc biệt mở nhiều tuyến ra biển để có thể vận chuyển vật liệu xây dựng (đá, đất v.v…) mở rộng bờ cõi ở những nơi có thể. Căn cứ vào nhu cầu và thực tế, cần ưu tiên nghiên cứu kỹ phương án đường sắt Bắc- Nam khổ rộng 1,435 m, tốc độ cao khoảng 200 km/giờ vận chuyển được cả hành khách và hàng hóa.

Đường sắt cao tốc, Bộ Giao thông đắt đỏ 58 tỷ USD, Bộ Kế hoạch tiết kiệm 32 tỷ USD

Nhiều nước chỉ chạy tàu cao tốc 200km/giờ. Ảnh minh họa

Lời kết

Đường sắt Bắc–Nam là loại dự án có nhiều mục tiêu và từ đó có thể hình thành nhiều tiêu chí (không có cùng độ đo) để lựa chọn phương án, ở dạng thủ tục “Ra quyết định đa tiêu chí”. Khi đó, việc xây dựng các phương án, kể cả cách thức phân đoạn đầu tư, sao cho các cứ liệu có độ tin cậy cao, có khả năng thực thi, “định giá” các tiêu chí, phân tích rủi ro, đánh giá tác động môi trường v.v… là trách nhiệm của cơ quan tư vấn và các chuyên gia phản biện.

Dự án đường sắt cao tốc Bắc-Nam theo đề nghị của Bộ Giao thông rất viển vông, nếu được triển khai thì rủi ro khó lường, sẽ biến thành “kim tự tháp” mà chưa chắc đã được coi là di sản văn hóa thế giới như các kim tự tháp thật! Thậm chí, nó sẽ bị các thế hệ mai sau oán trách, vì sự chơi ngông theo kiểu “con nhà lính, tính nhà quan” mà cái giá phải trả cho sự chơi ngông này không chỉ là để lại gánh nặng nợ nần cho đời sau. Rất nhiều khả năng đó sẽ là hậu quả nhãn tiền không chỉ đơn thuần về kinh tế.

T.V.T.

Tác giả gửi BVN

KHÔNG THỂ XÂY ĐƯỜNG SẮT CAO TỐC 350 Km/h

NGUYỄN GIA VINH/ TVN 14-7-2019

Gần nửa thế kỷ từ ngày thống nhất đến nay, Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) đã bỏ quên đầu tư phát triển ngành vận tải đường sắt. Ai cũng phải thừa nhận vận tải đường sắt an toàn nhất và giá rẻ hơn vận tải đường bộ vì 1 hay 2 đầu máy có thể kéo vài chục toa.

Sau chiến tranh thế giới thứ 2, các nước châu Âu nhất là Nga đã xây dựng hệ thống đường sắt đôi khổ 1,435m được điện khí hóa, vận tốc 100-120km/h đến nay vẫn rất thuận tiện cho vận chuyển hàng và người.

Lợi thế của vận tải đường sắt là rất lớn so với đường bộ nên khi đặt chân lên nước ta, người Pháp đã tiến hành xây dựng ngay tuyến đường sắt xuyên Việt. Cách đây 100 năm họ đã thấy điều đó mà ta thì không thấy, chỉ tập trung phát triển đường bộ.

Tuyến đường sắt chạy suốt chiều dài đất nước như cột xương sống liên kết các vùng kinh tế và các trung tâm dân cư, giúp chuyên chở một khối lượng hàng hóa và hành khách vô cùng lớn. Vì vậy xây dựng một tuyến đường sắt để chuyên chở cả hàng hóa và hành khách là cần thiết, cấp bách. Tiếc là chúng ta đã bỏ quên nó quá lâu rồi.

Hiện nay vận tải hàng hóa và hành khách bằng đường bộ chiếm tỷ trọng áp đảo so với đường sắt và đường thủy nhưng bộ GTVT chưa có kế hoạch cụ thể nào để thay đổi cơ cấu vận tải bất hợp lý này (vận tải hành khách: đường bộ 95%, đường sắt 1,5%, còn lại là vận tải đường thủy; vận tải hàng hóa: đường bộ 75%, đường sắt dưới 3%, còn lại là vạn tải đường thủy).

Không thể xây đường sắt cao tốc 350 km/h

Hệ thống đường sắt hơn trăm năm tuổi đã quá lạc hậu.

Thế nhưng Bộ lại đề xuất xây dựng một tuyến đường sắt cao tốc 350km/h với vốn đầu tư 58 tỷ USD vô cùng tốn kém chỉ để vận chuyển hành khách nội địa và thời gian xây dựng 30 năm. 

Phát triển hạ tầng giao thông làm động lực cho phát triển kinh tế xã hội nên thời gian xây dựng đưa vào vận hành công trình là vô cùng quan trọng; mất thời gian là mất tiền, mất cơ hội, và sự tụt hậu so với thế giới càng sâu. Chưa tính trong 30 năm đó nếu trượt giá 6%/năm, không kể đội vốn vì những lý do khác thì khi hoàn thành, tổng mức đầu tư sẽ lên gần 100 tỷ USD.

Với vận tốc trung bình của tàu khách là 60km/h, Hà Nội – TP HCM đi mất 30h, tàu hàng còn chậm hơn, hệ thống đường sắt của chúng ta đã quá lạc hậu. Bên cạnh đó, hệ thống được xây dựng cách đây gần 100 năm với vận tốc 30-40km/h, bán kính đường cong, độ dốc, khổ đường (1m), nền móng không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật để tăng vận tốc tàu.

Nên việc xây mới một tuyến đường khổ 1,435m với vận tốc trung bình 160-200km/h, chi phí 26 tỷ USD (theo Bộ KH&ĐT), để vận tải cả hành khách và hàng hóa là hết sức cần thiết, phù hợp với khả năng nền kinh tế và đáp ứng được các nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng trong hiện tại và cả trong tương lai.

Để chứng minh điều đó tôi xin nêu những những lý do sau đây:

Thứ nhất, tàu hàng chạy với vận tốc 150km/h, vận chuyển hàng hóa giữa các vùng cách nhau 300-600km mất từ 2 đến 4 tiếng, từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Hà Nội mất 10-12 tiếng, nhanh hơn 3 lần so với đường bộ (hiện nay chuyển 1 container từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Hà nội mất 36-48 tiếng).

Chí phí vận tải đường sắt rẻ hơn đường bộ, thời gian nhanh hơn thì lợi thế cạnh tranh sẽ cao hơn, chắc chắn sẽ thu hút được một lượng lớn hàng hóa, nhất là hàng trái cây, nông sản, thủy sản từ miền Nam xuất khẩu sang Trung Quốc với khối lượng hàng triệu tấn năm, riêng gạo hơn 2 triệu tấn (hàng xuất khẩu nông sản bằng con đường tiểu ngạch chiếm 60-70%, chủ yếu vận chuyển bằng đường bộ).

Lượng hàng hóa vận chuyển giữa vác vùng trong cự ly 300 – 600km cũng vô cùng lớn. Đường sắt tốt giảm tải cho đường bộ, chi phí đầu tư xây dựng và bảo dưỡng đường bộ giảm, cơ cấu đầu tư toàn xã hội sẽ hiệu quả hơn. Tất nhiên cần đầu tư ga hàng hóa hiện đại, bốc xếp hàng nhanh chóng, kết nối với đường bộ tốt.

Thứ hai, tầu khách chạy trung bình 180km/h, Hà Nội-Vinh đi mất 2 tiếng, Hà Nội- Đà Nẵng 5 tiếng, Hà Nôi-Thành phố Hồ Chí Minh đi mất 9-10 tiếng.

Đi tàu thuận tiện hơn cho khách đi các ga lẻ. Thời gian và quãng đường đi từ ga tàu về nhà chắc chắn ngắn hơn nhiều so với việc đi từ cảng hàng không về, nếu tính cả thời gian làm thủ tục lên máy bay thì tổng thời gian gần tương đương nhau; chi phí đi lại đến ga tầu ít hơn đi máy bay vì ga thường nằm trung tâm thành phố thị xã trên dọc đường, nên tổng chi phí đi lại sẽ thấp hơn nhiều so với đi máy bay, hành lý mang được nhiều hơn.

Thời gian chạy tàu ngắn không cần đầu tư toa giường nằm, chỉ cần ghế ngồi êm, thoải mái, tiết kiệm đầu tư toa xe, lượng khách chở mỗi toa được nhiều hơn cộng với đầu tư làm đường thấp, giá vé sẽ hợp lý với đại đa số người dân và khách du lịch. Với những ưu điểm như thế sẽ thu hút lượng khách rất lớn đi tàu.

Thứ ba, ngoài việc chở khách đi chơi đi du lịch, còn có thể chở người đi làm, về quê nghỉ cuối tuần trong phạm vi 50km, thậm chí 100km mất trên dưới 30 phút; sẽ giảm ùn tắc giao thông cửa ngõ thành phố lớn, giảm mật độ dân đô thị. Chi phí xây dựng hạ tầng đô thị sẽ giảm theo. Nhân công các vùng nông thôn sẽ có điều kiện tìm kiếm việc ở các trung tâm đô thị và khu công nghiệp lớn, mà không phải thuê nhà ở, kể cả những công việc thời vụ, tạo nguồn thu cải thiện đời sống. Lợi ích kinh tế xã hội rất lớn không tính hết được.

Thứ tư, sau khi đã hoàn thành tuyến xương sống, ta huy động nguồn lực các doanh nghiệp trong nước cùng nhà nước xây dựng các tuyến nhánh. Ở miền Bắc là các tuyến Hà Nội – Hải phòng, Hà Nội – Lạng Sơn, Hà Nội- Lào Cai. Ở miền Nam là Thành phố Hồ Chí Minh – Cần Thơ, Thành phố Hồ Chí Minh -Đà Lạt, Thành phố Hồ Chí Minh – Vũng Tầu, Cần Thơ-Cà Mau, Phan Rang-Đà Lạt- Buôn Ma Thuật- Playku.

Tất cả các tuyến nhánh như thế cộng lại khoảng 1.600 km. 10 năm xây dựng tuyến xương sống 26 tỷ; 20 năm xây dựng các tuyến nhánh 32 tỷ, thì trong vòng 30 năm với chi phí 58 tỷ USD ta sẽ có một mạng lưới đường sắt hoàn chỉnh trên toàn quốc, di chuyển thuận lợi và nhanh chóng giữa các vùng.

Hãy tưởng tượng Việt Nam có một mạng lưới đường sắt đôi, khổ rộng, được điện khí hóa, nối tất cả các thành phố lớn và khu công nghiệp tập trung với vận tốc gần 200km/h, thì ai bảo Việt Nam lạc hậu hay tụt hậu so với thế giới. Lúc đó đi từ Đồng Đăng tới Mũi Cà Mau (2000km) chỉ mất 14 tiếng. Quá tuyệt vời! Khách du lịch trong nước và ngoại quốc đi tàu sẽ rất đông.

Thứ năm, lộ trình thực hiện: trong vòng 10 năm xây dựng và đưa vào vận hành tuyến xương sống Hà Nội- Thành phố Hồ Chí Minh 1600km với chi phí 26 tỷ USD, 20 năm tiếp theo xây dựng từng tuyến nhánh tùy thuộc vào yêu cầu vận tải và khả năng huy động vốn. Sau 30 năm nữa nếu kinh tế phát triển có đủ khả năng, ta đầu tư xây các tuyến cao tốc chỉ chuyên chở khách với vận tốc  500km/h như Nhật hiện nay đang thử nghiệm, chứ không phải chỉ 350km/h. Lúc đó ta đã có đủ lực và kỹ thuật nên thời gian thi công cũng rất nhanh, đưa vào sử dụng nhanh, vốn đầu tư sẽ có hiệu quả hơn.

Thứ sáu, tới một thời điểm mạng lưới cao tốc 500km/h bao phủ toàn quốc thì tuyến 200km/h hiện nay sẽ trở thành tuyến vận chuyển hàng hóa là chính và vận chuyển khách cự ly ngắn nối các thành phố và trung tâm công nghiệp. Có thể tạm gọi là tàu điện cự ly 100-200km trở lại, vận tốc trung bình 120km/h (vì dừng nhiều ga). Ở Ba Lan trong những năm 70 thế kỷ trước họ có tuyến đường sắt chở khách nối giữa 3 thành phố Gdynia-Spot-Gdansk khoảng 40km, cứ 10 phút 1 chuyến, đoàn tàu chỉ có 3 toa, vận tốc 100km/h, đến nay vẫn đông khách, đi nhanh và thuận tiện.

Tóm lại, không nên xây tuyến đường sắt cao tốc 350 km/h theo phương án của Bộ Giao thông Vận tải mà cần xây dựng tuyến đường sắt 200km/h chắc chắn sẽ có hiệu quả kinh tế xã hội rất cao; không phải để cạnh tranh mà giảm áp lực cho đường bộ đang oằn mình chịu một lượng vận chuyển hàng và hành khách quá sức.

Nếu cứ tình trạng này trong thời gian 30 năm tới đường bộ sẽ luôn quá tải và còn phải đầu tư rất lớn như nâng cấp đường cao tốc từ 4 lên 6 làn xe, nâng cấp các tuyến khác từ 2 lên 4 làn xe, xây dựng thêm đường mới. Thực chất đường sắt cũng không cần cạnh tranh với hàng không như tư vấn bộ giao thông nói, vì hai phân khúc khách hàng khác nhau.

Với tâm huyết xây dựng đất nước tự cường vững mạnh, hy vọng ý kiến của những người như tôi sẽ được các cấp chính quyền tham khảo để có cái nhìn đa chiều, không chỉ theo một chiều của tư vấn.

Nguyễn Gia Vinh

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Bảy 13, 2019

20190713. KHÁI NIỆM ‘BẠN, THÙ’ CỦA ÔNG VÕ VĂN THƯỞNG ?

ĐIỂM BÁO MẠNG

ÔNG VÕ VĂN THƯỞNG CÓ NHẦM LẪN BẠN VÀ THÙ ? *

LÊ VĂN SINH / BBC 11-7-2019

Ông Võ Văn Thưởng

Ông Võ Văn Thưởng (thứ hai, trái sang, hàng trước) cùng các đại biểu tại Đại hội lần thứ 12 của Đảng Cộng sản Việt Nam

“Trên thế giới này, không có đồng minh vĩnh viễn hay kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia mới là vĩnh viễn,” đó là câu nói được nhiều người biết đến từ thế kỷ trước của cố Thủ tướng Anh, ngài Winston Churchill (1874-1965).

Sở dĩ tôi chợt nhớ tới câu nói này vì mới đây tại Việt Nam, báo chí và truyền thông có đưa tin bài về một phát biểu của đương kim Trưởng Ban Tuyên giáo của Đảng Cộng sản, ông Võ Văn Thưởng.

Trong phát biểu hôm 5/7/2019, ông Võ Văn Thưởng có nhắc đến khái niệm thù địch, mà theo phân loại của ông thì có ba nhóm:

  1. “Những người nghiên cứu lý luận thực tiễn ở các nước trong cuộc đấu tranh chính trị giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản.
  2. “Lực lượng cực đoan người Việt ở nước ngoài kết hợp với số chống đối, bất mãn trong nước để lập các tổ chứcnhư Việt Tân, Việt Nam Phục Quốc…;”
  3. “Lực lượng len lỏi, phức tạp không khó để nhận ra nhưng lại rất khó về đấu tranh đó là cán bộ, đảng viên, kể cả những đảng viên từng giữ chức vụ trung cao cấp trong bộ máy, hệ thống chính trị của chúng ta, suy thoái về tư tưởng chính trị, tự diễn biến, tự chuyển hóa.”

Trong quá khứ thì sao?

Nhân đây, chúng ta thử nhìn lại xem các lãnh tụ của Đảng Cộng sản Việt Nam, những người tiền bối của thế hệ ông Thưởng, đã xác định kẻ thù của Đảng này thế nào trong quá khứ.

Đảng Cộng sản Việt Nam, kể từ khi thành lập đã luôn xác định rõ ràng địch-ta, bạn-thù trong các thời kỳ tiến hành cách mạng dân tộc – dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa trước đây.

Thời Đảng lãnh đạo cách mạng dân tộc – dân chủ, kẻ thù của Đảng là các thế lực áp bức, thống trị dân tộc Việt.

Đó là ‘thực dân Pháp’, ‘phát xít Nhật’, ‘đế quốc Mỹ’ và sau có ‘bành trướng xâm lược Bắc Kinh’.

Người Việt, người nước ngoài nào phục vụ “thực dân, đế quốc và bành trướng Bắc Kinh”, hoặc hùa theo và bênh vực các thế lực này đều bị coi là kẻ thù.

Kẻ thù của Đảng cũng có thể được nhìn nhận là kẻ thù quốc gia.

Thời Đảng xây dựng chủ nghĩa xã hội, kẻ thù của Đảng là “bọn giàu có ở thành thị và thôn quê”.

Đảng CS coi họ là giai cấp bóc lột, phải bị tiêu diệt về mặt giai cấp.

Trên thực tế, tư sản, địa chủ đã bị xóa bỏ hoàn toàn chỉ trong vài ba năm.

Lúc này, kẻ thù của Đảng chưa hẳn là kẻ thù của dân tộc Việt Nam.

Tư hữu tư liệu sản xuất hàng ngày, hàng giờ đẻ ra tình trạng người bóc lột người, đẻ ra chủ nghĩa tư bản, như chính chỉ dẫn của cố TBT Lê Duẩn.

Tất cả các tầng lớp lao động ở thành thị và nông thôn đều được cải tạo xã hội chủ nghĩa nhưng họ không bị coi là kẻ thù.

Đảng có trách nhiệm lịch sử biến họ thành lực lượng xây dựng thành công xã hội xã hội chủ nghĩa, thời kỳ quá độ lên xã hội cộng sản ở Việt Nam.

Đảng mơ ước xây dựng một thiên đường trần thế trên đất nước Việt Nam. Thiên đường đó thế nào, Đảng biết, dân biết.

Việt Nam

Việt Nam đang có nhiều lĩnh vực mở ra với quốc tế và thế giới, trong đó có du lịch

‘Một cách gọi khác’

Những năm gần đây, khái niệm kẻ thù được thay bằng cụm từ “thế lực thù địch.” Xét về ý nghĩa, cụm từ này chỉ là một cách gọi khác của ” kẻ thù “.

Vậy chúng ta có thể thấy gì qua việc xác định kẻ thù của ông Thưởng và cũng là của Đảng?

Phải chăng ở đây người ta coi bất kỳ ai chống lại chủ nghĩa xã hội đều là kẻ thù?

Để đi tìm câu trả lời, xin được trích ra đây một vài phát biểu về chủ nghĩa xã hội của tổ chức, cá nhân nổi tiếng – những đối tác quan trọng mà Đảng mong muốn được họ công nhận Việt Nam là một nền kinh tế thị trường.

  • “Chủ nghĩa cộng sản một chủ nghĩa có những chính sách chống lại con người” – Quốc Hội Châu Âu
  • “Gần như ở nơi nào mà chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản đã được thử nghiệm, chúng cũng gây ra đau khổ, tham nhũng và mục nát. Cơn khát quyền lực của chủ nghĩa xã hội dẫn đến sự bành trướng, thôn tính và đàn áp… “Tất cả các quốc gia trên thế giới cần chống lại chủ nghĩa xã hội và sự bần cùng mà nó mang lại cho tất cả mọi người ” – Tổng thống Mỹ, Donald Trump nói tại Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc (27/9/2018)

Tới đây, lại có thể đặt câu hỏi là liệu tổ chức và những cá nhân này có là kẻ thù của đất nước, của nhân dân Việt Nam?

Người Việt Nam khác chính kiến, lập ra các đảng chính trị có bị coi là kẻ thù hay không?

‘Chưa hẳn là kẻ thù’

Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump
Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump trong một chuyến thăm tới Việt Nam 

EU

EU ra nghị quyết phê phán chủ nghĩa cộng sản nhưng các lãnh đạo của khối và lãnh đạo Việt Nam vẫn gặp gỡ, vậy thì ‘Ai là kẻ thù?’ theo tác giả Lê Văn Sinh

Theo tôi, họ có thể là kẻ thù của ông Võ Văn Thưởng, nhưng chưa hẳn là kẻ thù của đất nước.

Đất nước Việt Nam là của chung của người Việt Nam, không phải của riêng ai.

Đảng chính trị nào đấu tranh xây dựng một quốc gia Việt Nam hùng mạnh, thoát khỏi sự tụt hậu kinh tế, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia-dân tộc, xây dựng Việt Nam tự do, dân chủ, bình đẳng, nhân văn trên thực tế chứ không phải trên giấy thì không thể bị coi là kẻ thù dân tộc.

Còn việc coi những người đồng chí “tự chuyển hóa, tự diễn biến” là kẻ thù thì sao?

Đây được coi là việc nội bộ Đảng. Tuy nhiên, tự chuyển hóa, tự diễn biến là quá trình tự nhiên và lịch sử. Nó không chỉ có nghĩa xấu xa, tiêu cực mà còn có nghĩa tiến bộ, tích cực.

Có lẽ ông Trưởng Ban Tuyên Giáo phải nghiên cứu kỹ lưỡng vấn đề này, không thể nói khơi khơi được.

Với tôi, hình như, ông Thưởng đã quên lời dạy của cố Chủ tịch Hồ Chí Minh, rằng chính quyền cách mạng chỉ có hai kẻ thù “Giặc ngoại xâm và giặc nội xâm”.

Khi đã không xác định đúng kẻ thù quốc gia, e rằng người ta có thể nhầm lẫn bạn thành thù và thù thành bạn.

Và bi kịch của một quốc gia là ở đó.

* Tên bài báo: Việt Nam và vấn đề Đảng CS xác định ba ‘thế lực thù địch’

Bài viết thể hiện văn phong và phản ánh quan điểm riêng của tác giả, giảng viên đã hưu trí, Bộ môn Lý luận sử học, Khoa Lịch sử, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội), tác giả đang sống tại Hà Nội.

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Bảy 12, 2019

20190712. PHÁP LUẬT DO AI, VÌ AI ?

ĐIỂM BÁO MẠNG

ĐỂ LÂU HÓA BÙN

NGUYỄN DUY XUÂN/ TVN 10-7-2019

Chỉ còn vài ngày nữa, vụ gian lận thi 2018 chấn động dư luận tròn một năm. Những tưởng sau khi vụ việc bị phát lộ, chuyện xử lý sẽ “nhỏ như con thỏ”, bởi nếu so với những vụ trọng án khác, lực lượng chức năng không đến nỗi phải “mò kim đáy bể” để tìm cho ra “đích danh thủ phạm” cùng chứng cứ.

Thủ phạm ở đây là một loạt cán bộ có chức quyền trực tiếp làm công tác chấm thi đã tham gia vào đường dây chạy điểm ở các tỉnh Hà Giang, Sơn La, Hòa Bình. Các nghi can này cũng đã thừa nhận hành vi phạm pháp của mình. Các thủ phạm cũng là phụ huynh của những thí sinh tham gia chạy điểm.

Chứng cứ là hàng trăm bài thi có danh tính chủ nhân bị nâng điểm, những mẩu giấy viết tay có địa chỉ, số báo danh, những cú điện thoại, tin nhắn,… và tiền mặt mà các nghi phạm đã nhận để lo lót.

Chứng cứ phạm tội còn là sự buông lỏng quản lý, là những lỗ hổng chết người trong khâu chấm thi.

Tưởng chừng mọi thứ ‘rõ như ban ngày’, vậy mà một năm sắp trôi qua…

‘Để lâu hóa bùn’

Vụ gian lận thi cử gây bao nhức nhối xã hội

Có những kẻ trực tiếp nhúng tay vào vụ gian lận đã bị khởi tố, nhưng còn đó hàng trăm phụ huynh dính líu chạy điểm cho con – những đối tượng mà suốt thời gian quan dư luận đòi phải công khai danh tính và xử nghiêm – vẫn bình yên vô sự.

Ở Sơn La, Hòa Bình nhiều tên tuổi phụ huynh liên đới đã bị lộ. Họ đều là những cán bộ, công chức, viên chức nhà nước có vị thế nơi cơ quan công quyền. Nhưng, kỳ lạ thay, tất cả họ từ giám đốc sở cho đến nhân viên đều tấu rất hoàn hảo bản đồng ca “nhờ xem điểm”, trong khi chẳng ai ngu tới mức cho họ “xem điểm” để mình ngồi bóc lịch.

Tại Hòa Bình, ông Nguyễn Văn Chương, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hòa Bình cho biết: “Với những cán bộ đảng viên, công chức, viên chức có con được nâng điểm, tỉnh cũng đã thành lập đoàn kiểm tra của Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy để xem xét thi hành kỷ luật theo đúng quy định. Các cá nhân liên quan đều đã viết kiểm điểm và làm việc với các đoàn kiểm tra”. “Không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Tinh thần chỉ đạo là làm rõ trách nhiệm, khuyết điểm. Sai phạm đến đâu, xử lý đến đó”, vị đại diện UBND tỉnh Hòa Bình khẳng định.[1]

Tại Sơn la, bị can hoàn lại tiền, gia đình thí sinh không thừa nhận.

Ở Hà Giang, trong số 210 phụ huynh liên đới, chỉ duy nhất có ông Phạm Văn Khuông, phó giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo lộ danh tính có lẽ vì ông là nghi can bị khởi tố. Còn 209 vị khác cùng có con được nâng điểm thì vẫn bặt vô âm tín.

Chính xác hơn còn có một vị nữa bị lộ nhưng lại không được nêu danh trong bản kết luận điều tra. Đấy là cựu Bí thư tỉnh, ông Triệu Tài Vinh (ông vừa được bổ nhiệm là Phó Ban Kinh tế Trung ương). “…Con gái tôi nằm trong danh sách bị nâng 2 điểm thì tôi không biết thế nào. Có thể họ lợi dụng việc đó để đưa con lãnh đạo vào tròng thì sao?”.[2] Ông cựu bí thư lật ngược vấn đề.

Về vai trò của bản thân với tư cách là phụ huynh có con gái “bị” nâng điểm, bên hành lang Quốc hội, khi trả lời phóng viên, ông Vinh khẳng định: “Tôi thì dư luận phán xét xong rồi”.[3] Vậy là yên?

Dư luận không khó để hiểu, tại sao việc xử lý gian lận thi ở Hà Giang ít “sôi động”, thậm chí có lúc lắng xuống nếu so với Sơn La, Hòa Bình mặc dù ông Vinh đã từng chỉ đạo từ xa: “Tôi vừa gọi điện về bảo khẩn trương làm cuộc kiểm điểm đi”.

Nhưng ngặt nỗi, cái quy trình nào đó không cho phép. Nó đã từng gây khó ông khi không thể kỷ luật nổi một cấp dưới sai phạm và bây giờ, với vụ gian lận thi liên quan tới cả con gái mình, một lần nữa ông bí thư tội nghiệp lại bị “quy trình” cản trở: “Cái gì cũng có quy trình của nó, khởi tố vụ án còn liên quan đến người nào, trách nhiệm thế nào”.[4]

Sức cản của “quy trình” lớn đến nỗi nó khiến cơ quan chức năng dẫu có thu giữ được tại nhà ông Nguyễn Thanh Hoài một mẩu giấy khổ 10x9cm, trên đó ghi “P.T.H.Tr. (xin phép viết tắt tên thí sinh – PV), SBD: 070389; P: 17; HĐT Hùng An (Lão phật gia nhờ)” cũng không thể tìm ra kẻ mang biệt danh “lão phật gia” ghê gớm kia là ai?

Bởi thế, xem qua bản kết luận điều tra của Hà Giang, dư luận không khỏi băn khoăn.[5]

Liệu có phải cơ quan điều tra đã áp dụng tất cả các biện pháp theo quy định của pháp luật nhưng không thu thập được chứng cứ để chứng minh được có yếu tố vụ lợi trong vụ án?

Rằng đã đấu tranh với gia đình các thí sinh nhưng không gia đình nào khai nhận có đưa tiền hoặc lợi ích vật chất khác có giá trị để nhờ nâng điểm! Các bị can chỉ giúp nâng điểm do mối quan hệ quen biết, bạn bè, người thân!
Rằng, ngay cả trường hợp con ông Triệu Tài Vinh cũng không hề xuất hiện trong kết luận điều tra!

Còn 210 phụ huynh liên quan được gắn cho một cái tên chung “đang làm việc trong các cơ quan, ban ngành sự nghiệp, đơn vị kinh doanh và làm nghề nông nghiệp, kinh doanh, lao động tự do… tại tỉnh Hà Giang và tỉnh khác”.

Chuyện ông Triệu Tài Vinh không có tên trong danh sách phụ huynh có con “bị” nâng điểm đã đành, ngay cả việc ông bức xúc vì “nghi” ai đó cố ý đưa cha con ông vào tròng cũng không hề được điều tra làm rõ để trả lại sự “trong sáng” cho ông.

Hồi tháng 5/2019, đăng đàn trước diễn đàn Quốc hội, Bộ trưởng Giáo dục và Đạo tạo khẳng định: “Quan điểm của chúng tôi là phải xử lý nghiêm khắc các sai phạm của các cá nhân. Sẽ cho ra khỏi ngành những cá nhân trong ngành mà có học sinh, con em gian lận qua điều tra, xác minh của cơ quan công an”, và cá nhân ông “xin nhận trách nhiệm về những thiếu sót”.

Lời Bộ trưởng, lời Bí thư, lời các giám đốc sở,… ai nấy đều tỏ ra hết sức nghiêm khắc trong chỉ đạo xử lý. Lời văn trong cáo trạng của VKSND tỉnh Hà Giang cũng rất hùng hồn. Nào là gian lận trong thi cử không chỉ để lại hậu quả trước mắt mà còn về lâu dài; nào là hành vi phạm tội của các bị can gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến dư luận xã hội,…

Tuy nhiên, cho đến bây giờ, hình như chưa một ai có con em gian lận bị “cho ra khỏi ngành”. Ở Hà Giang, theo cáo trạng, Cơ quan điều tra xác định không xét tình tiết tăng nặng mà chỉ xem xét tình tiết giảm nhẹ, bởi cả 5 bị can đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nhiều thành tích trong quá trình công tác.

Còn với lãnh đạo, thôi thì ba mươi sáu chước, chước “xin nhận trách nhiệm về những thiếu sót” là thượng sách, bởi từ mấy chục năm nay đã có ai mất chức vì “xin chịu trách nhiệm” đâu. Thật nhẹ nhàng, thật thanh thản.

Nhưng sao thấy đắng lòng!

Nguyễn Duy Xuân

 [1]. https://laodong.vn/giao- duc/can-bo-dang-vien-co-con- duoc-nang-diem-o-hoa-binh-se- bi-xu-ly-ra-sao-742427.ldo

[2].  //dantri.com.vn/xa-hoi/ bi-thu-ha-giang-trieu-tai- vinh-noi-gi-ve-viec-con-gai- duoc-nang-diem- 20180719102644601.htm

[3]. //tuoitre.vn/vu-gian-lan-thi- cu-ong-trieu-tai-vinh-toi-thi- du-luan-phan-xet-xong-roi- 2019052307584509.htm

[4]. https://vietnamnet.vn/vn/ thoi-su/quoc-hoi/ong-trieu- tai-vinh-toi-goi-dien-yeu-cau- kiem-diem-vu-gian-lan-thi-cu- 533729.html

[5]. https://nld.com.vn/phap- luat/gian-lan-diem-thi-ha- giang-khong-thu-thap-duoc- chung-cu-co-yeu-to-vu-loi- 20190703165105934.htm

TIN VÀ BÀI LIÊN QUAN:

ĐỆ ĐỆ…MẶT TRỜI

XUÂN DƯƠNG / GDVN 10-7-2019

Nhật là mặt trời, nguyệt là mặt trăng, tiếng Tày nói hiện tượng nhật thực là “Cốp kin tha vằn” nghĩa là “Cóc ăn mặt trời”.

Loài người chỉ có thể nhìn mặt trời khi bình minh hoặc hoàng hôn, khi mặt trời ở đỉnh cao chói lọi, nhìn trực diện là hỏng mắt.

Cứ tưởng chỉ có dân Mỹ mới nghĩ ra chuyện viễn tưởng biến gã ảo thuật “rởm” Oscar Diggs, kẻ ba hoa, màu mè chuyên pha trò tại các phiên chợ Kansas thành phù thủy vĩ đại, người trong mộng của nàng công chúa xinh đẹp và sau đó trở thành Quốc vương xứ OZ (phim “Lạc vào xứ Oz vĩ đại và quyền năng”).

Cứ tưởng chỉ giới giải trí Hàn Quốc mới giỏi tạo ra những bộ phim đánh vào thị hiếu người trẻ kiểu như “Hậu duệ mặt trời”,…

Thế giới ngày nay vượt xa sự viễn tưởng của người Mỹ, cũng như nghệ thuật quảng cáo của dân Hàn.

Ảnh minh họa: smallbiztrends.com


Ukraine là quốc gia đông Âu đang trong tình trạng chia cắt, các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự đều tụt hậu so với các nước tách ra khỏi Liên Xô như Ba Lan, Séc, thế nhưng phụ nữ đất nước này lại được bình chọn “đẹp nhất nhì thế giới”.

Tại đây người ta chả cần gì phim viễn tưởng kiểu Mỹ, cũng chẳng chọn hậu duệ của mặt trời, người ta hiện thực hóa câu chuyện xứ OZ bằng cách bầu một diễn viên hài làm Tổng thống.

Có vùng đất một thời được mệnh danh là “Hòn ngọc viễn đông”, không chỉ người trong nước mà lân bang cũng phải ngước nhìn.

Dân chúng ở đó hiền lành, chất phác sống trong hòa bình gần nửa thế kỷ. Thói quen của các bố mẹ gọi con trai cả là “thằng hai”, mặt trời đáng lẽ gọi là “Nhật” thì lại nói là “Nhựt”.

Thế nhưng một nửa quãng thời gian của hơn 40 năm, một bộ phận không nhỏ dân chúng của “Hòn ngọc” này dường như phải sống trong “Thế giới ngược”.

Xét về tổng thể, Nhà nước là của dân theo Hiến pháp, nhưng họ bị mất đất, mất nhà, mất kế sinh nhai bởi chính những đày tớ của mình, bởi những người họ đã ủy quyền đại diện cho mình tại các cơ quan.

Nói về quyền lực thì ở đó từng xảy ra tình trạng “dưới bảo, trên phải im”, chẳng hạn chính quyền thành phố ra văn bản hủy bỏ quyết định của Thủ tướng.

Chuyện xảy ra suốt mấy nhiệm kỳ không thấy quân sư nào nhắc Thủ tướng cho ý kiến, phải đến 20 năm sau, nhờ dân chúng phát giác nên vụ việc mới đổ bể.

Trong nội bộ xứ “Hòn ngọc” một ông cấp phó “vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc, vi phạm thẩm quyền, nguyên tắc, quy trình xử lý công việc, vi phạm quy định của Thành ủy về quản lý, sử dụng tài sản tại các doanh nghiệp,…” nhưng không thấy các ông bà cấp trưởng nói gì, chỉ đến khi đất Phước Kiển đã bán xong, 1.000 tỷ làm 1 km đường đã duyệt xong, truyền thông phát giác, dân chúng kêu trời thì mới xác định là “sai phạm rất nghiêm trọng”?

Tại đây mới xảy ra chuyện người ta luân chuyển một lãnh đạo quận lên chức mới tương đương lãnh đạo sở, người này không ưng nên viết đơn xin từ chức, thế là lập tức bị bề trên mắng cho té tát, lại còn bới móc ra hàng đống sai lầm khi người đó còn lãnh đạo quận.

Nếu chịu nhận chức vụ cao hơn, lương nhiều hơn, ngồi im đó mấy năm cho đến khi lĩnh sổ hưu thì đâu đến nỗi bị “đánh hội đồng” như vậy!

Gần đây xứ “Hòn ngọc” xuất hiện mấy chuyện tầm cỡ chẳng kém ở quốc gia người đẹp Ukraine, nào là chuyện một vị “vua con” bỗng dưng biến thành nghệ sĩ hài khi đăng đàn diễn thuyết về đạo đức, rồi chuyện một ông “vi phạm rất nghiêm trọng” bị cách các chức vụ lãnh đạo trong Đảng lại được phân công làm Phó Trưởng ban thường trực Ban chỉ đạo biên soạn Lịch sử Đảng bộ và Lịch sử thành phố?

Nghe nói có thời điểm Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố không thi môn Lịch sử, thế là học sinh xé đề cương ôn tập vứt trắng cả sân trường, chắc lãnh đạo muốn thay đổi nếp nghĩ của con trẻ nên mới cử người “tầm cỡ” như vậy biên soạn lịch sử thành phố?

Được biết có ông Bộ trưởng chủ biên cuốn sách chuyên khảo đề tài chống “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên, ít lâu sau khi sách được quảng bá, ông Bộ trưởng ấy được mời “nghỉ mát” ở trong “lò”!

Người đời bảo lúc mặt trời mọc là bình minh, nhưng với hàng trăm hộ dân xứ “Hòn ngọc” đã dành tới 20 năm cuộc đời cho khiếu kiện, bình minh là chút ánh sáng cuối con đường hầm hun hút chứ không phải lúc mặt trời ló dạng.

Suốt mấy chục năm, khi “mặt trời” ngễu nghện trên cao, nhiều người dân bị mất đất, mất nhà, phải tha phương cầu thực, không ít người phải đi xa hàng ngàn cây số lập xóm tạm tại nơi Kẻ Chợ để tiến hành cuộc “Trường kỳ khiếu nại”.

Tại đây “Những ai theo dõi không thể không nghẹn lòng khi chứng kiến hình ảnh nhiều cử tri cao tuổi gào thét, uất nghẹn bật khóc khi trình bày sự bất công, vô lý trong việc cưỡng chế trái phép để giải phóng mặt bằng”. [1]

Cũng tại đây, một người từng giữ vị trí Chủ tịch Ủy ban Nhân dân buộc phải thốt lên:

“Về mặt nhân tâm, tôi phải nói thẳng một câu: quy hoạch trước hết phải là vì dân, không thể vì quy hoạch mà người dân bỗng chốc trở thành cùng đinh, mất tài sản, mất sinh kế”. [2]

Vậy phải chăng đó là lý do vì sao chỉ đến khi “mặt trời” lặn, dân “cùng đinh, mất tài sản, mất sinh kế” mới thấy le lói ánh bình minh?

Ở những phương trời khác mà nói “mặt trời lặn mới thấy bình minh” thì bị cho là tâm thần, nhưng nếu quý vị chịu khó đọc lại bài viết biết đâu lại đồng ý, rằng đó là sự thật.

Cũng tại nơi này dân chúng vừa chứng kiến câu chuyện “Đệ đệ mặt trời”.

Phải thừa nhận, rằng dân chúng bàn tán quá nhiều chuyện “con cháu các cụ” nhưng lại quên hoặc không để ý đến chuyện “Đệ đệ” của các “Ca ca, Tỷ tỷ”.

Đầu tiên phải kể đến vị “Đệ đệ chổi đót” ở Yên Bái, vị này sau khi bị mất chức Giám đốc sở đã chuyển khẩu về Kẻ Chợ làm việc cho một tổ chức “ngoài quốc doanh” nào đó.

Tiếp theo là chuyện “Đệ đệ điểm thi”, dân chúng đồn đại rằng Phó Chủ tịch tỉnh Sơn La, ông Phạm Văn Thủy – người bị cảnh cáo trong vụ gian lận thi cử ở một tỉnh miền núi phía bắc năm 2018 – vốn là “Đệ đệ” của một “Ca ca” địa vị cao ngút trời ở đất kinh kỳ.

Còn chuyện “Đệ đệ mặt trời” là nói về một “Đệ đệ” của một “Mặt trời” mới bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an (C01) bắt tạm giam về hành vi “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí” theo khoản 3 điều 219, Bộ Luật Hình sự 2015.

Vị “Đệ đệ mặt trời” này bị buộc phải “chuyển khẩu” từ Nam ra Bắc không biết vì lý do gì, chẳng lẽ là để tránh chuyện đêm dài lắm mộng.

Nếu mở rộng câu chuyện “đệ đệ” thì chắc chắn không thiếu dẫn chứng chẳng hạn bài báo “Cả nhà Bí thư Tỉnh ủy Hà Giang làm quan” đăng trên Nld.com.vn ngày 17/09/2016; bài “Chuyện lạ: 3 anh em ruột cùng trong ban chấp hành huyện ủy” đăng trên Vietnamnet.vn ngày 08/05/2018.

Nhiều năm trước có một bài viết lúc đầu lấy tít là “Tiền và … thế giới ngược” sau đổi thành “Nước Việt ta, dân đang ngồi … đỉnh tháp”. [3]

Hóa ra câu chuyện “Thế giới ngược” nói mãi vẫn không mất tính thời sự. Vậy nên “Đệ đệ mặt trời” chẳng qua cũng chỉ là một nét “văn hóa quan trường”, đừng cho là lạ.

Tài liệu tham khảo:

[1] //vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/de-cam-nuoc-mat-thu-thiem-547856.html

[2] //tuoitre.vn/cuu-chu-tich-tp-hcm-vo-viet-thanh-noi-ve-quy-hoach-thu-thiem-20180507081347535.htm

[3]//giaoduc.net.vn/goc-nhin/nuoc-viet-ta-dan-dang-ngoidinh-thap-post143866.gd

Xuân Dương
THỦ THIÊM: NHỮNG QUAN CHỨC ĂN ĐẤT NÀO ĐÁNG LÊN GIÁ TREO CỔ ?
MINH QUÂN/ BVN 6-7-2019

ttps://1.bp.blogspot.com/-2lXJHY1tZjg/XR2kplz3xVI/AAAAAAAAe-c/HFxeOcY_Abg44YSfWIxKWEswneaF5k9nQCLcBGAs/s1600/download.jpg

Tháng 6 năm 2019, ngay sau khi Thanh tra chính phủ có kết luận thanh tra về vụ khiếu tố khổng lồ ở Thủ Thiêm, quan chức Lê Thanh Hải, cựu bí thư thành ủy, cựu chủ tịch thành phố Hồ Chí Minh, cùng cơ quan Thành ủy TP.HCM đã công khai thách thức công luận và lương tâm xã hội.

Trong phát biểu tại “Hội Thảo Khoa Học 50 năm thực hiện di chúc thiêng liêng của chủ tịch Hồ Chí Minh” do Thành ủy TP.HCM tổ chức, Lê Thanh Hải thậm chí còn ‘lên lớp’: ‘còn có một bộ phận cán bộ đảng, đảng viên dao động về phẩm chất chính trị, “tự diển biến”, “tự chuyển hóa “, suy thoái, sa sút về phẩm chất đạo đức…”

Dư luận phải chua chát mỉa mai: “Ngược đời chuyện người sai phạm công khai ‘lên lớp’ về đạo đức đảng viên!”

Ở Sài Gòn, cái tên Lê Thanh Hải bị người dân và cả một số công chức gọi là “Hải Heo,” là một trong những kẻ bị dư luận xã hội căm ghét nhất và lên án nhiều nhất. Vào thời còn là chủ tịch thành phố, Lê Thanh Hải đã “dọn đường” cho việc thay đổi quy hoạch Thủ Thiêm giải tỏa lố sang 160 hécta đất mà trước đó dùng làm khu vực tái định cư cho dân, đẩy đuổi thêm nhiều ngàn người dân Thủ Thiêm khỏi nơi ở và cũng là chỗ sinh nhai duy nhất của họ.

Tiếp đến là Nguyễn Văn Đua – cựu phó chủ tịch ủy ban nhân dân TP.HCM. Sau khi từ Phó chủ tịch thành phố trở thành Phó bí thư thường trực thành ủy TP.HCM vào thời Lê Thanh Hải làm bí thư, Nguyễn Văn Đua đã nắm khối an ninh nội chính và mau chóng trở thành một “sát thủ” đối với giới hoạt động dân chủ nhân quyền ở Sài Gòn. Nguyễn Văn Đua bị “tố” là đã ký một quyết định về quy hoạch Thủ Thiêm mà đã vượt quyền khi phủ nhận cả quyết định trước đó của thủ tướng chính phủ.

Tiếp đến là Tất Thành Cang – người được xem là “đệ ruột” của anh Hai (Lê Thanh Hải), bị người dân tố cáo là có công giúp Lê Thanh Hải cướp đất Thủ Thiêm và đàn áp dã man dân oan nơi đây. Sau khi Lê Thanh Hải về hưu, Tất Thành Cang trở thành phó bí thư thường trực TP.HCM và lại dính đậm ở một vụ “ăn đất” khác: Cang là người chỉ đạo vụ công ty Tân Thuận của thành ủy TP.HCM bán trái phép với giá bèo 32 hécta đất Nhà Bè cho tư nhân.

Gần đây đã xuất hiện trên mạng xã hội một số bức ảnh được chụp từ cự ly gần về những “lều đày tớ” quá đồ sộ và hoàng tráng của Tất Thành Cang và Nguyễn Văn Đua, hay cảnh Sáu Cang ăn nhậu với một số quan chức và báo chí cánh hẩu ngay trong nhà khách thành ủy… Chỉ có người trong nội bộ “‘đảng ta” mới có thể chụp gần như vậy.

Trong khi đó, Lê Thanh Hải kín đáo tung tích hơn. Nhưng rất nhiều người dân và công chức ở Sài Gòn cho rằng đây mới là “chuột cống” với vô số nhà cửa và đất đai tích góp được qua 15 năm làm chủ tịch thành phố và bí thư thành ủy. Nhiều tờ báo đã bắt đầu nêu đích danh trách nhiệm Lê Thanh Hải trong vụ Thủ Thiêm.

Thế nhưng bản kết luận thanh tra vụ Thủ Thiêm của Thanh tra chính phủ vào tháng 6 năm 2019 chỉ quy trách nhiệm của các tổ chức cá nhân trong việc quy hoạch Khu đô thị mới Thủ Thiêm, làm thất thoát ngân sách nhà nước, phá vỡ quy hoạch chung theo Quyết định 367, thu hồi tiền của các dự án về cho nhà nước… mà không nêu một cái tên cụ thể nào phải chịu trách nhiệm hành chính và trách nhiệm hình sự.

Phải chăng ý đồ của Nguyễn Phú Trọng và ‘đảng ta’ là chỉ muốn bắt các quan tham phải ‘ói ra’ nhằm ‘thu hồi tà sản tham nhũng’, rồi sau đó cho những kẻ ‘ăn đất’ này hạ cánh an toàn?

Trong khi đó, rất nhiều người dân Thủ Thiêm lẫn dư luận xã hội đã dậy lên phản ứng đối với cơ quan này nói riêng và với đảng cầm quyền nói chung bởi bản kết luận thanh tra vụ Thủ Thiêm của Thanh tra chính phủ đã không nói gì đến thân phận của hàng ngàn dân oan đất đai và việc bồi thường cho họ. Đặc biệt trong Kết luận thanh tra trên không nói gì về 115 người dân đang khiếu kiện ở Hà Nội nằm ở 5 khu phố ở 3 phường ngoài ranh theo Quyết định 367. Kết luận này cũng không trả lời được những câu hỏi như “Cơ sở nào kết luận 4,3 ha của phường Bình An nằm ngoài ranh?”, “160 ha tái định cư biến đi đâu và rơi vào túi những kẻ nào?”, “Tấm bản đồ gốc quy hoạch Thủ Thiêm biến đi đằng nào?”…

M.Q.

VNTB gửi BVN

ĐỂ CẦM NƯỚC MẮT THỦ THIÊM

NGUYỄN HUY VIỆN / BVN 8-7-2019

 

Để cầm nước mắt Thủ Thiêm

Để cầm nước mắt Thủ Thiêm cần thấu hiểu nỗi niềm người dân

Để “nước mắt Thủ Thiêm” không còn chảy ròng như 20 năm qua, trước hết phải thấu hiểu nỗi niềm của người dân, để thành thật trả lời đầy đủ những câu hỏi và giải quyết thấu đáo những yêu cầu chính đáng của người dân nơi đây.

Trong vòng chưa đầy một năm, Thanh tra Chính phủ hai lần công bố kết luận thanh tra công tác quản lý nhà nước và thực hiện pháp luật trong quy hoạch, quản lý xây dựng, đất đai đối với khu đô thị mới (KĐTM) Thủ Thiêm, TP. Hồ Chí Minh, lần thứ nhất ngày 7/9/2018, lần thứ hai ngày 26/6/2019.

Nhưng cả hai lần vẫn chưa trả lời thỏa đáng những câu hỏi đầy ấm ức đã theo họ khiếu kiện đằng đẳng tới tất cả các cấp từ quận đến Trung ương suốt hơn 20 năm qua.

Trong suốt chặng đường 20 năm ấy, đã có không biết bao nhiêu cuộc tiếp xúc cử tri của các đoàn đại biểu Quốc hội, HĐND TP. Hồ Chí Minh, HĐND Quận 2 với đồng bào Thủ Thiêm. Và mỗi cuộc tiếp xúc cử tri đó có không biết bao nhiêu tiếng nói bất bình, uất nghẹn đầy nước mắt khi nhà cửa, đất đai của người dân bị cưỡng chế thu hồi phi lý, đẩy cuộc sống của họ đến khốn cùng. Dưới đây là một số trích dẫn trong các cuộc tiếp xúc xử tri như vậy.

Ngày 29/6/2019, tức 3 ngày sau công bố kết luận của Thanh tra Chính phủ, trong buổi tiếp xúc cử tri Quận 2, trước kỳ họp HĐND TP. Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Xuân Đức, phường Cát Lái, bày tỏ nỗi niềm: Suốt 20 năm qua, người dân Quận 2 phải ly tán khắp nơi, vậy mà “Kết luận của Chính phủ chỉ nói đến cơ quan nào vi phạm, tổ chức nào làm sai, chứ chưa nhắc gì đến đời sống người dân. Đây là đại án của cả nước, chứ không phải của riêng Quận 2”. [1]

Cử tri Nguyễn Thị Hà, phường Bình An, cho rằng, cả hai kết luận của Thanh tra Chính phủ về dự án Thủ Thiêm chưa ghi tên các cán bộ, lãnh đạo sai phạm cần kiểm tra. Cử tri này yêu cầu: “Thành phố đã sai phạm nhiều năm như vậy nhưng vì sao với quyền giám sát của mình, các đại biểu HĐND không phát hiện ra? Chúng tôi cần Thanh tra Chính phủ làm rõ các sai phạm của lãnh đạo, sau đó làm rõ vấn đề ranh quy hoạch rồi mới đến đền bù cho dân”. Cử tri Hà kiến nghị, phải khởi tố vụ việc chính quyền cưỡng chế, thu hồi 4,3 ha đất của Khu phố 1, phường Bình An, nằm ngoài ranh quy hoạch; và hơn 160 ha đất tái định cư bị giao cho các doanh nghiệp…[2]

Sự bức xúc, bất bình của người dân Thủ Thiêm không chỉ trong đợt tiếp xúc cử tri vừa qua, mà lần nào tiếp xúc cử tri cũng bức xúc, căng thẳng như vậy.

Trong buổi tiếp xúc cử tri ngày 19/6/2019 của Tổ đại biểu Quốc hội TP. Hồ Chí Minh với cử tri Quận 2, ông Nguyễn Tấn Cứu, phường Bình Khánh, bức xúc đặt vấn đề: “Chỉ cần trưng quy hoạch của Thủ tướng ra, một phút thôi, sẽ giải quyết được vấn đề của chúng tôi. Vậy tại sao 20 năm nay không giải quyết được, có thế lực nào đứng đằng sao bảo kê, bao che?” [3]

Còn buổi tiếp xúc với cử tri Quận 2 của đoàn đại biểu Quốc hội TP.Hồ Chí Minh được VTV1 tường thuật trong Chương trình Thời sự tối ngày 9/5/2018 và Tuổi trẻ TV ngày 10/5/2018 [4], làm cho tất cả những ai theo dõi không thể không nghẹn lòng khi chứng kiến hình ảnh nhiều cử tri cao tuổi gào thét, uất nghẹn bật khóc khi trình bày sự bất công, vô lý trong việc cưỡng chế trái phép để giải phóng mặt bằng.

Cử tri Trần Thị Mỹ, 76 tuổi, ở phường An Khánh, đau đớn bày tỏ nỗi niềm: “Chúng tôi về hưu chỉ với đồng tiền lương, cùng với tiền chắt chiu của các con mua đất, nhà… mà bây giờ thu hồi đất của tôi mà không có tên tôi, không có trong quy hoạch, nhà tôi không nằm trong diện thu hồi mà thu hồi, như vậy là cướp đất. Đền bù cho tôi chỉ có 200.000đồng/m2, tôi đi kiện cả chục năm nay, nhiều nơi tiếp tôi nhưng không ai giải quyết”. [5]

Một cử tri hơn 75 tuổi, giọng khàn đục vì bức xúc đặt câu hỏi: “Hiện nay, dân thì không nhà cửa, tứ tán khắp nơi. Khu tạm cư thì như chuồng heo nằm cạnh các khu đô thị xây trên đất thu hồi của dân đẹp lung linh. Đại biểu của dân có đau lòng hay không, có thấu hiểu nỗi khổ của dân không?” [6]

Trước sự mệt mỏi, bức xúc tột độ cửa cử tri, ông Phan Nguyễn Như Khuê – Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội TP.Hồ Chí Minh, phải thừa nhận: “Chúng tôi không bao giờ quên những giọt nước mắt, những gương mặt mệt lả, những lời nói khan giọng của bà con. Bởi thời gian vụ Thủ Thiêm kéo dài quá sức chịu đựng của mọi người.” [8]

Không biết bao nhiêu lần các quan chức TP. Hồ Chí Minh chia sẻ sự thấu hiểu, cảm thông như rút ruột rút gan với người dân Thủ Thiêm và kèm theo đó cùng vô số những lời hứa hẹn.

Nhưng tất cả cũng chỉ dừng lại ở sự thấu hiểu, chia sẻ, hứa hẹn mà chưa được phúc đáp bằng việc làm cụ thể của các cấp chính quyền. Chính vì vậy sự bức xúc, bất bình của người dân Thủ Thiêm bị dồn nén đến tột độ.

Người dân Thủ Thiêm càng phẫn nộ hơn khi những người có thẩm quyền ở TP. Hồ Chí Minh và một số bộ, ngành liên quan bất nhất trong việc giải thích về sự “biến mất” khó hiểu của bản đồ quy hoạch KĐTM Thủ Thiêm.

Ông Nguyễn Thanh Nhã – Giám đốc Sở Quy hoạch & Kiến trúc và ông Võ Văn Hoan – Chánh văn phòng UBND TP. Hồ Chí Minh cho rằng “không tìm thấy bản đồ quy hoạch 1/5.000 khu đô thị mới Thủ Thiêm”, với lý do bản đồ này đã được phê duyệt cách nay hơn 20 năm, nhiều đơn vị đã chuyển địa điểm nên không lưu trữ…[9]

Còn ông Nguyễn Hồng Điệp – Trưởng Ban Tiếp công dân Trung ương, Thanh tra Chính phủ, khẳng định: “Chúng tôi đã đối thoại với Chủ tịch TP. Hồ Chí Minh, họ xác định là không tìm thấy (bản đồ quy hoạch KĐTM Thủ Thiêm) … bởi làm gì có mà tìm!” [10]

Nhưng ông Lê Quang Hùng – Thứ trưởng Bộ Xây dựng lại cho rằng: “Quy hoạch chung là năm 1996 về pháp lý đã được thay đổi bằng quy hoạch 2005”; và “… Thủ Thiêm có rất nhiều bản đồ quy hoạch.” [11]

Theo cách giải thích của ông Hùng: “Đồ án quy hoạch phát triển Khu trung tâm thành phố mới Thủ Thiêm TP.Hồ Chí Minh tháng 5/1995” do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt bị điều chỉnh bằng Quyết định 6565, ngày 27/12/2005 của UBND TP. Hồ Chí Minh, do Phó chủ tịch UBND Thành phố lúc đó là ông Nguyễn Văn Đua ký thay Chủ tịch UBND TP. [12]

Như vậy, Phó Chủ tịch TP. Hồ Chí Minh đã ban hành quyết định quy hoạch lại KĐTM Thủ Thiêm, ồng nghĩa phủ nhận “Đồ án quy hoạch phát triển Khu trung tâm thành phố mới Thủ Thiêm” được Thủ tướng phê duyệt tháng 5/1995. Đây là hành vi vi phạm pháp luật rất nghiêm trọng.

Còn những biện minh, rằng “không tìm thấy” Bản đồ gốc quy hoạch Thủ Thiêm là phi lý. Vì Hồ sơ “Đồ án quy hoạch phát triển Khu trung tâm thành phố mới Thủ Thiêm TP.Hồ Chí Minh tháng 5/1995” (kèm theo bản đồ) do Thủ tướng phê duyệt phải được lưu giữ ở Văn phòng Chính phủ, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên & Môi trường; lưu giữ ở Văn phòng UBND, Sở Xây dựng, Sở Quy hoạch & Kiến trúc, Sở Tài nguyên & Môi trường TP. Hồ Chí Minh.

Theo Khoản 1, Điều 17 Luật lưu trữ, tài liệu về dự án, nhà đất là tài liệu được bảo quản vĩnh viễn. Bản đồ quy hoạch KĐTM Thủ Thiêm thuộc loại tài liệu phải bảo quản theo quy định điều luật này. Thế mà tất cả các cơ quan chức năng của Chính phủ và của TP. Hồ Chí Minh đều “đánh mất” hoặc “không tìm thấy”.

Rất may, trong khi các cơ quan nhà nước “không tìm thấy” nhưng có một người đã tìm thấy. Theo báo Tuổi trẻ, ngày 06/5/2018, ông Võ Viết Thanh nguyên Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh cung cấp đầy đủ cho Bản báo này 13 tấm bản đồ trong Hồ sơ “Đồ án quy hoạch phát triển Khu trung tâm thành phố mới Thủ Thiêm TP.Hồ Chí Minh tháng 5/1995”. [13]

Vì vậy công luận không thể không nghi ngờ về sự bất thường khi các cơ quan chức năng TP. Hồ Chí Minh và các bộ ngành liên quan đều “không tìm thấy” bản đồ quy hoạch 1/5.000 KĐTM Thủ Thiêm?

Để “nước mắt Thủ Thiêm” không còn chảy ròng như 20 năm qua, trước hết phải thấu hiểu nỗi niềm của người dân, để thành thật trả lời đầy đủ những câu hỏi và giải quyết thấu đáo những yêu cầu chính đáng của người dân nơi đây.

Thứ nhất: Tại sao gần chục cơ quan chức năng từ TP. Hồ Chí Minh đến các bộ ngành cùng để “mất” bản đồ kèm theo Hồ sơ “Đồ án quy hoạch phát triển Khu trung tâm thành phố mới Thủ Thiêm TP.Hồ Chí Minh tháng 5/1995” do Thủ tướng phê duyệt? Đây có phải là sự bất thường không?

Phải chăng đằng sau sự bất thường này là để che đậy hơn 160 hecta đất quy hoạch khu tái định cư cho dân Thủ Thiêm bị biến thành đất thương mại dịch vụ, và che đậy hành vi cưỡng chế trái phép 4,3 hecta đất của những hộ dân nằm ngoài ranh quy hoạch?

Nếu không làm sáng tỏ Bản đồ quy hoạch Khu đô thị Thủ Thiêm “bị mất” thì niềm tin của nhân dân cũng khó mà “tìm thấy”.

Thứ hai: Công khai danh tính và truy cứu trách nhiệm những cán bộ Quận 2, các sở ngành và lãnh đạo TP. Hồ Chí Minh liên quan đến những sai phạm trong vụ Thủ Thiêm; xem xét trách nhiệm của những lãnh đạo Thành phố đã không giải quyết dứt điểm, thấu đáo những vấn đề người dân khiếu kiện trong 20 năm qua.

Thứ Ba: UBND TP. Hồ Chí Minh phải có trách nhiệm đền bù thỏa đáng, kịp thời những tổn thất về vật chất và tinh thần cho hàng trăm hộ dân bị cưỡng chế thu hồi nhà, đất trái pháp luật.

Những cán bộ sai phạm trong vụ Thủ Thiêm, những cán bộ không giải quyết thỏa đáng để người dân khiếu kiện trong suốt thời gian dài phải xin lỗi Người dân Thủ Thiêm.

Để giải quyết thỏa đáng những bức xúc của người dân Thủ Thiêm cán bộ các cấp cần đồng quan điểm với ông Võ Viết Thanh, nguyên Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh: “Về mặt nhân tâm, tôi phải nói thẳng một câu: quy hoạch trước hết phải là vì dân, không thể vì quy hoạch mà người dân bỗng chốc trở thành cùng đinh, mất tài sản, mất sinh kế”. [14]

Vụ việc Thủ Thiêm là một đại án đặc biệt nghiêm trọng, để lại hậu quả nặng nề về kinh tế, chính trị, xã hội. Bởi vậy các cơ quan Trung ương, nhất là Uỷ ban Kiểm tra Trung ương cần vào cuộc làm sáng tỏ bản chất của vụ việc, chỉ mặt, vạch tên những quan chức bất chấp lợi ích và cuộc sống của người dân, lợi dụng quy hoạch đô thị, lợi dụng đền bù giải phóng mặt bằng để trục lợi.

Có như vậy mới có thể lấy lại công bằng cho người dân Thủ Thiêm, và cũng chỉ có như vậy mới giữ được niềm tin của nhân dân.

N.H.V.

Ghi chú:

[1],[2].https://vnexpress.net/thoi-su/nguoi-dan-thu-thiem-thanh-tra-chinh-phu-chua-chi-ro-ca-nhan-sai-pham-3945532.html

[3],[8].https://vnexpress.net/thoi-su/ong-phan-nguyen-nhu-khue-cuoi-thang-6-co-ket-luan-tranh-tra-vu-thu-thiem-3940515.html

[4].https://tuoitre.vn/dan-thu-thiem-roi-nuoc-mat-kien-nghi-voi-dai-bieu-quoc-hoi-20180510074215117.htm

[5],[6].http://danviet.vn/tin-tuc/ban-chat-cau-chuyen-khu-do-thi-thu-thiem-la-co-loi-ich-nhom-874083.html

[9].https://tuoitre.vn/can-dieu-tra-vu-mat-ban-do-quy-hoach-thu-thiem-20180503134020063.htm

[10].https://laodong.vn/kinh-te/danh-mat-ban-do-quy-hoach-thu-thiem-dung-long-vong-lam-kho-nguoi-dan-604939.ldo

[11], [12].https://tuoitre.vn/thu-thiem-co-rat-nhieu-ban-do-quy-hoach-20180503190732539.htm

[13],[14].https://tuoitre.vn/cuu-chu-tich-tp-hcm-vo-viet-thanh-noi-ve-quy-hoach-thu-thiem-20180507081347535.htm

Nguồn: https://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/de-cam-nuoc-mat-thu-thiem-547856.html

DÂN THỦ THIÊM: NGHỊ QUYẾT BỒI THƯỜNG ‘CÓ HỢP LÒNG DÂN’ ?
BEN NGÔ /BBC/ BVN 12-7-2019

Thủ Thiêm

Ý kiến nói người dân Thủ Thiêm “đã chịu đựng và tổn thương suốt hơn 20 năm qua”

Người phụ nữ trong vụ “ném giày” nói với BBC rằng Hội đồng Nhân dân “chỉ có thể đại diện và giám sát chứ không thể thay thế người dân Thủ Thiêm” khi thông qua chính sách bồi thường hỗ trợ tái định cư.

Ý kiến này được đưa ra trong lúc có tin chính quyền TP Hồ Chí Minh sắp trình Hội đồng Nhân dân thông qua chính sách bồi thường hỗ trợ tái định cư cho người dân Thủ Thiêm.

“Trong lúc chờ trung ương kết luận về Khu đô thị mới Thủ Thiêm, thành phố đã gặp người dân, xây dựng chính sách bồi thường hỗ trợ tái định cư, sắp tới trình Hội đồng Nhân dân thông qua,” Bí thư Thành ủy Nguyễn Thiện Nhân được tờ Người Lao Động dẫn lời.

Các báo ở Việt Nam không đưa thêm chi tiết về chính sách bồi thường được căn cứ trên cơ sở nào.

‘Nghị quyết có hợp lòng dân?’

Người phụ nữ trong vụ "ném giày" nói "HĐND chỉ có thể giám sát, không thể thay dân Thủ Thiêm thông qua chính sách bồi thường".

Người phụ nữ trong vụ “ném giày” nói “HĐND chỉ có thể giám sát, không thể thay dân Thủ Thiêm thông qua chính sách bồi thường”.

Trả lời BBC hôm 10/7, bà Nguyễn Thị Thùy Dương, người phụ nữ trong vụ “ném giày ở Thủ Thiêm” năm ngoái, nói:

Hội đồng Nhân dân thực chất là một Quốc Hội thu nhỏ tại các tỉnh thành. Là một cơ quan lập pháp có chức năng giám sát và thông qua các nghị quyết và chủ trương. Họ đại diện cho tiếng nói của người dân. Nên việc Hội đồng Nhân dân đưa ra nghị quyết về chính sách đền bù mới là quyền được hiến định.”

“Tôi nhấn mạnh là đền bù chứ không phải hỗ trợ. Vì đây là phần người dân đáng được nhận chứ không phải dân đi xin và Chính phủ “thương tình” nên cho. Nhưng chúng ta phải xem lại Hội đồng Nhân dân dựa trên cơ sở nào để thông qua nghị quyết. Không thể để một nhóm người quyết định quyền lợi và số phận của hàng ngàn, hàng chục ngàn người theo tính chủ quan được.”

“Muốn thông qua nghị quyết, trước tiên Hội đồng Nhân dân phải lấy ý kiến của chính những người dân bị ảnh hưởng bởi quy hoạch giải tỏa ở khu Công nghệ cao quận 9 và cả Khu đô thị mới Thủ Thiêm. Ở đây, tôi chưa thấy có sự thống nhất ý kiến giữa người dân Khu đô thị mới Thủ Thiêm và Hội đồng Nhân dân thì nghị quyết thông qua đường nào?”

nhân

Bí thư Thành ủy Nguyễn Thiện Nhân

“Có hợp lòng dân không? Có đúng với giá trị tài sản người dân bị mất không? Chỉ có người dân Thủ Thiêm mới có quyền được quyết định vận mệnh của họ. Hội đồng Nhân dân chỉ có thể đại diện và giám sát chứ không thể thay thế họ. Có vị nào trong Hội đồng Nhân dân đã phải sống cuộc đời đau khổ của họ đâu?”

“Với tư cách là một người theo đuổi và quan sát vụ việc này khá lâu. Tôi yêu cầu chính quyền TP.Hồ Chí Minh giải quyết được đúng với những giá trị mà người dân đáng được nhận. Chính quyền thành phố phải biết tôn trọng người dân của mình chứ không phải giải quyết cho xong để “xếp xó”.

“Người dân có trách nhiệm xây dựng đất nước chứ không phải làm mồi nuôi sống tham nhũng. Trong trường này cần đặc biệt chú trọng vai trò giám sát và kết nối người dân của Hội đồng Nhân dân đúng với tinh thần “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.”

Nếu chính quyền không thể đưa ra được cơ sở pháp lý và các bằng chứng thuyết phục để phản bác lại các cáo buộc của người dân thì chính quyền cần phải tôn trọng sự thật và hành động có trách nhiệm là có các quyết định để trả lại công bằng cho người dân.

Luật sư Phùng Thanh Sơn

  

Bà Thùy Dương cũng cho biết thêm:

Đối với các quan chức sai phạm ở Khu đô thị mới Thủ Thiêm, tôi nghĩ không chỉ là kỷ luật mà cần phải thanh tra, kiểm toán toàn diện quy hoạch, chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra khởi tố vụ án về việc sai phạm khi thực hiện quy hoạch tại Khu đô thị mới Thủ Thiêm như đề nghị của Thanh tra Chính phủ. Trong đó, hành vi xâm hại tài sản của Nhà nước và người dân đã được thể hiện rất rõ.”

“Ở Thủ Thiêm có rất nhiều nhóm dân khác nhau. Có nhóm người bị xua đuổi, có nhóm người bám trụ lại, có những người bị lưu lạc do chính sách đền bù… Họ đã chịu đựng và tổn thương suốt hơn 20 năm nay rồi. Tôi nghĩ chính quyền TP Hồ Chí Minh nên đưa ra các quyết sách phù hợp với từng nhóm khác nhau làm sao để đáp ứng được tinh thần nhân văn mà Quyết định 367 của cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã phê duyệt khi thực hiện Khu đô thị mới Thủ Thiêm.”

Thủ Thiêm

‘Tôn trọng sự thật’

Cũng trong hôm 10/7, Luật sư Phùng Thanh Sơn, Giám đốc công ty Luật Thế Giới Luật Pháp, nói với BBC:

“Quyền lợi của người dân Thủ Thiêm không thể giải quyết bằng nghị quyết của Hội đồng Nhân dân. Bởi Hội đồng Nhân dân không phải là cơ quan hành chính nhà nước, cũng không phải là cơ quan giải quyết tranh chấp. Nghị quyết của Hội đồng Nhân dân chỉ có thể mang tính an sinh xã hội cho người dân Thủ Thiêm chứ không thể thay thế quyết định hành chính, phán quyết của tòa án.”

“Quyền và lợi ích chính đáng của người dân Thủ Thiêm phải xem xét đánh giá một cách toàn diện. Các thiệt hại phải căn cứ vào số liệu, bằng chứng cứ và được xem xét đánh giá công khai chứ không thể bằng cảm tính của các đại biểu Hội đồng Nhân dân. Nếu chính quyền Thành phố chỉ giải quyết quyền lợi của người dân Thủ Thiêm trên cơ sở của Nghị quyết Hội đồng Nhân dân thì chẳng khác nào người dân bị buộc phải nhận tiền “bồi thường” như vụ Formosa Hà Tĩnh gây ô nhiễm môi trường biển trước đây.”

“Trong vụ Thủ Thiêm theo tôi có hai nhóm sai phạm:

  • Sai phạm gây thiệt hại trực tiếp cho người dân có đất bị thu hồi;
  • Sai phạm gây thất thoát ngân sách, tài sản nhà nước.

“Đối với các sai phạm gây thiệt hại cho ngân sách, tài sản Nhà nước, có thể phải cần đến việc thanh tra vì những thông tin liên quan đến các sai phạm này người dân không thể kiểm tra, giám sát.”

“Riêng đối với việc thu hồi đất ngoài phạm vi quy hoạch, sử dụng quỹ đất tái định cư cho mục đích thương mại thì không cần vì không ai có thể thanh tra, giám sát tốt hơn người dân Thủ Thiêm. Việc này nó liên quan trực tiếp đến lợi ích người dân Thủ Thiêm nên họ phải chuẩn bị đầy đủ thông tin và kiến thức để kiểm tra, giám sát.”

“Khi người dân đưa ra cơ sở pháp lý và bằng chứng cho các cáo buộc của mình đối với chính quyền. Chính quyền có nghĩa vụ đưa ra các cơ sở pháp lý và bằng chứng hợp pháp để phản bác lại các cáo buộc của người dân.”

“Nếu chính quyền không thể đưa ra được cơ sở pháp lý và các bằng chứng thuyết phục để phản bác lại các cáo buộc của người dân thì chính quyền cần phải tôn trọng sự thật và hành động có trách nhiệm là có các quyết định để trả lại công bằng cho người dân.”

“Với các quy định pháp luật trước đây cũng như hiện nay, chính quyền thành phố hoàn toàn có đủ cơ sở pháp lý để xử lý các sai phạm tại Thủ Thiêm một cách công bằng cho người dân Thủ Thiêm mà không cần phải chờ đợi kết luận hay chủ trương gì từ trung ương. Vấn đề nằm ở chỗ người có trách nhiệm giải quyết có đủ bản lĩnh để xử lý nghiêm minh theo quy định pháp luật hay không.”

“Theo tôi, đảm bảo nguyên tắc công bằng thì toàn bộ lợi nhuận từ việc sử dụng quỹ đất tái định cư cho mục đích kinh doanh thương mại phải được trả về cho những người dân Thủ Thiêm đủ điều kiện được tái định cư. Đối với đất ngoài quy hoạch bị thu hồi thì phải trả lại đất cho dân hoặc bồi thường theo giá thị trường hiện nay.”

B.N.

Nguồn: https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-48933003

 

TUYÊN BỐ THỦ THIÊM 

       CẬP NHẬT ĐẾN 12/7/2019 CỦA BVN

I. Tình hình

Sau hai mươi năm ròng rã đợi chờ và đấu tranh đòi công lý, sau hai năm đợi chờ theo hứa hẹn của nhà nước, của bí thư thành ủy Nguyễn Thiện Nhân với câu nói nổi tiếng “tôi không gạt bà con đâu”, ngày 26 tháng 6 năm 2019, người dân Thủ Thiêm cùng với toàn thể quốc dân mới chứng kiến việc công bố bản thông báo của Thanh tra Chính phủ mang số 1041 TB-TTCP. Nội dung bản thanh tra này gồm hai vấn đề:

1. Khẳng định sai lầm, vi phạm cố ý của UBND thành phố HCM và các ban ngành kể cả trung ương đã không thực hiện dự án đô thị mới Thủ Thiêm theo quy hoạch của chính phủ, cố ý vi phạm pháp luật và các quy định của thủ tướng chính phủ; tạo điều kiện cho các nhóm lợi ích băm nát dự án đô thị mới Thủ Thiêm thành các dự án bất động sản manh mún để kinh doanh kiếm lời.

2. Khẳng dịnh sai lầm, vi phạm nói trên đã gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước trên 26 ngàn tỷ đồng và nhiều thiệt hại khác

Tuy nhiên, bản thông báo đã không đề cập gì đến việc 15 ngàn hộ dân bị di dời ở 5 khu phố 3 phường nằm ngoài ranh theo Quyết định 367; không đề cập gì đến 4,3 ha của phường Bình An nằm ngoài ranh qui hoạch; không đề cập gì đến 160 ha tái định cư biến mất; không đề cập gì đến việc 115 người dân ký tên khiếu kiện tập thể, một núi đơn khiếu nại kiện tụng của nhân dân Thủ Thiêm đã xếp xó.

Rõ ràng là: Thông báo thanh tra vẫn chỉ đề cập đến cách điều hành quản lý nhà nước trong nội bộ Đảng và nội bộ chính quyền mà không đề cập gì đến nguyện vọng và những khiếu kiện của người dân Thủ Thiêm. Thêm một điều khó hiểu: vì sao, sau khi đã có kết luận thanh tra thể hiện qua thông báo 1041 TB- TTCP, Thanh tra Chính phủ đã không làm công việc phải làm là chuyển ngay cho cơ quan điều tra xử lý theo luật pháp? Ai cũng có quyền nghĩ rằng bản thông báo này chỉ có mục đích tiếp tục xoa dịu nỗi thống khổ của người dân theo kịch bản quen thuộc “cứt trâu để lâu hóa bùn” và cũng để phục vụ việc tranh quyền đoạt lợi trong nội bộ nhà cầm quyền.

Người dân Thủ Thiêm phải kêu gào kiện tụng đến bao giờ nhà cầm quyền mới trả lại mảnh đất mà cha ông họ đã khai phá canh tác từ xa xưa, đã được chinh quyền Thực dân Pháp và các chính quyền kế thừa chứng nhận? Chừng nào người dân Thủ Thiêm mới được bồi thường thiệt hại mà chính quyền hiện nay đã gây ra trong 20 năm qua? Còn gì cay đắng và vô đạo hơn khi chính quyền tước đoạt mảnh đất mà trên đó đời ông đời cha và chính họ đã che giấu bảo vệ nhiều lớp người mệnh danh là “Cộng sản”?

II.  Nguyên nhân

Sự “kiêu ngạo Cộng sản” của những người lãnh đạo khi có chính quyền trong tay đã không còn đặt quyền lợi của người dân là trung tâm của mọi chính sách, áp đặt chính sách ruộng đất sai lầm phi thực tế, phản dân chủ phản tiến bộ.

Sự vụ lợi và vô trách nhiệm của nhiều tầng lớp lãnh đạo qua nhiều thời kỳ, đã thấy sai nhưng vì quyền lợi bản thân phe nhóm nên không chịu sửa. Khi đất nước chuyển qua kinh tế thị trường thì đất đai trở thành nguồn lợi to lớn, trong khi nguyên tắc mang tính hình thức “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” và thể chế lãnh đạo độc tôn đã tạo nên hệ thống tham ô làm giàu bất chính.

Tòa án xử theo nghị quyết của chính quyền sở tại, luật pháp thực thi tùy tiện trở thành công cụ bảo vệ bè lũ tham nhũng và đàn áp những người dân đen.

III. Tuyên bố

Trước tình hình trên, các cá nhân và các tổ chức xã hội dân sự có tên dưới đây, tuyên bố:

1. Chính quyền thành phố HCM phải khẩn trương giải quyết đơn khiếu nại của 115 người dân Thủ Thiêm, trả lại đất hoặc đền bù theo giá thị trường hiện nay cho những hộ nằm ngoài ranh qui hoạch; bồi thường hỗ trợ cho những hộ dân trong quy hoạch; trả lại 160 ha đất tái định cư cho dân để dân xây dựng lại nhà cửa ổn định cuộc sống.

2. Phải có luật sư độc lập do dân chọn làm đại diện trong ban bồi thường hỗ trợ tái định cư. Chính quyền phải thường xuyên đối thoại với dân giải quyết khiếu nại.

3. Phải chuyển ngay thông báo 1041 TB – TTCP ngày 26 tháng 6 năm 2019 cho cơ quan điều tra xử lý theo luật pháp. Phải trừng trị những ai đã vi phạm pháp luật gây đau khổ, mất đất mất nhà, thiệt hại về  tinh thần và vật chất cho người dân Thủ Thiêm dù những kẻ đó ở bất kỳ cấp nào, còn làm việc hay đã về hưu. Phải trừng trị những tên sử dụng quyền lực và cơ chế vơ vét tài sản làm giàu bất chính cho cá nhân và phe nhóm.

4. Phải sửa lại luật đất đai, xác lập chế độ đa sở hữu về đất đai bao gồm sở hữu cá nhân, sở hữu tập thể, và sở hữu nhà nước. Xóa bỏ vĩnh viễn nguyên tắc “đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý”.

***

Các tổ chức và cá nhân đồng ý ký tên xin ghi rõ: Tên tổ chức và tên người đại diện/ Tên cá nhân và chức danh/nghề nghiệp (nếu có), tỉnh/thành (và quốc gia nếu ở nước ngoài) đang cư trú. Gửi về địa chỉ email: tuyenbothuthiem4@gmail.com

Bản Tuyên bố sẽ chấm dứt nhận chữ ký vào hồi 24h00 ngày 20/07/2019  (giờ Việt Nam)  ***

Ngày 07 tháng 7 năm 2019

A. Các tổ chức XHDS

1. CLB Lê Hiếu Đằng, Đại diện Lê Thân/Chủ nhiệm CLB

2. Diễn đàn xã hội dân sự, Đại diện Tiến sĩ Nguyễn Quang A

3. Nhóm Lập Quyền Dân, Đại diện Nguyễn Khắc Mai

4. Hội Bầu bí Tương thân: Đại diện Nguyễn Lê Hùng

5. Diễn Đàn Dân chủ Đuốc Việt, Đại diện: KS Lưu Hoàn Phố. San Jose, CA Hoa Kỳ

6. Nhóm Hoạt Động Ủng Hộ Quốc Dân Việt, San Jose, CA Hoa Kỳ, Đại Diện: Đoàn Văn Lập

7. Diễn đàn Bauxite Việt Nam, đại diện GS Phạm Xuân Yêm

B. Các cá nhân

1. TS Nguyễn Quang A, Hà Nội

2. Nguyễn Đăng Quang Đại tá, nguyên cán bộ Bộ Công an, Hà Nội.

3. Nguyễn Khắc Mai, TT Minh triết, Hà Nội

4. Đào Công Tiến, PGS nguyên Hiệu trưởng đại học Kinh tế TP.HCM, TV CLB LHD

5. Hoàng Hưng, nhà thơ- dịch giả, Sài Gòn

6. Trần Bang, kỹ sư, thành viên CLB LHĐ, Sài Gòn

7. Nguyễn Thu Giang, nguyên Phó Giám đốc Sở Tư pháp TPHCM

8. Trần Minh Thảo, viết văn, Bảo Lộc, Lâm Đồng, (CLB Phan Tây Hồ)

9. Nguyễn Đăng Hưng. Giáo sư danh dự Đại học Liege, Bỉ. Sống ở Sài Gòn

10. Trần Tiến Đức, Nhà báo độc lập, đạo diễn truyền hình và phim tài liệu, Hà Nội

11. Nguyễn Xuân Diện, Tiến sĩ, Hà Nội

12.André Menras-Hồ Cường Quyết, Nhà giáo Pháp Việt, TV CLB LHĐ, Pháp.

13. Hà Văn Thùy, Nhà văn, Sài Gòn

14. Phan Đắc Lữ, Nhà thơ, TV CLB LHĐ

15. Nguyễn Ngọc Lãnh – Nguyên GS học Y Hà Nội, NGND

16. Nguyễn Thị Khánh Trâm, Hưu trí, Sài Gòn

17. Kha Lương Lợi, Hưu trí, Sài Gòn

18. Võ Văn Thôn, nguyên GĐ Sở Tư pháp TPHCM, TV CLB LHĐ, SG

19. Nguyên Ngọc, Nhà văn, Hội An

20. Phan Hồng Giang, TSKH, Hà Nội

21. Tôn Quang Trí, cán bộ hưu trí – nguyên PGĐ sở Công nghiệp tp HCM

22. Huỳnh Sơn Phước, Nhà báo, nguyên Phó TBT báo Tuổi Trẻ, TV CLB LHĐ

23. Tô Linh Giang, Q.Hai Bà Trưng, Hà Nội

24. Tô Lê Sơn, Kỹ sư, TV CLB LHĐ, SG

25. Nguyễn Phú Yên, hưu trí, Sài Gòn

26. Trần Hữu Quang, PGS-TS xã hội học, Sài Gòn

27. Võ Văn Tạo. Nhà báo tự do. Nha Trang, Khánh Hòa

28. Mã Lam, Nhà thơ, Sài Gòn

29. Hà Quang Vinh, hưu trí ở tại Q11

30. Phan Quốc Bình, Nhà thơ, TP Vinh -Nghệ An

31. Nguyễn Thái Minh, Kinh Doanh, Nha Trang

32. Vương Quốc Toàn – Nhiếp ảnh gia ở tại Hải Phòng

33. Nguyễn Công Hiệp, Kinh doanh, Sài Gòn

34. Inrasara, Nhà thơ, nhà nghiên cứu văn hóa Chăm, Sài Gòn

35. Nguyễn Kế Quang, KSXD, TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định

36. Nguyễn Trọng Bách, Kĩ sư, Nam Định

37. Trương Minh Thủy, người lao động, quận Tân phú, TPHCM

38. Đỗ Duy, Chuyên viên kỹ thuật, Bà Rịa – Vũng Tàu

39. Trần Vũ Việt Trung, Kỹ sư cơ khí, TP HCM

40. Trần Thế Việt, nguyên Bí thư Thành ủy, Tp.Đà Lạt – tỉnh Lâm Đồng.

41. Nguyễn Thanh Trúc, KD, Hà Nội

42. Trần Đăng Quang, quản lý tại dịch vụ, Hà Nam

43. Phạm Đình Trọng, Nhà văn, Thành viên CLB Lê Hiếu Đăng

44. Nguyễn Tiến Dân, giáo viên, Hà nội

45. Trần Trung Hậu, Giảng viên, TP.HCM

46. Nguyễn Văn Lịch, nghỉ hưu, phố Chùa Láng, Đống Đa, Hà Nội.

47. Hồ Quang Huy, Cty CP Đường sắt Phú Khánh, Nha Trang.

48. Phạm Mai Hiền, Hà Nội

49. Kha Lương Ngãi, nhà báo, nguyên Phó TBT báo Sài Gòn Giải Phóng, TV CLB LHD

50. Thuỳ Linh, Nhà văn, Hà nội

51. Đinh Văn Chinh, Nhà văn ở Hà Nội

52. Ngô Kim Hoa (Sương Quỳnh) – Nhà báo tự do – Sài Gòn

53. Lại Thị Ánh Hồng – Nghệ Sĩ – Sài Gòn

54. Cao Lập, Hưu trí, California, Hoa Kỳ

55. Trần Thanh Cảnh, Nhà văn, Hà Nội.

56. Nguyễn Hải Sơn, Công nhân, Cộng hòa liên bang Đức

57. Phan Quốc Tuyên, Kỹ sư tin học, Genève, Thụy Sĩ

58. Mai Thanh Sơn PhD, Viện KH & XH; XH vùng Trung bộ-Viện Hàn lâm KH-XH VN
59. Nguyễn Khắc Bình, Kỹ sư, Q.Tân Binh, TP.HCM

60. Tô Minh Chánh, Sài Gòn

61. Hồ Ngọc Nhuận, nhà báo Sài Gòn, thành viên CLB LHĐ

62. Đỗ Anh Tài, cựu giáo chức Sài Gòn – VNCH

63. Nguyễn Tuệ Hải, Hưu trí, Canberra-Australia

64. Nguyễn Lương Thịnh, Hưu trí, Q.Thủ Đức ,Tp HCM

65. Lê Khánh Luận TS, nguyên giảng viên Đại học Kinh tế Tp.HCM, TV CLB LHĐ

66. Vũ Trọng Khải, PGS TS, nguyên Hiệu trưởng Trường QLCB, Bộ
NN&PTNT, TPHCM, TV CLB LHĐ.

67. Vũ Thư Hiên, Nhà văn, Pháp

68. Trần Công Thạch, Nhà giáo về hưu, Quận 5, Tp HCM

69. Nguyễn Chí Công, TS, Hà Nội

70. Lê Văn Tâm, nguyên Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Nhật Bản

71. Nguyễn Trọng Hùng, P.Đông Vệ, Tp.Thanh Hóa

72. Trần Tư Bình, Cựu giáo viên, Sydney – Australia.

73. Đoàn Khắc Xuyên, Nhà báo, Tp HCM.

74. Nguyễn Văn Đức, San Jose, California. USA

75. Phạm Thế Cường, Chủ nhiệm CLB Người yêu sách Nguyễn Huy Tưởng.

76. Nguyễn Hồng Kiên, Nghiên cứu viên, Hà Nội.

77. Trần Khuê, chuyên gia NC Văn hoá, TP.Hồ Chí Minh

78. Nguyễn Xuân Thọ, Kỹ sư truyền thông, 50858 Cologne – CHLB Đức.

79. Võ Xuân Tòng, hội viên Hội nhà văn Hà Nội, hiện cư trú Sài Gòn

80. Dương Khánh Lâm, Kỹ thuật, Q.10-Tp.HCM

81. Thái Kế Toại, Nhà văn, Đại tá an ninh Bô Công an

82. Đặng Bích Phượng, Hưu trí, ở Hà Nội

83. Phạm Nguyên Trưởng, Dịch giả, Vũng Tàu

84. Hà Trọng Tấn, TV CLB Lê Hiếu Đằng, Sài Gòn

85. Nguyễn Thị Kim Chi, NSUT – TV CLB Lê Hiếu Đằng, Sài Gòn

86. Nguyễn Nguyên Bình – Nhà văn, Hà Nội

87. Mạc Văn Trang, TS Tâm lý học, Hà Nội

88. Nguyễn Kim Khánh, Nhà báo, Tạp Chí Thương Gia

89. Lương Cao Nam Khánh, Hưu trí, Sài Gòn

90. Lê Trần Nhật Quân, Kỹ Sư, Bắc Ninh

Đợt 2

91. GS Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã Hội Học VN, Sài Gòn

92. Bến Văn Nguyên, viết văn

93. Trần Ngọc Sơn, Kỹ sư, Pháp

94. Nguyễn Thanh Hằng, Dược sĩ, Pháp

95. Nguyễn Tường Thụy, nhà báo độc lập, Hà Nội

96. Vinh Anh, CCB, Đống Đa-Hà Nôi

97. Đỗ Thị Bắc Giang, Kế toán, Quận 1

98. Nguyễn Mai Oanh, Sài Gòn

99. Nguyễn Quang Nhàn, CB Hưu trí-Đà Lạt

100. Lê Thị Phương Mai, q.Hai Bà Trưng, TP Hà Nội

101. Trương Minh Tuấn, Kinh doanh tự do, Tp. Biên Hoà. Đồng Nai

102. Trần Viết Tuyên, kiến trúc sư, Hamburg, CHLB Đức

103. Phạm Duy Hiển; CCB phường hội thương, Tp pleiku

104. Đặng Doan – kinh doanh, ở Gia Nghĩa, Đăk Nông

105. Hoàng Dũng, PGS TS, TP HCM

106. Nguyễn Tâm, Kỹ sư Cơ điện. Tp HCM

107. Nguyễn Giáng Vân, nhà thơ, Hà Nội

108. Huỳnh nhật Hải, hưu trí-Dalat

119. Huỳnh nhật Tấn,hưu trí –Dalat

110. Lê Thăng Long, Cựu TNLT, tư vấn quản trị chiến lược, Sài Gòn.

111. Trần Kế Dũng Electrolux  Australia

112. Nguyễn Huệ Chi, GS Ngữ văn, Hà Nội

113. Đặng Thị Hảo, TS Văn học, Hà Nội

114. Nguyễn Đình Nguyên, TS Y khoa, Australia

115. Chu Sơn  – nhà thơ tự do – Thủ Đức – Sài Gòn

116. Nguyễn Thị Kim Thoa – Bác sĩ – Thủ Đức – Sài Gòn

117. Trần Hưng Thịnh, Kỹ sư,đã nghỉ hưu, Hà Nội

118. Ngô Thị Kim Cúc, Nhà văn- Nhà báo, Sài Gòn

119. Phạm Ngọc Trường, Tours FRANCE

120. Võ Ngọc Ánh, Cựu phóng viên, bang Washington, Hoa Kỳ.

121. Nghê Lữ, Phóng Viên, San Jose, California, Hoa Kỳ

122. Ý Nhi, Nhà văn, TP HCM

123. Trần Công Tâm, hưu trí, sài gòn

124. Nguyễn Đông Yên, Giáo sư Toán học, Hà Nội

125. Mai Thái Lĩnh, nhà nghiên cứu, CLB Phan Tây Hồ, Đà Lạt.

126. Huỳnh Ngọc Chênh, Nhà báo, Sài Gòn

127. Đoàn Nhật Hồng, nguyên Giám độc Sở GDĐT Lâm Đồng, hưu trí ở Đà Lạt

128. Lưu Hồng Thắng -công nhân – Hoa Kì

129. Nguyễn Thị Ngọc Trai, Nhà văn – nhà báo, Hà nội.

130. Văn Hiền, Lập trình viên, Bình Thuận

131. Nguyễn Đào Trường, Hưu trí, Hải Dương

132. Hà Trần Phương, Hà Nội

133. Nguyễn Quốc Thắng, Hà Nội.

134. Nghiêm Sỹ Cường, Kinh doanh, Hà Nội

135. Nguyễn Anh Tuấn, Giáo viên, Nha trang

136. Trần Quốc Trọng, Diễn viên, đạo diễn điện ảnh, Hà Nội

137. Trần Vũ Việt Trung, Hà Nội

138. Vũ Ngọc Tiến, Nhà văn, Hà Nội

139. Trần Thanh Cảnh, Nhà văn, Hà Nội

140. Hà Thúc Huy, TS Hóa học, Sài Gòn

141. Nguyễn Trọng Hoàng, Bác sĩ, Paris – Pháp

142. Nguyễn Huỳnh Giang, Kỹ Sư, Bạc Liêu

143. Lê Hữu Trí, Công nhân, Sài Gòn

144. Hồ Minh Di, Giáo Viên nghỉ hưu, Tây Ninh

145. Nguyễn Minh Phụng, Nhà Thơ – Họa Sỹ, Bình Dương

146. Ngô Gia Kiều, Kinh doanh tự do, Bình Dương

147. Lê Nam Hà, Hưu trí, Sài Gòn

148. Lê Nam Long, Hưu trí, Sài Gòn

149. Cao Văn Lộc, Diễn viên, Lâm Đồng

150. Sầm Tú Lâm, Nghệ nhân, Sài Gòn

151. Đỗ Thị Nga, Kinh doanh tự do, Đồng Nai

152. Đồng Văn Nam, Luật gia, Bình Phước.

Đợt 3

153. Linh mục Đặng Hữu Nam, Đại diện Giáo xứ Mỹ Khánh, Giáo phận Vinh

154. Nguyễn Huy Chương, Nhà báo, Hà Nội

155. Lê Hữu Trí, Giảng Viên đại học, Sài Gòn

156. Nguyễn Văn Trí, Công nhân, Perth bang Western Australia

157. Phạm Thị Lan, Công nhân, Sài Gòn

158. Nguyễn Hoàng Sơn, nhà hoạt động xã hội, Hà Nội

159. Hoàng Mười, Cán bộ hưu trí, Hà Nội.

160. Ks Doãn Mạnh Dũng, Hưu trí, Tp HCM

161. Lý Minh Trí, giáo viên, Albury, Australia

162. Võ Ngàn Sông, Viết báo, San Diego,Hoa Kỳ

163. Vũ Linh Huy, Bác sĩ , Boston, Massachusetts, Hoa Kỳ.

164. MS Nguyễn Hoàng Hoa, Hội Trưởng Giáo Hội Cộng Đồng LuTheran VN-HK.

165. Nguyễn An Cơ, cán bộ hưu trí, Sài Gòn

166. Hồ Minh Lan, công nhân, Sài Gòn

167. Lê Bảo Toàn, kinh doanh tự do, Đà Lạt

168. Nguyễn Danh Thành, họa sĩ, Vĩnh Long

169. Chánh Trị Sự, Hứa Phi. Cao Đài – Lâm Đồng

170. Lê Quang Hiển/Chánh Thư ký BTS Trung Ương- GH.Phật Giáo Hoà Hảo Thuần Tuý

171. Nguyễn Đạt Dũng, giáo dân, Sài Gòn

172. Lý Thị Lan Anh, công nhân, Sài Gòn

173. Bùi Văn Giang, Giảng viên đại học, Huế

174. Đào Minh Châu, Tư vấn Hành chính công & Chính sách công, Hà nội

175. Lê Phước Sinh, Lao động tự do, Sài Gòn

176. Ngụy Hữu Tâm, dịch giả, Hà Nội

174. Huỳnh Đắc Khương, Cao Đài, Tây Ninh

175. Lý Đình Lộc, Cao Đài, Tây Ninh

176. Nguyễn Minh Luyện, tài xế, Long An

177. Phạm Phú Nhân, kỹ sư sinh học, Sài Gòn

178. Mai Duy Cẩn, Bác sĩ đa khoa, Cần Thơ

179. Giáp Bình An, hưu trí, Hà Nội

180. Vũ Trần Luân, Dịch giả, Bình Định

 

 

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Bảy 11, 2019

20190711. HÃY KHÓC CHO TIẾNG VIỆT !

ĐIỂM BÁO MẠNG

HÃY KHÓC CHO TIẾNG VIỆT !

FB MẠNH KIM / viet-studies 9-7-2019

Kết quả hình ảnh cho trong sáng tiếng việt

 Thay vì làm to chuyện với một slogan quảng cáo thì “cơ quan chức năng văn hóa” nên tìm giải pháp khẩn cấp để chấn chỉnh tình trạng hỗn loạn tiếng Việt. Cái gọi là “rất phản cảm, thiếu văn hóa và thiếu thẩm mỹ” đang hiện diện tràn lan trong việc sử dụng tiếng Việt và không chỉ với một từ mà với vô số từ và vô số câu. Nếu nói tiếng Việt là một trong những tấm “căn cước” định tính cho văn hóa dân tộc thì cách sử dụng tiếng Việt thời đại này đã cho thấy tấm căn cước tiếng Việt đang bị phá phách ẩu tả đến mức đáng hổ thẹn. Từ việc ghép từ vô tội vạ đến tình trạng đặt ra những “khái niệm” ngữ nghĩa méo mó (chẳng hạn “trạm thu giá”), tiếng Việt đang bị sử dụng với một thái độ vừa cưỡng bức vừa khinh rẻ. Nếu cần tìm một bằng chứng cho thấy văn hóa xuống cấp và chọn ra nạn nhân tiêu biểu thì tiếng Việt là nạn nhân không thể không nhắc.

Không chỉ “cưỡng hôn” – được hiểu lệch lạc là “cưỡng bức để được hôn”, còn có vô số kiểu nói kỳ quái khác. Trong thực tế, có bao giờ chúng ta nói “Nè, khi đang tham gia giao thông thì tạt qua tiệm bánh mì mua giùm cho tôi một ổ”! Có bao giờ người ta nói, “đang tham gia giao thông thì tôi gặp cậu ấy…”! Ai đặt ra cái cụm từ dị hợm này? Ngoài ra, có thể kể vô số từ bình thường khác cũng đang được dùng một cách bất thường. “Quá trình” là một ví dụ. Cái gì cũng “quá trình”. Trường hợp nào cũng “quá trình”. Sự việc nào cũng “quá trình”… “Một thí sinh dùng máy trợ thính trong quá trình thi”; “Một giáo viên tử nạn trong quá trình làm nhiệm vụ coi thi”. Chưa hết, “trong quá trình uống café”, “trong quá trình ăn tô hủ tíu”, “trong quá trình tham gia giao thông”… Kinh hoàng hơn là gần đây người ta “tinh giản” luôn chữ “trong” khi nói về một “quá trình” – chẳng hạn “Quá trình đi từ bàn mình đến bàn nạn nhân, hung thủ rút sẵn con dao ra cầm trên tay”! Trong khi đó, “quá trình” – được định nghĩa trong Từ điển Tiếng Việt (chủ biên Hoàng Phê, Viện Ngôn ngữ học, NXB Hồng Đức 2018) – như sau: “Tổng thể nói chung những hiện tượng nối tiếp nhau trong thời gian, theo một trình tự nhất định của một sự việc nào đó”.

Dĩ nhiên chẳng ai đòi hỏi viết báo phải dùng câu chữ đẹp đẽ và kiêu kỳ như nhạc ngữ trong âm nhạc Phạm Duy nhưng biến mình thành học trò tiểu học khi viết báo thì thật không nên! Việc viết sai chính tả một cách bất chấp và báo chí đăng sai chính tả một cách bất kể đã không còn là “hiện tượng”. Nó đã trở thành một tệ nạn, một thảm trạng thật sự đối với chữ Quốc ngữ. Viết sai chính tả là “chuyện nhỏ”. Bây giờ là thời của những lộn xộn giữa “bàng quan” và “bàng quang”; giữa “rốt cuộc” và “rốt cục” (sai); giữa “kết cục” và “kết cuộc” (sai)… Giờ là thời “thích là xài”, chẳng cần tìm hiểu hay mất thời giờ tra cứu từ điển, cho nên mới không phân biệt được “điểm yếu” và “yếu điểm”; cho nên mới viết “thăm quan” thay vì “tham quan”.

Tình trạng tiếng Việt bị hạ xuống trình độ “cấp tiểu học” lại xảy ra với một nghịch lý là thích làm sang. Thay vì viết “tôi thấy” thì người ta cứ nói “tôi mục sở thị”! Giữa việc trang điểm ngôn ngữ với việc làm dáng nhưng không giấu được điệu bộ giả tạo che đậy cái lớp quê mùa chữ nghĩa là một lằn ranh không phải không khó thấy. Nhân tiện nói thêm, việc nhầm lẫn các từ Hán Việt cũng là “hiện tượng thời đại”. Mới đây, tôi đã đọc một bài điểm sách, trong đó, vị nhà báo nổi tiếng nọ đã ví ngôn ngữ văn chương như một thứ “thần quyền” để phục vụ cho “thần dân” (với ý nghĩa của “thần” trong “thần dân” thuộc khái niệm… “thần thánh”!).

Không chỉ sai lệch chữ và nghĩa mà tiếng Việt ngày nay còn méo mó cấu trúc. Thay vì nói “Chương trình này được Sony tài trợ”; người ta thích nói “Chương trình này được tài trợ bởi Sony”. Như thế còn đỡ. Người ta thậm chí còn nói “Thủ tướng VN đã được đón tiếp bởi ông Shinzo Abe”. Người ta không thấy lạ khi nói “Đội mũ bảo hiểm đối với người đi xe máy”, mà thay vì phải nói một cách bình thường: “Người đi xe máy phải đội mũ bảo hiểm”. Thay vì nói “Thí sinh này ở Tiền Giang” thì lại dùng “Thí sinh này đến từ Tiền Giang”, như thể phải vậy mới là ngôn ngữ của thời hội nhập. Where are you from, hử anh/chị dẫn chương trình? Are you from Vietnam?

Rồi còn “fan hâm mộ”, rồi “cặp đôi”, rồi còn đầy những câu không hề có chủ ngữ: “Sốc với phát biểu…”; “Choáng với hình ảnh”… Nếu thời chiến tranh người ta “khóc cười với vận nước nổi trôi” thì ngày nay chúng ta cần phải biết khóc trước sự bi thảm mỗi lúc mỗi tệ của chữ Quốc ngữ. Trong thực tế, nhiều hội thảo “làm trong sáng tiếng Việt” đã liên tục được tổ chức nhưng nếu đọc các tham luận này sẽ thấy hầu hết đều nhắc đi nhắc lại lời nói của ông Hồ Chí Minh về việc đề cao “làm trong sáng tiếng Việt”. Việc viện dẫn phát biểu của một người mà tiếng Việt của ông ta luôn đáng “minh họa” cho sự bi thảm của tiếng Việt – được ông ấy dùng trong cái thời mà Việt Nam có vô số nhân vật có thể nói là bậc thầy ngôn ngữ, từ cụ Phan Khôi đến các nhà văn-thi sĩ kiệt xuất phải lâm vào cảnh bi thương trong cái “vụ án” gọi là “Nhân văn Giai phẩm” – cho thấy điều đó chẳng có ý nghĩa gì. Thậm chí ngay cả khi ông Hồ có tài giỏi tiếng Việt thì việc trích lời ông ta cũng không phải là giải pháp. Cần phải làm gì, làm như thế nào, làm từ đâu… mới là điều nên bàn.

Báo chí cũng đừng nhắc đi nhắc lại nữa câu nói của cụ Phạm Quỳnh “Tiếng nước ta còn, nước ta còn”. Báo chí cần tự sửa mình trước, thay vì cứ nói về cái sự đang biến mất hoặc đang biến dạng. Tìm kiếm giải pháp toàn diện cho việc “cứu” tiếng Việt không phải là việc của một cá nhân hay một tổ chức, nhưng trước mắt, và cần kíp, chính báo chí phải tiên phong trong việc chấn chỉnh lại biên tập. Báo chí cần làm gương trong việc “làm trong sáng tiếng Việt”. Cứ thích đề cập đến bảo tồn và gìn giữ văn hóa, tại sao lại đối xử với tiếng Việt theo cách như đang chứng kiến! Khi nhà báo than thở trước hiện tượng di tích văn hóa xuống cấp trong một bài viết nghệch ngoạc chấm phẩy tùy hứng thì sự xuống cấp văn hóa đã vô tình bị đẩy xuống thêm một cấp nữa rồi. Khi nhà báo còn viết đầy lỗi chính tả, thường xuyên và cố ý, như có thể thấy hàng ngày trên trang cá nhân của họ, thì sao họ có thể dạy con mình “yêu tiếng Việt”, hoặc chứng tỏ cho con em mình thấy mình “quý tiếng Việt” bằng việc đi thắp nhang ở mộ các bậc tiền nhân khai xướng tiếng Việt?

TIẾP TỤC CHUYỆN LÀNG BÁO VIỆT NAM: “NHỎ KHÔNG HỌC LỚN ĐI LÀM BÁO”

TRẦN HÒA / Blog RFA 11-7-2019

Hình minh họa. Những tờ báo Việt Nam

Hình minh họa. Những tờ báo Việt Nam

Mấy ngày nay người đọc báo Việt Nam được nhiều dịp cười thả ga.

Vì vừa hết vụ Bùi Tiến Dũng khoe vợ có bầu với huấn luyện viên, thì tiếp đến một tiến sĩ Phật học hiếp dâm trụ trì nhiều chùa! Rồi thì bắt quả tang cán bộ công an Trà Vinh quan hệ với vợ người kinh doanh xăng; sốc với mức lương 01 năm của Công Phượng tại Bỉ bằng cả năm thi đấu của cầu thủ bình thường. Chưa hết, “Chấn động đến tận nhà truy sát ba cha con ở Quảng Nam”.

Nhưng không phải cầu thủ Bùi Tiến Dũng có quan điểm về hôn nhân phá cách đến mức lên báo khoe vợ có bầu với người khác (chứ không phải với mình), hay nhiều trụ trì chùa là người đồng tính và bị ông tiến sĩ Phật học hiếp dâm.

Hình chụp bài viết sai ngữ pháp trên báo
Hình chụp bài viết sai ngữ pháp trên báo Courtesy of vnreview.vn

Cũng không phải đơn vị đo lường thời gian của nhân loại trong khi tôi đi ngủ đã kịp thay đổi đến nỗi một năm tại Bỉ thì dứt khoát phải khác cả năm tại Việt Nam.

Cũng không có thằng côn đồ nào tên là Chấn Động đến tận nhà truy sát ba cha con ở Quảng Nam.

Mà sự thật là cầu thủ Bùi Tiến Dũng kể với huấn luyện viên của anh ấy là “Anh ơi vợ em vừa có bầu anh ạ”. Còn tiến sĩ Phật học vốn đang là trụ trì nhiều ngôi chùa nhỏ ở miền Tây, nay bị khởi tố vì hành vi hiếp dâm một em gái 14 tuổi.

Từ “quan hệ” trong ví dụ thứ ba chỉ có ý nghĩa khi độc giả hiểu ra rằng phóng viên nói trại đi từ “quan hệ tình dục”. Nhưng quan hệ tình dục với vợ của người kinh doanh xăng thì có điểm gì đặc biệt khiến phóng viên phải liên kết nó với đạo đức của một cán bộ công an? Hay quan hệ với vợ của ai khác thì được, mà với vợ của người kinh doanh xăng thì mới bị lên án?

Chấn động, à thì là ý phóng viên muốn nói vừa có một vụ việc gây chấn động dư luận, đó là ba cha con bị kẻ côn đồ ngang nhiên đến tận nhà truy sát.

May quá, người đọc thông minh kịp thời cải chính giúp. Chứ không thì Việt Nam lại trở thành điểm đến của thiên niên kỷ nữa mất. Là các nhà xã hội học thế giới đến nghiên cứu sự thay đổi trong quan niệm sống của giới trẻ, nhà tu hành, những người kinh doanh xăng hiện nay và đơn vị đo lường thời gian của Việt Nam ấy mà!

Nhỏ không học

Mặc dù là điều tối kỵ với người làm nghề viết lách, nhưng khoảng năm năm trở lại đây cái lỗi sai chính tả hay ngây ngô ngữ pháp căn bản đã thành chuyện thường ngày ở nhiều bản tin, bài báo. Từ những báo lâu đời cây đa cây đề như Thanh Niên, Tuổi Trẻ… đến các báo điện tử mới nổi đều có, chỉ khác nhau về tần suất.

Mời bạn đọc đọc một đoạn trong blog của blogger Thuyền Lá Tre, nick name của nhà báo Hoàng Liên. Nhà báo này cho biết từng làm việc ở Đài Phát thanh truyền hình tỉnh Lâm Đồng, nơi có thành phố du lịch Đà Lạt nổi tiếng. Tôi tình cờ đọc được blog này cách đây vài năm. Đến hôm nay đọc lại, nó vẫn nguyên tính thời sự.

“Nhiều năm làm việc, vẫn chỉ quẩn quanh với những tin lễ tân, khai mạc cái này bế mạc cái kia khánh thành cái nọ tặng quà chỗ kia…. vẫn cứ câu cú không chấm không phẩy, vẫn cứ ngơ ngác trước những vấn đề mà cả xã hội đang nhao nhao bàn tán, viết về dân tộc mà không phân biệt được đâu là người Cill, người Lạch, người Mạ hay người Chu Ru; viết về cây cafe thì chịu chết không biết đâu là Robusta đâu là Catimo đâu là Arabica; không phân biệt được đình và đền, không biết hết các đơn vị hành chánh của một địa phương, các thuật ngữ khoa học hay chuyên môn vẻ như là một cánh rừng rậm… có cảm tưởng như chẻ đầu ra đổ chữ vào thì đảm bảo chữ nghĩa cũng sẽ theo tất cả các lỗ có trên đầu trên mặt mà trào tuôn ra hết…”

Bài viết về sư trụ trì trên báo Việt Nam
Bài viết về sư trụ trì trên báo Việt Nam Ảnh chụp màn hình báo Công An

Viết về dân tộc mà không biết đâu là người Cill hay người Lạch, thôi chuyện này cũng khó. Nhưng anh “nhà báo” còn không biết tấm ảnh chụp đám xe hơi đồ chơi dưới gầm giường mà viết luôn một bài đại gia sưu tập xe sang chục tỷ, mới ghê.

Chính tả ngữ pháp là những kiến thức cấp một đến cấp ba mà còn ngọng thì nói gì đến học những bài học cơ bản của nghề.

Nhiều người làm báo Việt Nam hiện tại thậm chí không buồn nghĩ đến việc kiểm tra nguồn tin. Vì vậy mới có tấm ảnh cá chết ở hồ Mona, bang Michigan, Hoa Kỳ thì được gán là cá chết trên bãi biển Hà Tĩnh (để “đánh” Formosa), cột khói đen do thông lò hơi trước khi tổ máy hoạt động ở nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 1 (huyện Tuy Phong, tình Bình Thuận) thì gán vào “cháy lớn”; anh lính cứu hỏa ở Hà Nội biến thành lính cứu hỏa rừng thông Hà Tĩnh… Mới có những vụ vi phạm nghiêm trọng cả nguyên tắc lẫn đạo đức nghề nghiệp, từ phóng viên biến thành lưu manh khi đưa cái chổi cho nông dân, bảo họ quét lên rau cho mình quay phim, rồi về cắt xén biến thành phóng sự điều tra việc nông dân giả mạo rau sạch, như vụ việc chấn động ở VTV24 cách đây hai năm.

(Xin nói thêm để người đọc rõ: đoạn phóng sự được phát trên VTV ghi lại cảnh nông dân dùng chổi cứng quét trên luống rau non và giải thích trước ống kính là người tiêu dùng không dám mua rau vì sợ phun thuốc, nên mình quét lên rau tạo vết rách lỗ chỗ trông giống như rau bị sâu ăn, để lừa người tiêu dùng đây là rau sạch. Sau khi phát sóng, phóng sự trên bị người dân ở địa phương xã Vĩnh Thành, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa phản ứng dữ dội. Họ đưa ra bằng chứng cho thấy chính nhóm phóng viên VTV đã đưa chổi cho họ, nhờ họ quét lên luống rau và thoại trước ống kính như trên. Phóng viên VTV buộc phải về tận nơi xin lỗi trước đông đảo người dân. Đoạn clip xin lỗi sau đó được đưa lên mạng nhưng người dân vẫn không hài lòng vì cho rằng nó thiếu thành khẩn).

Đến đây thì phải giải thích vì sao làng báo Việt Nam từng có những thế hệ “vàng” (xin đọc lại bài Pháp luật Tp HCM, Tuổi Trẻ: Những nhạc trưởng nốt nhạc bẻ đôi cũng không biết), nhưng vàng không đẻ ra vàng, mà “tự diễn biến, tự suy thoái” thành những thế hệ “chì” tồi tệ.

Có một lý do là các tờ báo lớn mạnh được “thay máu” bằng việc cài cắm các vị lãnh đạo số không về nghề nhưng số một về quyền lực. Lý do thứ hai (có lẽ chủ quan vì tôi không nghiên cứu cụ thể), do một thời doanh nghiệp Việt Nam được cởi trói, phát triển nhanh mạnh so với thời kỳ trước đó, nên cả doanh nghiệp và người tiêu dùng đều có nhu cầu quảng bá và xem quảng cáo sản phẩm. Doanh nghiệp cũng muốn tài trợ cho các gói truyền thông trên báo chí.

Thị trường màu mỡ này nhanh chóng được các cái tài năng kinh doanh ngửi ra. Họ lập tức đáp ứng: liên kết với các cơ quan chủ quản (có quyền ra báo) vốn luôn viêm màng túi, mở ra hàng loạt tờ báo bao phủ thị trường nhưng không nhằm mục đích làm báo mà chỉ để có chỗ làm quảng cáo, đăng nội dung quảng bá cho doanh nghiệp.

Mục đích như vậy thì phải tuyển các em chân dài, mặt xinh, da dày có thể lả lơi để mời chào doanh nghiệp. Hoặc các chú có máu chém giết, đi lùng sục thông tin bất lợi của doanh nghiệp, đến dọa dẫm, vòi tiền, nếu không chung chi thì “tao đánh cho một bài”. Hoặc tuyển con em của những người có chức tước, máu mặt, để nhờ oai của họ doanh nghiệp tự nguyện đặt vấn đề làm thân (có cách nào làm thân nhanh hơn tặng quà), hay được che chở.

Nhỏ không học, lớn cũng không học

Làm báo đòi hỏi có kiến thức tổng hợp và lao động miệt mài để phát hiện, phân tích và diễn đạt tin tức kịp thời và chính xác cho người đọc. Thông tin rất nhiều và thay đổi nhanh chóng, do vậy người làm báo phải đọc và học không ngừng. Nhưng nếu bắt đầu vào nghề đã hướng đến một mục đích sai lệch, người làm báo sẽ bị biến thành công cụ không hơn không kém, tệ hại hơn là những công cụ chống lại sự tiến bộ của xã hội.

Tôi xin trích dẫn tiếp một đoạn trong blog của nhà báo Hoàng Liên đã thượng dẫn:

“Cứ bảo đấy là nghề nghiệt ngã đòi hỏi cao này kia…nhưng con đường trở thành nhà báo với nhiều người, dễ không thể tả và có thể chẳng cần đến kiến thức trình độ gì ráo trọi, chỉ cần: có bố mẹ anh chị em bà con đang làm ở 1 đài báo nào đấy, kế đó là có tiền, kế nữa là có ông to bà nhớn đỡ đầu…bất luận là ai cũng trở thành nhà báo tất!

Hình chụp người lính cứu hỏa trên báo Việt Nam
Hình chụp người lính cứu hỏa trên báo Việt Nam Courtesy of baomoi

Không phải là tất cả, nhưng có lẽ đến 80% là thế! (Tôi xin bổ sung: theo những gì tôi biết thì điều này đúng với các báo bộ ngành ở miền Bắc, hoặc các báo địa phương hơn là các báo tương đối độc lập và có thị trường ở miền Nam-Trần Hoa).

-“Con hát thì mẹ khen hay”. Bố là sếp con là nhân viên, vào cuộc họp bố khen con như sao sáng mới trồi ra. Đi làm thì luôn được bố (mẹ) và những người dưới quyền bố (mẹ) “ưu tiên” hết cỡ, nghĩa là không phải đi vùng sâu vùng xa, đứa nào chạy bục mặt kiếm tin bài chứ những ông bà “con nối” ấy nghiễm nhiên ngày nào cũng có tên trên bảng phân công công việc, đảm bảo mỗi ngày đều có thu nhập. Cuối năm thì nhứt định có 1 suất Thiến sĩ (à quên chiến sĩ) thi đua, he he !

-Không đến mức rớt tốt nghiệp trung học và cũng vào được đại học như ai, nhưng cái sự học hết sức làng nhàng, đại loại chơi nhiều hơn học. Kiểm tra vài kiến thức cơ bản nhất cũng ú ớ. Học cái nghề đòi hỏi đọc nhiều, đi nhiều mà ngại cả đôi thì thôi rồi. Thế nhưng con đường vào nghề từ thực tập cho đến đi làm cứ như trải lụa nhờ bố làm quan to. Đi dù làm cả năm trời vẫn không phân biệt nổi đâu là HĐND (Hội đồng nhân dân), đâu là UBND (Ùy ban nhân dân) nhưng tuyệt đối, không ai phê nàng câu nào cả, mà có khi ngược lại, uy lực của những bữa tiệc chiêu đãi và chức của bố nàng đã thực sự “xoay được ngòi bút biên tập”!

Thôi, tôi kể tới đây thế thôi. Kẻo kể nữa hết đêm. Túm lại, sếp nào thì lính ấy, rau nào sâu ấy. “Người trên ở chẳng thật thà/để cho kẻ dưới ra ma cả đoàn”.

Nhưng cuối cùng chúng mình chịu chung cái ngu của chúng nó

Báo chí có nghĩa vụ cung cấp tin tức trung thực, khách quan và nhiều chiều, do đó nó được tôn trọng, là tiếng nói phản biện của xã hội. Thông qua báo chí, người dân tạo ra đối trọng với hệ thống chính quyền và những nhóm lợi ích chủ yếu đang điều hành những lĩnh vực riêng lẻ, để hướng đến sự hài hòa. Thông qua báo chí, các chính sách tác động đến nhiều người được soi xét và chỉnh sửa để phù hợp nhất với cộng đồng.

Trong quá trình quản trị nhà nước, chính quyền nhờ báo chí mà kịp thời nhận biết phản ứng của người dân cả trước khi, trong khi và sau khi ban hành chính sách. Báo chí phải độc lập và tiên phong, kiến tạo diễn đàn trung lập để xã hội hướng đến những giá trị chung, đề ra những nguyên tắc và luật lệ chung.

Không có báo chí, xã hội không thể phát triển và tiến bộ.

Thế cho nên các sản phẩm báo chí sai lỗi hoặc méo mó, tệ hại… gây ra nhiều tác hại cho xã hội hơn là chỉ tạo ra một tiếng cười hoặc một cái bĩu môi chê cười. Vì nó khiến người mới vào nghề hiểu sai lệch về chuẩn mực và giá trị của nghề báo, do đó tiếp tục tạo ra những thế hệ và sản phẩm báo chí sai lỗi và méo mó. Khi điều đó diễn ra đủ lâu, báo chí bị xã hội khinh miệt và quay lưng.

Nhưng, một khi tiếng nói phản biện bị biến dạng và đánh mất giá trị, cái giá mà cả xã hội phải trả, không trừ một ai, là nhiễu loạn thông tin và thiếu hụt một phương cách phổ quát nhất để tìm biết sự thật.

* Bài viết không thể hiện quan điểm của Đài Á Châu Tự Do

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Bảy 10, 2019

20190710. BÀN VỀ KẼ HỞ CỦA LUẬT ĐẦU TƯ

ĐIỂM BÁO MẠNG

BỊT NGAY LỖ HỔNG RƯỚC ‘NGƯỜI NGOÀI’  VÀO XÂY CAO TỐC BẮC-NAM

TÔ VĂN TRƯỜNG / BVN 5-7-2019

Dự án trọng điểm đường cao tốc Bắc-Nam thời gian gần đây gây nên “cơn bão” tranh luận về việc lựa chọn nhà đầu tư.

Tuy nhiên, điều đáng tiếc là ít người để ý đến các lỗ hổng pháp lý và một số người viện dẫn Luật Đầu thầu có lợi cho nhà đầu tư nước ngoài, nhất là Trung Quốc.

Tôi cho rằng, những lỗ hổng pháp lý này phải được bịt lại sớm và về lâu dài, phải tiếp tục bịt các lỗ hổng to hơn mang tính hệ thống trong nhiều luật liên quan.

Luật Đấu thầu Việt Nam chủ yếu là nhằm bảo đảm tuyển chọn công bằng, tìm ra những nhà thầu cho Việt Nam có chất lượng cao nhất và giá thầu thấp nhất.

Tuy nhiên, Luật có hai điều khoản liên quan đến vai trò của đầu tư nước ngoài: đó là Điều 3 và Điều 15. Hai điều này đã được một số người có trách nhiệm sử dụng để cho rằng Việt Nam không có quyền hạn chế nước ngoài tranh thầu trong các dự án hợp tác công tư (PPP).

Bài viết này sẽ tập trung phân tích Điều 3 Áp dụng Luật đấu thầu, điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế  (1) và Điều 15 Đấu thầu quốc tế (2) trong Luật Đấu thầu của Việt Nam để chỉ ra rằng, đây là những lỗ hổng chết người.

Những lỗ hổng chết người tại Điều 3, khoản 3 chỉ ra là cần có đầu thầu quốc tế ở những dự án đầu tư có vay vốn ODA mà hợp đồng vay vốn có qui định nước cho vay có quyền đấu thầu. Điều 15 khoản 1 (a)  nhấn mạnh thêm điểm này.

Điều 3, khoản 4: Việt Nam phải thực hiện điều ước quốc tế nếu điều ước quốc tế đòi hỏi đấu thấu quốc tế. Như vậy, quy định này có thể hiểu Việt Nam có toàn quyền dành riêng đấu thầu cho nhà thầu Việt Nam, trừ khi Việt Nam ký mượn vốn ODA và chấp thuận quyền đấu thầu của chủ nợ.

Điều 3 khoản 4 không áp dụng hoặc bị quan chức Việt Nam hiểu sai, vì cho đến nay thỏa ước thương mại quốc tế WTO không có điều khoản mở rộng đấu thầu cho mọi nước (điểm này sẽ bàn rõ hơn ở phần dưới đây khi diễn giải về cam kết WTO).

Nhưng một số quan chức Việt Nam lại hiểu sai về thỏa ước thương mại quốc tế WTO khi cho rằng WTO đòi hỏi mở rộng đấu thầu cho quốc tế, và cho rằng ngay Luật Đấu thầu Việt Nam ở Điều 15 khoản 2 cũng đòi hỏi phải mở rộng mọi dự án đầu tư dưới hình thức đối tác công tư phải mở cho người nước ngoài (nếu như phía người Việt Nam không có khả năng đáp ứng). Lý do là Luật Đấu thầu viết là đấu thầu quốc tế áp dụng cho: Dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất, trừ trường hợp hạn chế đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư.

Đúng là Điều 15 Khoản 2 có thể hiểu là bất cứ dự án đầu tư có sử dụng đất thì đều phải mở ra cho đấu thầu quốc tế, nếu như phía Việt Nam không có khả năng đáp ứng.

Ở Việt Nam hay bất kỳ quốc gia nào khác dự án nào mà chẳng sử dụng đất? Và hiểu như thế thì rõ ràng là nước ngoài có quyền đấu thầu ở bất cứ dự án theo hình thức dự án có đối tác công tư. Không lẽ nếu đối tác người Việt Nam chưa đủ khả năng thầu, thì đất nước Việt Nam phải nhượng lại quyền này cho nước ngoài, trừ trường hợp đặc biệt cần hạn chế, mà hạn chế này lại phải có qui định? Như hiện nay chưa có qui định thì Việt Nam phải mở cho đấu thầu quốc tế ư? Tôi chưa thấy nước nào viết luật như vậy vì luật quốc gia lại bảo đảm “ưu tiên” quyền hoạt động của doanh nghiệp nước ngoài!?

Nếu đọc kỹ, thấy đúng là Điều 15 khoản 2 không hề có nội dung nào quy định rằng chỉ dành cho việc lựa chọn nhà đầu tư. Giả sử, Điều 15 khoản 2 cũng áp dụng cho việc lựa chọn nhà thầu thì lúc này lại quay trở lại việc áp dụng quy định tại Điều 15 khoản 1 Luật Đấu thầu. Điều này, dẫn đến việc không cần thiết áp dụng Điều 15 khoản 2 ho việc lựa chọn nhà thầu nữa. Thật ra, thì Điều 15 khoản 2 Luật Đấu thầu đã quy định không rõ ràng nên người ta dễ suy luận khi áp dụng có lợi cho quan điểm của mình.

Xin lưu ý: Ngay ở Mỹ mọi đầu tư với nước ngoài, Bộ Tài chính vẫn có quyền can thiệp, cấm, khi thấy có liên quan đến an ninh quốc gia. Các dự án đầu tư hay hợp tác với nước ngoài (kể cả ở nước ngoài) phải được doanh nghiệp nộp xin ý kiến của Ủy ban Đầu tư nước ngoài ở Mỹ – Committee on Foreign Investment in the United States (CFIUS or the Committee).

Có thể tham khảo ở đây: https://www.lw.com/thoughtLeadership/overview-CFIUS-process

Diễn giải khác nhau về cam kết WTO, trả lời câu hỏi về việc dư luận đang quan ngại về việc có rất nhiều nhà đầu tư Trung Quốc quan tâm đến dự án cao tốc Bắc – Nam, ông Nguyễn Danh Huy Vụ trưởng Vụ Đối tác công tư Bộ Giao thông Vận tải cho rằng, chúng ta đang sống trong một đất nước pháp quyền và chúng ta phải làm theo luật. Theo ông Huy, Việt Nam có Luật Điều ước quốc tế, trong đó quy định nếu Việt Nam là thành viên của bất kể một tổ chức quốc tế nào thì phải làm theo quy định điều ước quốc tế đã ký. (3)

Tôi cho rằng, giải thích trên của ông Huy có chỗ nhầm lẫn vì Việt Nam không có luật bắt buộc phải mở ra mọi dự án cho mọi nước, và luật quốc tế cũng không bắt buộc. Luật quốc tế về nhà thầu liên quan đến mua sắm chính phủ của WTO thì chỉ áp dụng cho một số nước ký kết, Việt Nam lại chưa phải là thành viên của hiệp định này.

Cho nên, đơn giản là Việt Nam dù có đưa dự án PPP thì vẫn có thể loại một số nước không cho phép tham gia nếu dự án đó có liên quan đến an ninh quốc phòng. Mặt khác, nếu thấy có nước nào đáng tin cậy, muốn tham gia, thì chúng ta vay vốn ngân hàng nước đó, hoặc vay ODA có ưu đãi hơn.

Nếu chúng ta không vay ODA và tự làm dự án cơ sở hạ tầng bằng cách phát hành trái phiếu trong khi chưa đủ năng lực chuyên môn, thì vẫn có thể thuê những công ty nước ngoài nào mà mình đánh giá là tốt. Ở đây, vấn đề chính là hệ thống có trong sạch đủ để chọn nhà thầu tốt không. Lên một danh sách các nhà thầu về nhiều ngành, có thể nhờ tổ chức quốc tế có ý kiến cũng là một cách làm.

WTO là hiệp ước đa phương đòi hỏi không phân biệt đối xử với các pháp nhân là thành viên trong thương mại quốc tế. WTO cũng cho phép các nước có biện pháp đặc biệt với hàng hóa cũng như pháp nhân (đánh thuế cao, cấm) nếu liên quan đến an ninh quốc gia.

WTO chưa có hiệp ước đa phương về đầu tư nước ngoài hay mua sắm chính phủ GPA (Government Procurement Agreement) có liên quan đến đầu thầu các dự án hợp tác công tư.

(Mời coi ở đây: https://www.wto.org/english/tratop_e/gproc_e/gp_gpa_e.htm)

Việt Nam cũng chưa ký GPA nên hoàn toàn có quyền phân biệt đối xử. GPA là hiệp ước chỉ ràng buộc những thành viên nào đồng ý tham gia chứ không phải là một hiệp ước đa phương ràng buộc tất cả mọi thành viên. Cho nên có quan chức nói “các quốc gia đều có một bộ quy chế …” là sai. Hiện GPA chỉ qui tụ 20 thành viên của WTO, trong đó có Mỹ và EU được tính là một thành viên nên số quốc gia tham gia chỉ là 48 trên tổng số 164.

Tất nhiên, không phân biệt đối xử là quy tắc căn bản của WTO nhưng cả WTO và GPA cũng như các hiệp ước khác có những qui định cho phép ngoại lệ (waiver).

Điều III của GPA “Security and General Exceptions” liệt kê những ngoại lệ cho phép nước tham gia không áp dụng các quy tắc của GPA. Ngoài những ngoại lệ thường thấy như an ninh quốc phòng, bảo vệ thuần phong mỹ tục, an ninh xã hội, bảo vệ sức khoẻ và đời sống của người, súc vật và cây cỏ, bảo vệ quyền sở hữu tri tuệ, còn có qui định về hàng hoá hay dịch vụ liên quan đến người khuyết tật, cơ quan từ thiện hay lao động trong tù.

Lời kết

Lâu nay Bộ Giao thông Vận tải viện dẫn do Luật Đấu thầu quy định nên phải mời các nhà đầu tư quốc tế kể cả Trung Quốc tham gia Dự án đường cao tốc Bắc Nam là không chuẩn xác. Bất cứ thứ luật nào “trói tay” chính phủ, có lợi cho nhà đầu tư nước ngoài hơn là nhà đầu tư trong nước cần phải xem xét lại.

Trong gọi thầu, mọi quốc gia đều có một nguyên tắc tối thượng: Nước chủ nhà có quyền không cho các công ty nước ngoài tham gia đầu thầu, nếu chính phủ hay nước họ có tranh chấp lãnh thổ hay có những mâu thuẫn liên quan đến an ninh quốc gia của bên có dự án gọi thầu. Thiết nghĩ chỉ cần vận dụng một điều này là đủ để bảo vệ lợi ích quốc gia và yên lòng dân.

Chú thích:

(1) Điều 3. Áp dụng Luật đấu thầu, điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế

1. Hoạt động đấu thầu thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này phải tuân thủ quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Trường hợp lựa chọn nhà thầu cung cấp nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, vật tư, dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn để bảo đảm tính liên tục cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và mua sắm nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của doanh nghiệp nhà nước; thực hiện gói thầu thuộc dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất của nhà đầu tư được lựa chọn thì doanh nghiệp phải ban hành quy định về lựa chọn nhà thầu để áp dụng thống nhất trong doanh nghiệp trên cơ sở bảo đảm mục tiêu công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế.

3. Đối với việc lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư thuộc dự án có sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn vay ưu đãi phát sinh từ điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế giữa Việt Nam và nhà tài trợ thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế và thỏa thuận quốc tế đó.

4. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định về lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư khác với quy định của Luật này thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế đó.

(2) Điều 15. Đấu thầu quốc tế

1. Việc tổ chức đấu thầu quốc tế để lựa chọn nhà thầu chỉ được thực hiện khi đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:

a) Nhà tài trợ vốn cho gói thầu có yêu cầu tổ chức đấu thầu quốc tế;

b) Gói thầu mua sắm hàng hóa mà hàng hóa đó trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất được nhưng không đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật, chất lượng, giá. Trường hợp hàng hóa thông dụng, đã được nhập khẩu và chào bán tại Việt Nam thì không tổ chức đấu thầu quốc tế;

c) Gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, xây lắp, hỗn hợp mà nhà thầu trong nước không có khả năng đáp ứng yêu cầu thực hiện gói thầu.

2. Dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất, trường hợp hạn chế đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

(3) https://vietnamfinance.vn/nha-dau-tu-trung-quoc-quan-tam-cao-toc-bac-nam-chung-ta-khong-duoc-phan-biet-doi-xu-20180504224223616.htm

T.V.T.

Nguồn: https://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/bit-ngay-lo-hong-ruoc-nguoi-ngoai-vao-xay-cao-toc-bac-nam-547244.html

ĐƯỜNG SẮT CAO TỐC BẮC-NAM: CHỌN SAI LÀ CÓ TỘI VỚI DÂN, VỚI NƯỚC

TRẦN VĂN TƯỜNG / TVN 10-7-2019

Hôm qua, báo chí đã đưa một tin chấn động: Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tính toán tổng vốn đầu tư dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam chỉ khoảng 26 tỉ USD, giảm hơn 32 tỉ USD so với đề xuất của Bộ Giao thông Vận tải.

Mức đầu tư giảm đáng kể mà vẫn bảo đảm hiệu quả kinh tế, phù hợp với điều kiện và định hướng phát triển, nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa, tốc độ chạy tàu vẫn đáp ứng 200km/giờ, thời gian di chuyển giữa Hà Nội và TP.HCM chỉ trong 8 giờ là khá thuận lợi và hợp lý.

Phương án này được cho là phù hợp chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ làm giảm chi phí đầu tư, giảm chi phí vận tải cho nền kinh tế, hơn nữa là bảo đảm tính khả thi, hiệu quả đầu tư phát triển.

Tính toán trên khá toàn diện, đưa ra nhiều kịch bản so sánh khách quan và thiết thực hơn. Có tới 4 kịch bản được đưa ra dựa trên báo cáo nghiên cứu tiền khả thi bao gồm:

(1) Nâng cấp tuyến đường sắt hiện tại có tốc độ khai thác 80-90km/giờ tàu khách và 50-60km/giờ tàu hàng.

(2) Nâng cấp tuyến đường sắt hiện tại thành đường đôi khổ 1.435mm, điện khí hóa khai thác chung tàu khách và tàu hàng có tốc độ 200km/giờ.

(3) Nâng cấp tuyến đường sắt hiện tại tốc độ 70km/giờ cho tàu khách địa phương và tàu hàng.

(4) Đầu tư tuyến đường sắt tốc độ cao đường đôi, khổ 1.435mm, điện khí hóa chỉ khai thác cho tàu khách có tốc độ 320km/giờ, tốc độ thiết kế 350km/giờ.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề xuất lựa chọn kịch bản (2) “Nâng cấp tuyến đường sắt hiện tại thành đường đôi khổ 1.435mm, điện khí hóa khai thác chung tàu khách và tàu hàng có tốc độ 200km/giờ” được nhiều nhà quản lý và chuyên gia đánh giá cao, bảo đảm tính khả thi về mặt kỹ thuật, các doanh nghiệp trong nước có thể tiếp cận hoặc liên kết thực hiện, hạn chế các doanh nghiệp nước ngoài thâu tóm các hợp đồng có giá trị lớn thuộc dự án… Hơn nữa, tránh độc quyền và bị lệ thuộc công nghệ, đỡ lãng phí, tăng khả năng xã hội hóa đầu tư.

Đường sắt cao tốc Bắc – Nam: Chọn sai là có tội với dân, với nước

MPI chọn phương án nâng cấp tuyến đường sắt hiện tại thành đường đôi khổ 1.435mm có tốc độ 200km/giờ

Báo chí cũng cho hay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã chỉ ra những bất cập trong phương án do Bộ Giao thông Vận tải đệ trình. Chẳng hạn, sau khi kết thúc giai đoạn 1, hoàn thành đầu tư đoạn Hà Nội – Vinh và Nha Trang – TP.HCM vào năm 2032, năng lực khai thác 2 tuyến này đạt 364.000 hành khách/ngày. 

Trong khi dự báo số lượng hành khách trên 2 đoạn tuyến này vào năm 2035 chỉ đạt từ 55.000 – 58.000 hành khách/ngày, tức chỉ gần 16% công suất đầu tư. Ngoài ra, khi đầu tư dự án đường sắt tốc độ 350km/giờ chỉ để chở khách mà không phục vụ vận tải hàng hóa là quá dư thừa và lãng phí.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng dẫn chứng từ kinh nghiệm nâng cấp tuyến đường sắt cũ chở hàng hóa và đầu tư xây dựng mới một tuyến đường sắt tốc độ cao chuyên chở khách ở Hà Lan. Chính phủ nước này sau khi đánh giá, so sánh đã không thực hiện tuyến đường sắt Dusseldorf – Amsterdam từ 200km/giờ lên 300km/giờ vì chi phí vận hành tăng từ 1,8 tỉ euro lên 3,4 tỉ euro và không phát huy tối đa hiệu quả. Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng phương án làm đường sắt tốc độ cao có vận tốc tối đa 200km/giờ là phù hợp, giảm chi phí đầu tư.

Đường sắt tốc độ cao cực kỳ tốn kém và thường chỉ dành cho những quốc gia có sẵn nguồn lực và nền kinh tế mạnh, GDP gấp nhiều lần Việt Nam, đều đã hoàn thành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm chủ công nghệ tiên tiến như Nhật Bản, Pháp, Đức, Ý, Trung Quốc, Tây Ban Nha…

Không phải quốc gia nào giàu có, làm chủ khoa học công nghệ kỹ thuật cũng làm đường sắt tốc độ cao nếu nhận thấy không phù hợp hay ít hiệu quả hơn phương án đầu tư khác. Hà Lan, như đã nêu, là minh chứng rõ ràng nhất vì họ nhận thấy dự án không phát huy tối đa hiệu quả. Mỹ là nước giàu có nhưng ưu tiên xây dựng một mạng lưới đường bộ cao tốc liên bang, hệ thống giao thông đường bộ và hàng không rất thuận lợi trong vận chuyển, đi lại cho mọi người dân, liên kết khắp các vùng giúp phát triển kinh tế mà không chọn đường sắt cao tốc.

Đường sắt cao tốc liên quan đến nhiều lĩnh vực về khoa học, công nghệ, kỹ thuật, kinh tế, xã hội và vốn đầu tư… Riêng về kỹ thuật cũng bao gồm nhiều chuyên ngành tương trợ với nhau như quỹ đất xây dựng, cầu đường, kiến trúc, thông tin, sức kéo, vận tải. Điều này đòi hỏi đưa ra nhiều phương án, giải pháp so sánh và phản biện mới có thể chọn phương án tốt nhất, giảm thiểu rủi ro, mang đến hiệu quả lâu dài.

Đầu tư đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, trước tiên hãy nghĩ tới hiệu quả và vốn không quá lớn để có giá vé phù hợp cho số đông người dân sử dụng dịch vụ. Nếu giá vé cao sẽ khó cạnh tranh với hàng không. Đó còn là tính khả thi, thuận lợi cho dự án. Làm đường sắt tốc độ cao phù hợp với điều kiện và nhu cầu phát triển, tránh lãnh phí.

Hàn Quốc và Đài Loan cũng e dè 

Tại châu Á, nhiều tuyến đường sắt tốc độ cao khai thác không thu hồi được vốn, thậm chí phải dừng hoạt động. Bởi đầu tư cây dựng mới với chi phí quá cao, đòi hỏi phải tăng giá vé để thu hồi vốn.

Hàn Quốc từng xây dựng một tuyến đường sắt tốc độ cao nối thủ đô Seoul với sân bay Incheon, mới đây đã dừng hoạt động sau 4 năm đưa vào sử dụng vì lỗ nặng, giá vé lại cao, không cạnh tranh nổi với các phương tiện khác và xe buýt cao tốc.

Đài Loan làm đường sắt tốc độ cao dài 350km sử dụng công nghệ Nhật Bản, khai trương năm 2007. Theo tính toán, mỗi ngày sẽ thu hút 240 ngàn lượt hành khách trong năm đầu tiên nhưng thực tế sau gần 7 năm khai thác, trung bình mỗi ngày chỉ đạt 130 ngàn lượt hành khách, khiến thua lỗ hơn 1,5 tỉ USD. Năm 2015, nhằm duy trì hoạt động tuyến đường sắt tốc độ cao, chính quyền phải chi ngân sách giải cứu với số tiền hơn 1 tỉ USD.

Hơn nữa là tính khả thi, không đội vốn. Ta đã có cả một “bảo tàng kinh nghiệm thất bại” trong đầu tư tuyến đường sắt Cát Linh – Hà Đông tại Hà Nội, hết sức lưu ý để tránh lặp lại.

Dự án đường sắt Cát Linh – Hà Đông chỉ dài 13,5 km thế nhưng đến nay đã 8 lần lỡ hẹn, đội vốn lên gần gấp đôi, chậm tiến độ hơn 5 năm so với kế hoạch được duyệt… Đáng chú ý, dù chỉ còn 1% khối lượng công việc nhưng vẫn chưa biết bao giờ mới đưa vào khai thác.

Khâu quản lý, điều hành yếu kém. Dự án phải điều chỉnh tổng mức đầu tư từ 8.7700 tỷ đồng lên 18.000 tỷ đồng, tăng hơn 200%. Riêng phần đội vốn 250 triệu USD, phải trả nợ trong 9 năm cả gốc lẫn lãi là 650 tỉ/năm. Sau 8 lần lỡ hẹn, chậm tiến độ hơn 5 năm, đến nay vẫn chưa biết bao giờ mới có thể khai thác. Ta làm quản lý nhà nước, chủ đầu tư nhưng lại để nhà thầu dẫn dắt và phải chạy theo. Có lẽ đây bài học lớn và đắt giá nhất từ trước đến nay trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, lựa chọn nguồn vốn và cung cấp công nghệ thiết bị.

Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, 2 phương án có tính năng gần tương đương nhau nhưng lại chênh lệch quá lớn chi phí đầu tư lên tới 32 tỉ USD là khoản tiền quá khủng với một đất nước mới thoát nghèo, nợ công lên đến 3,5 triệu tỉ đồng chiếm 61,4% GDP năm 2018. Trong khi nước ta, vốn đầu tư cho các công trình giao thông còn thiếu trước hụt sau, hàng loạt dự án dân sinh đã quy hoạch từ nhiều năm nhưng vẫn chưa thể thực hiện vì thiếu vốn.

Dự án đường sắt tốc độ cao, cần xem xét cẩn trọng. Trong điều kiện hiện nay nước ta có thu nhập trung bình, nợ công đã cận ngưỡng cho phép và sức ép trả nợ vay cũ tăng từng năm. Chọn phương án sao phù hợp với điều kiện và nhu cầu phát triển, mang lại hiệu quả, đảm bảo khả năng thu hồi vốn và tham gia nội địa hóa cao, giảm thiểu rủi ro, tránh phụ thuộc vào công nghệ và chuyên gia nước ngoài trong cung cấp, lắp đặt, vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng, phụ tùng thay thế.

Nếu công tác quản lý lỏng lẻo khiến nhiều dự án giao thông đội vốn, đất nước càng càng thêm nặng gánh nợ nước ngoài, thì làm đường sắt tốc độ cao quá dư thừa và lãng phí sẽ thiệt hại càng lớn, đồng nghĩa với phải trả giá càng cao. Không chỉ lợi ích quốc giá mất đi, quan trọng hơn là làm giảm lòng tin nhân dân.

Nước ta còn nhiều dự án cấp bách phải làm. Nếu không tính toán cẩn trọng, lường hết các rủi ro, chọn phương án đầu tư đường sắt tốc độ cao không hiệu quả sẽ dẫn đến thiệt hại khôn lường. Chưa kể phải sửa sai vì đầu tư lãng phí, mất đi cơ hội phát triển các dự án phục vụ kinh tế và giải quyết việc làm. Thất thoát nhiều khi không đáng lo sợ bằng quyết định đầu tư sai lầm.

Những chủ trương và quyết định đúng đắn, trước đó luôn cần phản biện và đánh giá độc lập để tránh dựa vào cảm tính hoặc ý chí cá nhân hay “lợi ích nhóm”. Nước ta không thiếu người có tâm quyết, chuyên môn và kiến thức để tìm ra giải pháp tốt ưu cho dự án đường sắt tốc độ cao. Lo là cơ quan nhà nước lắm khi không chú trọng đến nguồn lực này, xem các phản biện hay nhận xét và đánh giá trái ý là những điều khó chịu, khó nghe, không muốn.

Tôi ủng hộ ý kiến Bộ Kế hoạch và Đầu tư kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét thành lập Hội đồng thẩm định Nhà nước tổ chức thẩm định báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án đường sắt tốc độ cao bảo đảm độc lập, khách quan với đơn vị tư vấn lập dự án này. Nên chăng mở thêm diễn đàn cho các nhà quản lý, chuyên gia trong và ngoài nước góp ý. Chọn sai phương án đầu tư đường sắt tốc độ cao dẫn đến lãng phí là có tội với dân, với nước.

Kỹ sư cầu đường Trần Văn Tường 

TIN VÀ BÀI LIÊN QUAN:

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Bảy 9, 2019

20190709. QUANH CHUYỆN TÌM HIỀN TÀI

ĐIỂM BÁO MẠNG

‘HIỀN TÀI NHƯ LÁ MÙA THU, TÀI HIỀN NHƯ CỎ DẠI’

XUÂN DƯƠNG / GDVN 6-7-2019

Hiền tài là nguyên khí Quốc gia, chân lý này không ai phản bác.

Nói “Tài hiền là nguyên khí Gia quốc” nghe có vẻ trái tai nhưng nghĩ vậy mà không phải vậy.

Nếu hiểu “Gia sản” là tài sản riêng của một dòng tộc, một gia đình thì “Gia quốc” cũng là quốc gia của một gia đình, rộng hơn một chút là của một nhóm người.

Vua chúa xưa thường nói “Giang sơn này là của Trẫm”, nghĩa là “Quốc gia” biến thành “Gia quốc”.

Khi giang sơn thuộc về một gia đình, một dòng tộc, một nhóm người thì công sản biến thành gia sản.

Không biết có phải vì thế mà các sử gia đưa vào sử liệu khái niệm “Triều Đinh”, “Triều Lê”, “Triều Lý”, “Triều Trần”, “Triều Mạc”, “Triều Nguyễn”,…

Triều Đinh chỉ tồn tại 22 năm từ năm 968 đến năm 980; Triều Mạc tồn tại từ năm 1527 đến năm 1592, tổng cộng là 66 năm không kể thời gian con cháu nhà Mạc rút về Cao Bằng tiếp tục chống lại nhà Hậu Lê (đến năm 1677).

Ảnh minh họa/internet


Nếu chẳng may ở đâu đó, trong một khoảng thời gian không ngắn, quốc gia bị thao túng bởi “Nhóm lợi ích” cả về kinh tế, văn hóa và chính trị, có thể sau này các sử gia sẽ gọi giai đoạn lịch sử đó là “Triều Nhóm”?

Vào thời “Triều Nhóm”, những kẻ chỉ biết cúi đầu vâng, dạ, bảo sao nghe vậy chính là bọn “Tài hiền”, bọn ấy có cũng như không, ngày chỉ biết cắp ô, đêm chỉ biết cô đầu, vật vờ như cái bóng.

Khi quốc gia trở thành sân sau của phe nhóm, gia đình, dòng tộc thì đương nhiên hiền tài phải ra đi và “Tài hiền” trở thành nguyên khí.

Nếu có lúc nào đó “Hiền tài như lá thu; Tài hiền như cỏ dại” thì đó không phải là hạnh phúc mà là vô phúc cho quốc gia, dân tộc.

Ngay cả với nhóm không phải là “Tài hiền”, vẫn có người không ngại mà rằng: “Trí thức bây giờ dốt hơn trí thức ngày xưa”.

Chẳng biết nói thế có bao nhiêu phần đúng?

Giáo sư Hoàng Tụy trong bài: “Chỗ mạnh, chỗ yếu trong tâm lý con người Việt Nam khi đi vào thời đại văn minh trí tuệ” viết:

Có lẽ do quá lâu quen sống trong cảnh nghèo thiếu nên người dân ta nhiều khi dễ nhẫn nhục an phận, dễ bằng lòng với những thay đổi nhỏ, những suy tính cá nhân hời hợt, thiển cận theo lối cò con.

“Vì không cực đoan nên ít có đổ vỡ lớn, nhưng dễ bảo thủ, ít dám chấp nhận rủi ro tìm con đường mới do đó cũng dễ lâm vào trì trệ triền miên”.[1]

“Tài hiền” đã được một vị quan chức lãnh đạo ngành phát thanh truyền hình đất Kẻ Chợ nói trắng phớ giữa hội nghị thế vầy:

“Họ làm việc làng nhàng, đi ra đi vào, tuy nhiên họ không vi phạm kỷ luật, không cãi ai, không chửi ai nên rất khó đuổi”. [2]

Có phải vì thế mà xã hội hôm nay thỉnh thoảng lại bùng lên những chuyện “sốc, sex”, chuyện “Hoa hậu hở bạo”, chuyện chữ “lon” thêm mũ và thêm dấu,… nhằm giải cơn ngái ngủ của bộ phận khá đông người “trì trệ triền miên”, trong đó có không ít người được ủy quyền ký trên văn bản như bà Cục trưởng lý giải về chữ “lon” ở cơ quan cấp bộ chuyên về văn hóa.

Cứ cho là hãng giải khát ấy dùng từ chưa chuẩn thì người Việt cũng chẳng mấy ai để ý, chỉ khi bà Cục trưởng “phát động phong trào” thì người ta mới thấy nó thật là “nhạy cảm”, mới xúm vào mổ xẻ, vậy nên trách ai?

Nói thêm tí chút, nếu phạt hãng nước giải khát vì chữ “lon” thì có lẽ bà Cục trưởng nên ra thêm quyết định phạt báo các báo điện tử Laodong.vn, Vietbao.vn, Nongnghiep.vn, Baophapluat.vn,… vì các báo này đã dùng tên gọi “Đảo Côn Lôn” thay cho Côn Đảo.

Chuyện chưa từng kể về đảo Côn Lôn. [3]

Thăm đảo Côn Lôn. [4]

Côn Lôn, thiên đường tại thế. [5]

Phan Châu Trinh và án giam đất Côn Lôn. [6]

…..…


Phải thấy rằng các báo nêu trên đã cố tình dùng từ “Côn Lôn” – một địa danh từ trước thế kỷ 20 – mà không dùng địa danh theo quy định của pháp luật hiện hành là huyện Côn Đảo.  

Tại sao lại sử dụng địa danh trong đó có từ chỉ cần thêm dấu mà không cần thêm “mũ” đã trở nên “rất là khủng khiếp” như ý bà Cục trưởng trả lời báo chí. [7]

Người Việt từng biết đến rất nhiều “Tài hiền” khi người ta đưa ra các ý tưởng, chẳng hạn “Ngực lép không được lái xe”; “Ôtô 4 chỗ phải được trang bị bình cứu hoả”; “Cho phép toàn dân hát Quốc ca”; “Cộng điểm cho Mẹ Việt Nam anh hùng thi đại học”,…

Tuy nhiên hai ba năm trở lại đây, người dân mới ngớ ra, rằng đất nước còn tiềm ẩn vô số chủng loại “Tài hiền” khủng mà bọn “không cãi ai, không chửi ai nên rất khó đuổi” chưa xứng đáng là đệ tử chứ đừng nói là con cháu, ví như “Tôi thì dư luận phán xét xong rồi” hay “Giờ tôi nghỉ hưu rồi, có làm được gì mà nói”,…

Nhưng vì sao bọn “Tài hiền” lại đẻ mắn đến thế, sống dai đến thế?

Trả lời câu hỏi này phải mượn câu nói dân gian với đôi chút “sáng tạo”: “Đầu óc ngu si, ngũ chi khỏe mạnh”.

Người bình thường chỉ có tứ chi, bọn “tài hiền” lại có ngũ chi nên mới sinh chuyện đẻ mắn, giải thích thế có vị độc giả quen biết bảo là không chuẩn vì chỉ khoảng trên dưới 50% bọn “tài hiền” là có chi thứ ngũ, bọn còn lại làm gì có???

Có điều khi đã là “Tài hiền” thì chúng muốn gì mà chẳng được, sá gì thêm chi?

Tài liệu tham khảo:

[1]//www.slideshare.net/ebookfree247/cho-manh-cho-yeu-trong-tam-ly-con-nguoi-viet-nam-khi-di-vao-thoi-dai-van-minh-tri-tue

[2] //tuoitre.vn/40-nhan-su-kem-cua-dai-truyen-hinh-ha-noi-la-con-ong-nay-ba-kia-20180703142411431.htm

[3] //laodong.vn/phong-su/chuyen-chua-tung-ke-ve-dao-con-lon-526507.ldo

[4] //vietbao.vn/The-gioi-giai-tri/Tham-dao-Con-Lon/50707841/419/

[5]//nongnghiep.vn/con-lon-thien-duong-tai-the-post88645.html

[6]//baophapluat.vn/dan-sinh/phan-chau-trinh-va-an-giam-dat-con-lon-320441.html

[7]//thanhnien.vn/doi-song/mo-lon-viet-nam-bi-cho-la-phan-cam-dan-mang-khong-hieu-vi-sao-phan-cam-1098115.html

Xuân Dương

 

BA CÂU CHUYỆN HIỀN TÀI

HỒ ANH HẢI / NCQT/ BVN 6-7-2019

Nhân dịp một bậc hiền tài là nhà giáo-nhà văn Phạm Toàn, vị “Thuyền trưởng” của Nhóm Cánh Buồm[1] vừa ra đi, nghiencuuquocte.org đăng lại bài của Hồ Anh Hải (có bổ sung).

Hiền tài là nguyên khí của quốc gia -từ lâu chúng ta đã quá quen thuộc với câu nói này vì nó được các nhà lãnh đạo và báo chí ta luôn nhắc tới. Nhưng ai là hiền tài của nước ta? Họ có được coi là “nguyên khí của quốc gia” không ? Ở ta và ở nước ngoài, hiền tài được đối xử như thế nào?

Xin kể ba chuyện dưới đây.

1. Hiền tài ngay cạnh ta

Tháng 9/2011, nghe tin Giáo sư Hoàng Tụy được Hiệp hội Quốc tế về Tối ưu toàn cục trao Giải thưởng Constantin Caratheodory, tôi vào mạng Google và mạng Baidu (của Trung Quốc) tìm hiểu xem thế giới biết gì về bậc hiền tài này của Việt Nam. Kết quả cho thấy, tôi biết về bác Tụy còn ít hơn người nước ngoài.

Ví dụ, tiểu sử bác Hoàng Tụy bản chữ Hán cho biết bác được gọi là Hoàng “Jefferson” Tụy. Bác có con trai là Hoàng Dương Tuấn, hiện là Phó GS tại ĐH Công nghệ Sydney, Australia, và con rể là Phan Thiên Thạch. Cả hai cũng nghiên cứu toán tối ưu toàn cục như GS Hoàng Tụy. Thì ra cả nhà đều giỏi toán, “Hổ phụ sinh hổ tử” mà!

Trang mạng worldcat.org giới thiệu GS Hoàng Tụy có 31 công trình đăng trong 57 ấn phẩm được in bằng sáu ngôn ngữ và có mặt ở 846 thư viện.

Trang mạng ccebook.net giới thiệu cuốn Convex Analysis and Global Optimization (Phân tích về Lồi và Tối ưu toàn cục) của GS Hoàng Tụy, dày 356 trang, giá bán 249 USD, do Nhà xuất bản Springer xuất bản năm 1998 (khi ông 71 tuổi).

Luận văn có tựa đề A Cutting Algorithm for the Minimum Sum-of-Squared Error Clustering của hai tác giả Jiming Peng và Yu Xia, trích dẫn ba tác phẩm của GS

Hoàng Tụy là:

– Global optimization do Nxb Springer xuất bản tại Berlin năm 1993;

– Concave programming under lincar constraints đăng trên tạp chí Soviet Mathematics, năm 1964 ;

– Sách Clustering via d.c. optimization, xuất bản năm 2001.

Danh từ riêng Tuy’s cut (Lát cắt Hoàng Tụy) xuất hiện nhan nhản trong các tài liệu nói về Lý thuyết Tối ưu toàn cục.

Thì ra hiền tài ở ngay cạnh ta nhưng chính ta chẳng biết, hoặc biết mà không coi trọng.

Sau khi GS Hoàng Tụy được trao Giải thưởng cao quý Caratheodory, báo chí ta bắt đầu đăng nhiều tin về ông. Lãnh đạo Nhà nước đến tận nhà chúc mừng, tặng hoa và ôm hôn ông. Sáng 30/9/2011 đích thân Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân tham gia chương trình truyền hình bàn vấn đề Coi trọng các nhà trí thức, những hiền tài của xã hội…

Nhưng có lẽ GS Hoàng Tụy mừng ít tủi nhiều. Ở tuổi 84 (ông sinh năm 1927), nếu các ý kiến tâm huyết hết lòng vì nước vì dân của ông đóng góp cho Nhà nước suốt mấy chục năm qua cứ tiếp tục rơi vào im lặng không có phản hồi thì sao ông có thể vui được?[2]

2. Thánh nhân cũng có thể bị đưa đi cải tạo lao động

Đại văn hào Lỗ Tấn của Trung Quốc không xa lạ gì với người Việt Nam. Bác Hồ từng hết lời ca ngợi câu Trừng mắt coi khinh ngàn lực sĩ/ Cúi đầu làm ngựa đứa nhi đồng (lời dịch của Bác Hồ) mà Lỗ Tấn dùng làm châm ngôn tự răn mình. Quả thật Lỗ Tấn vô cùng dũng cảm dùng ngòi bút tố cáo chế độ độc tài chuyên chế của xã hội phong kiến ngày xưa và của Tổng thống Tưởng Giới Thạch đương thời.

Thập kỷ 30 thế kỷ XX, Mao Trạch Đông dẫn một đội du kích lên rừng lập chiến khu chống lại nhà độc tài họ Tưởng. Sau khi được đọc Lỗ Tấn Toàn tập (in năm 1938, khi Lỗ Tấn đã mất), Mao vô cùng khâm phục Lỗ Tấn. Ông tuyên bố Lỗ Tấn là “Đệ nhất đẳng thánh nhân” của Trung Quốc ; “Khổng Tử là thành nhân của xã hội phong kiến, Lỗ Tấn là thánh nhân của Trung Quốc hiện đại”.

Sau khi Trung Quốc được giải phóng khỏi ách cai trị của họ Tưởng, Mao Trạch Đông trở thành lãnh tụ tối cao nước này. Trong một cuộc họp với các nhà văn, có người hỏi nếu Lỗ Tấn bây giờ còn sống thì sẽ làm gì? Mao suy nghĩ giây lát rồi nghiêm chỉnh trả lời: Lỗ Tấn sẽ hoặc là ngồi nhà không viết lách gì cả hoặc là ở trong trại lao động cải tạo!

Mao nói thật lòng và không sai. Lỗ Tấn suốt đời đấu tranh đòi tự do dân chủ, vì thế ông nổi tiếng. Nhưng nền chính trị do Mao và Đảng của ông thiết lập ở nước này không thể có thứ “xa xỉ phẩm tự do dân chủ” ấy mà Lỗ Tấn đòi phải để cho người Trung Quốc được hưởng. Nếu Lỗ Tấn vẫn đòi thì chắc chắn sẽ bị chính quyền Mao cho đi lao động cải tạo.

Hóa ra, hiền tài đến mức được tôn là Thánh Nhân, được tung hô chỉ khi đã chết rồi. Chứ nếu còn sống thì…coi chừng, chữ tài đi với chữ tai một vần.

Tiếp đó khi Mao Trạch Đông thực thi chủ trương Đại Nhảy Vọt làm cho mấy chục triệu nông dân chết đói vì phải bỏ việc đồng áng đi luyện gang thép. Bộ trưởng Quốc phòng là Nguyên soái Bành Đức Hoài khi họp hội nghị trung ương Đảng CSTQ có thẳng thắn nêu lên một số sai lầm của chủ trương ấy. Rốt cuộc ông bị cách hết mọi chức vụ.

Từ đó các hiền tài nước này đều im lặng, ngay cả khi thấy lãnh đạo sai rõ ràng.

3. Thiên tài ngang bướng

Steve Jobs là một hiền tài nổi tiếng nước Mỹ, nguyên Giám đốc điều hành (CEO) công ty Apple. Năm 1997 ông trở lại lãnh đạo công ty này, từng bước hồi sinh Apple, làm cho giá cổ phiếu công ty từ 4 USD tăng lên tới 40 USD năm 2006, Apple từ sắp phá sản trở thành công ty có giá trị thị trường lớn nhất thế giới. Cả loài người biết tên ông qua các sản phẩm máy tính cá nhân, máy nghe nhạc, máy tính bảng và điện thoại thông minh.

Tự truyện Steve Jobs có kể lại chuyện mùa thu năm 2010 Nhà Trắng báo cho Steve Jobs biết họ có ý định thu xếp để ông và Tổng thống Obama gặp nhau, nhưng Steve Jobs nổi tiếng khó tính, ngang bướng và kiêu ngạo, khăng khăng yêu cầu Tổng thống phải đích thân mời thì ông mới gặp.

Sau 5 ngày bàn đi bàn lại, cuối cùng Steve Jobs chịu nhượng bộ đến một khách sạn ở gần trụ sở của Apple (đặt tại San Francisco) gặp Obama, nghĩa là Tổng thống Mỹ phải bay 5.000 km để tới đây. Vừa gặp nhau, Steve Jobs nói ngay với Obama: “Ông chỉ có thể làm Tổng thống một khóa thôi!” và khuyên chính phủ Mỹ nên thân thiện hơn với các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho họ dễ dàng mở nhà máy xí nghiệp.

Ông đề nghị Obama mời chừng dăm bảy CEO đến để nghe họ trình bày nhu cầu trong việc lập các doanh nghiệp sáng tạo. Tổng thống Obama vui vẻ lắng nghe các ý kiến phê phán, góp ý của Steve Jobs.

Sau đó Nhà Trắng lên kế hoạch mời hơn chục vị CEO đến dự cuộc họp thân mật có kèm bữa cơm do Tổng thống Obama chiêu đãi và gửi kế hoạch này cho Steve Jobs xem trước.

Thấy số người được mời nhiều hơn đề nghị của mình, ông nói không muốn dự họp nữa. Khi xem thực đơn bữa ăn, Steve Jobs lại thể hiện sự khó tính của mình (ông vốn ăn chay niệm Phật), chê thực đơn này tốn kém quá và phản đối việc dùng sô-cô-la làm món ngọt tráng miệng. Nhưng Nhà Trắng không nhượng bộ, vì Obama thích món ấy.

Steve Jobs không để lại nhiều ấn tượng tốt cho Obama nhưng sau đó hai người vẫn nói chuyện điện thoại với nhau mấy lần. Có lần Steve Jobs còn đề nghị để ông giúp Obama thiết kế quảng cáo cho việc Obama tranh cử Tổng thống nhiệm kỳ hai, năm 2012.

Ngày 5/10/2011, ba tiếng đồng hồ sau khi công ty Apple công bố tin Steve Jobs qua đời, Tổng thống Obama xúc động tuyên bố tại Nhà Trắng: “Michelle [vợ Obama] và tôi rất đau buồn khi biết tin Steve Jobs qua đời. Ông là một trong những nhà phát minh vĩ đại nhất nước Mỹ, ông ấy có đủ dũng cảm để suy nghĩ một cách khác người, đủ mạnh mẽ để tin rằng mình có thể thay đổi thế giới và đủ tài năng để thực hiện điều đó”.

Ai cũng biết Steve Jobs đã làm thay đổi cả thế giới. Nhưng vì sao ông làm được điều đó?

Chẳng những vì ông có tài, mà điều quan trọng hơn là vì xã hội nước Mỹ tạo điều kiện cho mọi công dân có cơ hội phát triển như nhau, và lãnh đạo nước này biết phát hiện, biết lắng nghe các hiền tài. Ai có tài thực thì tự nhiên sẽ được trọng dụng.

——————

[1] Nhóm Cánh Buồm thành lập năm 2009, do nhà giáo lão thành Phạm Toàn (1932-2019) đứng đầu, gồm một số người tự nguyện làm không nhận thù lao công việc biên soạn bộ sách giáo khoa kiểu mới cho bậc tiểu học và phổ thông. Tham khảo: https://www.tienphong.vn/xa-hoi/canh-buom-cua-ong-toan-1082578.tpo

[2] Tháng 6/2019, GS Hoàng Tụy xuất bản cuốn sách “Xin được nói thẳng”, gồm 50 bài GS viết trong hơn 20 năm, chủ yếu vạch ra những sai lầm thiếu sót đã và đang ngăn cản sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật và giáo dục ở nước ta, và nêu các kiến nghị sửa đổi. Trong sách ông viết “Lẽ sống còn của dân tộc kêu gọi ta hãy chăm lo đào tạo, phát hiện và bồi dưỡng, sử dụng và phát triển nhân tài”. Là “nguyên khí quốc gia” mà phải “xin” được nói thẳng. Riêng tựa đề sách đã cho thấy hiền tài ở ta được tôn trọng như thế nào.

H.A.H.

Nguồn: http://nghiencuuquocte.org/2019/07/04/ba-cau-chuyen-hien-tai/

 

CHẠY CHỨC CHẠY QUYỀN VÀ QUỐC NẠN THAM NHŨNG

NGUYỄN HUY VIỆN / TVN 3-7-2019

Vì bản chất chạy chức chạy quyền cũng là một loại tham nhũng, được biểu hiện dưới hai hình thức đưa và nhận hối lộ, và tham nhũng quyền lực.

Từ chạy chức chạy quyền, dẫn đến chạy quy hoạch, chạy tuổi, chạy luân chuyển …tạo thành một phong trào chạy âm ỉ, thường xuyên tuy không ồn ào nhưng vô cùng rầm rộ, nhất là vào các kỳ đại hội Đảng các cấp; bầu cử Quốc hội, bầu cử hội đồng nhân dân các cấp.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII) đã chỉ ra: “Tình trạng chạy chức chạy quyền, chạy tuổi, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy tội…, trong đó có cả cán bộ cao cấp, chậm được ngăn chặn, đẩy lùi”.

“Việc sắp xếp, bố trí, phân công, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử vẫn còn tình trạng đúng quy trình nhưng chưa đúng người, đúng việc. Tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong đó có cả người nhà, người thân, họ hàng, “cánh hẩu”, …gây bức xúc trong dư luận xã hội”.

Chạy chức chạy quyền là thứ tệ nạn để lại những hệ lụy tiêu cực về kinh tế, chính trị, xã hội vô cùng nặng nề.

Chạy chức chạy quyền và quốc nạn tham nhũng

Hình thức đầu tư BT tạo nhiều kẽ hở cho thông đồng, tham nhũng

Thứ nhất: Để có “ghế” đáp ứng nhu cầu của thị trường mua quan bán chức, người ta phải chạy biên chế, làm cho bộ máy nhà nước có số lượng công chức, viên chức đông vào hàng bậc nhất thế giới. 

Nếu như trước đây mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương chỉ có 1 – 2 cấp phó, thì nay có 6 – 8 cấp phó, cá biệt có cơ quan có đến mười mấy cấp phó. Thậm chí như Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Hải Dương có thời điểm có tới 44 lãnh đạo nhưng chỉ có 2 nhân viên. [1]

Với cấp bộ, ngành: từ năm 2011 đến năm 2016, các tổng cục thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, công chức giữ vị trí quản lý từ cấp phòng trở lên (gồm cả hàm) tăng từ 12.216 lên 13.556. Tương tự, cán bộ cấp vụ, cục thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ tăng từ 3.871 lên 4.619. [2]

Với bộ máy nhà nước như vậy, khó có nguồn ngân sách nào nuôi nổi. Theo tính toán của PGS.TS Phạm Duy Nghĩa, Đại học Fulbright Việt Nam, dựa trên số liệu của Bộ Nội vụ, bình quân cứ 9 người Việt Nam phải nuôi 1 người làm việc, hưởng lương hoặc phụ cấp từ ngân sách nhà nước. [3]

Thứ hai: Nạn chạy chức chạy quyền làm cho những kẻ cơ hội không chú trọng nâng cao năng lực, rèn luyện phẩm hạnh mà chủ yếu lo đầu tư quan hệ để lấy lòng cấp trên. Vì vậy trong các đợt đề bạt, bổ nhiệm đối tượng này thường được cấp trên sủng ái, còn những người có trí tuệ, có năng lực, trung thực thẳng thắn, dám phản biện, không luồn cúi thường bị bật bãi.

Tình trạng này không những làm triệt tiêu ý thức vươn lên nâng cao năng lực chuyên môn, rèn luyện phẩm chất đạo đức của cán bộ, đảng viên mà có nguy cơ bộ máy lãnh đạo bị những kẻ cơ hội thao túng.

Thứ ba: Nhiều quan chức lạm dụng chức vụ, quyền hạn đưa người nhà, cánh hẩu vào bộ máy nhà nước, dẫn đến tình trạng cả nhà làm quan, cả họ làm quan, như tỉnh Hà Giang [4]; các huyện Mỹ Đức (Hà Nội) [5], huyện Quảng Trạch (Quảng Bình) [6], huyện An Dương (Hải Phòng) [7] và ở nhiều địa phương khác.

Tình trạng này dẫn đến quyền lực chính trị, kinh tế của địa phương bị một gia đình hoặc một dòng họ thao túng, chi phối. Lúc đó, chính quyền có xu hướng không còn là của nhân dân và không vì lợi ích của nhân dân nữa.

Thứ tư: Với nạn chạy chức chạy quyền, không chỉ những kẻ cơ hội mà những phần tử vi phạm kỷ luật, thậm chí phạm tội hình sự đặc biệt nghiêm trọng vẫn chui sâu leo cao vào bộ máy nhà nước và các tổ chức chính trị, xã hội.

Đơn cử như bà Phan Thị Mỹ Thanh, nguyên Phó Bí thư Tỉnh uỷ, nguyên Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai. Thời gian từ năm 2003 – 2014, bà Thanh vi phạm nhiều khuyết điểm “rất nghiêm trọng và có tính hệ thống”. Ban Bí thư quyết định thi hành kỷ luật bà Phan Thị Mỹ Thanh bằng hình thức cách chức tất cả các chức vụ trong Đảng.

Nhưng cũng trong thời gian đó, bà Thanh liên tục thăng tiến, từ Giám đốc Sở Công thương Đồng Nai, Bí thư huyện uỷ huyện Nhơn Trạch (năm 2009), Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Nai (năm 2011), Phó Bí thư Tỉnh ủy (Nhiệm kỳ 2015 – 2020); được giới thiệu bầu Đại biểu Quốc hội và làm Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội Khoá XIV của tỉnh Đồng Nai.

Đó là Trịnh Xuân Thanh, người trong giai đoạn 2013 – 2016 đã thăng tiến chóng mặt từ Phó chánh văn phòng Bộ lên Trưởng ban Đổi mới doanh nghiệp Bộ Công thương, Phó Chủ tịch UBND tỉnh (Nhiệm kỳ 2011 – 2016), Tỉnh uỷ viên tỉnh Hậu Giang (Nhiệm kỳ 2015 – 2020), được bầu làm Đại biểu Quốc hội (Nhiệm kỳ 2016 – 2021).

Đó là Dương Chí Dũng – nguyên Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam. Khi còn là Chủ tịch Hội đồng Thành viên Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines), Dương Chí Dũng đã dẫn dắt doanh nghiệp này làm ăn thua lỗ nặng nề.

Đó là hàng loạt những kẻ trước khi ngồi lên ghế quyền lực đều đã vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng như Châu Thị Thu Nga nguyên Đại biểu Quốc hội Khoá XIII; Ngô Văn Tuấn nguyên Phó Chủ tịch tỉnh Thanh Hoá; Nguyễn Xuân Anh, nguyên Bí thư Thành ủy Đà Nẵng; Tất Thành Cang, nguyên Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TP. Hồ Chí Minh; Đinh La Thăng, nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Thành uỷ TP. Hồ Chí Minh)…

Điều bất thường là hầu hết hành vi vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật của những kẻ vừa nêu đã có đơn tố cáo hoặc bị báo chí phản ánh nhưng họ vẫn thăng tiến thần tốc, chỉ trong một thời gian ngắn đã chui sâu, leo cao.

Phải chăng những kẻ này sau khi chạy thoát tội, có chỗ nương tựa chuyển tiếp sang chạy chức chạy quyền và đã thành công?

Thứ năm: Tình trạng chạy chức chạy quyền là “chất xúc tác” của nạn tham nhũng, đưa và nhận hối lộ; tạo tiền đề hình thành “nhóm lợi ích”.

Với đồng lương công chức như hiện nay, thử hỏi những kẻ cơ hội lấy tiền đâu mà mua chức tước?

Chỉ chạy sửa điểm vào trường đại học tốp đầu ở Sơn La, có bị can khai, trung bình mỗi trường hợp “giá” là 1 tỉ đồng. Một số bị can trong vụ án đã nộp lại số tiền đó. [10]

Vậy thử hỏi mỗi suất chạy chức của những quan chức đã lộ diện trên đây số tiền sẽ là bao nhiêu?

Với những khoản tiền như vậy nếu không tham ô, nhận hối lộ thì cũng được chủ các doanh nghiệp tài trợ và đây là tiền đề cho sự ra đời các “doanh nghiệp sân sau”, “nhóm lợi ích”.

Liên minh này tạo thành sức mạnh khống chế, lũng đoạn bộ máy nhà nước, là nguy cơ lớn cho sự phát triển công bằng và lành mạnh.

Nếu Đảng và Nhà nước không có giải pháp ngăn chặn hoạt động của các “nhóm lợi ích”, để chúng tiếp tục phát triển, lũng đoạn, thao túng đời sống kinh tế, xã hội của đất nước sẽ dẫn đến nguy cơ “chủ nghĩa tư bản thân hữu” lan tràn.

Bởi vậy, ngăn chặn và loại trừ các “nhóm lợi ích” là nhiệm vụ hệ trọng, cấp bách của mọi cấp, mọi ngành. Việc đầu tiên là phải loại trừ nạn chạy chức chạy quyền của những kẻ cơ hội, loại trừ sự cấu kết của những kẻ cơ hội đang nắm quyền lực chính trị với các chủ doanh nghiệp để lũng đoạn, trục lợi.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII) đã xác định: “Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực; kiên quyết xoá bỏ tệ chạy chức, chạy quyền”.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã chỉ đạo: “Kiên quyết không để lọt vào cấp ủy khoá mới những người có tham vọng quyền lực, chạy chức, chạy quyền, chạy phiếu bầu, chạy cơ cấu, bè phái, cục bộ, lợi ích nhóm…” [11]

Từ nhiều năm qua, Đảng đã có nhiều chủ trương chống chạy chức chạy quyền nhưng chưa mang lại hiệu quả như mong muốn. Vì sao thể thức bầu cử hiện nay chưa ngăn chặn các phần tử cơ hội, chạy chức chạy quyền chui vào bộ máy?

Bởi vậy, để quan điểm và quyết tâm trên đây trở thành hiện thực, việc tiến hành bầu cử nên chăng cần tham khảo vận dụng thể thức bầu cử khoa học, có sự giám sát chặt chẽ của các nước tiên tiến trên thế giới.

Với thể thức như vậy, các phần tử cơ hội khó có thể thực hiện được mưu đồ chạy chức chạy quyền; và đồng thời sẽ chọn được những người có tài năng và đạo đức xứng tầm với các cương vị chủ chốt trong bộ máy của Đảng và Nhà nước từ cơ sở đến Trung ương.

Nguyễn Huy Viện

[1].https://vtv.vn/van-de-hom-nay/mot-so-co-44-lanh-dao-2-chuyen-vien-kho-co-ly-giai-thuyet-phuc-20161104235054166.htm

[2].https://vov.vn/chinh-tri/tinh-gian-bien-che-bo-may-van-phinh-to-658001.vov

[3].https://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/chinh-tri/trung-binh-cu-9-nguoi-dan-nuoi-1-can-bo-nha-nuoc-473225.html

[4].https://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/ca-nha-bi-thu-tinh-uy-ha-giang-lam-quan-20160917225532658.htm

[5].https://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/chong-tham-nhung/nhieu-con-chau-bi-thu-huyen-o-quang-binh-lam-quan-440633.html

[6].https://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/huyen-my-duc-ca-ho-lam-quan-cung-la-ngau-nhien-264707.html

[7].https://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/chong-tham-nhung/hai-phong-ky-luat-bi-thu-huyen-uy-lien-quan-vu-ca-nha-lam-quan-425048.html

 [10].https://tuoitre.vn/gian-lan-thi-cu-o-son-la-gia-nang-diem-moi-truong-hop-trung-binh-1-ti-dong-20190525084513726.htm

[11].https://www.nhandan.org.vn/chinhtri/tin-tuc-su-kien/item/40447202-chuan-bi-va-to-chuc-that-tot-dai-hoi-dang-bo-cac-cap-tien-toi-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiii-cua-dang.html

TIN VÀ BÀI LIÊN QUAN:

Older Posts »

Chuyên mục