Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Mười Hai 9, 2016

20161209. THẾ GIỚI ĐÃ SANG TRANG ?

ĐIỂM BÁO MẠNG

CUỘC GỌI CỦA THẾ KỶ

MẶC LÂM/RFA/ BVB 8-12-2016

Tổng thống Đài Loan, Bà Thái Anh Văn nói chuyện qua điện thoại với Tổng thống Tân cử Hoa Kỳ Donald Trump hôm 2/12/2016.

Tổng thống Đài Loan, Bà Thái Anh Văn nói chuyện qua điện thoại 
với Tổng thống Tân cử Hoa Kỳ Donald Trump hôm 2/12/2016. AFP

Cuộc điện đàm ngắn ngủi giữa Tổng thống đắc cử Donald Trump và bà Tổng thống Thái Anh Văn của Đài Loan đã dậy sóng thế giới được báo chí Mỹ gọi là “thành quả 40 năm của Trung Quốc bị bốc hơi trong vòng 10 phút”. Mặc Lâm phỏng vấn Tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng nguyên đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Hà Lan, để tìm hiểu thêm quan điểm của một nhà ngoại giao về sự kiện này.
Phá vỡ khái niệm một nước Trung Quốc

Mặc Lâm: Thưa Tiến sĩ, rất nhiều tờ báo lớn của Mỹ xem việc Tổng thống đắc cử Donald Trump vừa có hành động mà 40 năm qua nhiều đời tổng thống Mỹ không ai dám làm đó là nhận điện thoại chúc mừng của Tổng thống Đài Loan, đồng nghĩa với việc phá vỡ khái niệm một nước Trung Quốc. TS diễn giải động thái này như thế nào?

Nhận diện động thái này như thế nào thì trước mắt, chỉ có thể căn cứ vào cách phản ứng của mỗi bên trong quá trình “hòn bấc ném đi, hòn chì ném lại”, tức là qua quá trình “tương tác biểu trưng”, một lý thuyết trong xã hội học, mới hy vọng diễn giải phần nào ý đồ của mỗi bên.
-TS Đinh Hoàng Thắng

TS Đinh Hoàng Thắng: Chúng ta nên thận trọng ngay từ cách đặt vấn đề của báo chí Mỹ, “Nhận điện thoại chúc mừng” và “phá vỡ khái niệm một nước Trung Quốc” là hai câu chuyện không đồng nhất, dù có thể thừa nhận rằng, chúng không hẳn là khác nhau hoàn toàn.
Nhận diện động thái này như thế nào thì trước mắt, chỉ có thể căn cứ vào cách phản ứng của mỗi bên trong quá trình “hòn bấc ném đi, hòn chì ném lại”, tức là qua quá trình “tương tác biểu trưng”, một lý thuyết trong xã hội học, mới hy vọng diễn giải phần nào ý đồ của mỗi bên.
Không được quên rằng, đây là cuộc chơi của hai “kỳ phùng địch thủ”, hai tay chơi có khả năng định hình khuôn khổ chính trị của thế kỷ 21.
Nói một cách nôm na, đây mới là sự vờn nhau của hai đối thủ chưa biết rõ lắm về đấu thuật sắp tới của nhau. Có thể coi đây là một sụ thăm dò thận trọng từ cả hai phía. Chưa bên nào muốn đẩy mâu thuẫn hay xung đột lên cao hơn, vì vậy, chúng ta chưa thể nói gì nhiều về ý nghĩa của động thái hẳn nhiên là có một không hai này.
Mặc Lâm: Sau khi Trung Quốc phàn nàn về chuyện này ông Trump lại thẳng thắn nói Trung Quốc không có quyền bắt ông phải xin phép họ khi gọi cho Tổng thống Đài Loan trong khi họ chẳng xin phép ai để phá giá đồng nhân dân tệ và xây dựng những pháo đài trên biển Đông, theo TS thì cách nói này có cho phép ông đoán định chính sách mà Mỹ sẽ theo đuổi trong thời đại của Trump?
 

Tạp chí Time đã bầu chọn Tổng thống Đắc cử Mỹ Donald Trump là Nhân vật của năm hôm 07/12/2016. AFP

TS Đinh Hoàng Thắng: Chính sách Trung Quốc của Mỹ trong thời của Trump còn là vấn đề mở và sẽ mang nội dung đa chiều kích, nó phụ thuộc vào chiến lược toàn cầu và chính sách khu vực của Mỹ. Kể cả những chuyên gia thượng thặng trong mỗi nước cũng như trên thế giới mới chỉ có một số initiative research, chưa thể đoán định được gì nhiều. Nhưng qua khẩu khí toát lên trong nội dung câu hỏi mà nhà báo vừa đề cập, Trung Quốc có thể buộc phải tiên liệu, TT đắc cử Trump sẽ là một đối thủ không dễ chơi.
Khẩu khí của Trump phản ứng lại cái tuyên bố của Bộ Ngoại giao Trung Quốc là khá ngang tàng. Mặc dầu phải thừa nhận tuyên bố của Trung Quốc trước cú “điện thoại thế kỷ” giữa hai ông bà tổng thống, giữa Trump và Thái Anh Văn, là khá low profile, nghĩa là tự kiềm chế. Nếu tiếp tục đà này, chúng ta có thể mường tượng ra chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc dưới thời Trump là khá cứng rắn. Vâng, anh phá giá đồng tiền trong nước để trục lợi về xuất khẩu, làm tổn hại đến nền kinh tế của tôi; anh xây dựng các pháo đài trên Biển Đông, cản trở tự do đi lại trên đại dương, vậy anh có nói với tôi lời nào không mà đòi tôi phải xin phép anh để nhận một cú điện thoại chúc mừng tôi thắng cử?
Nếu ta hình dung đây là một trận túc cầu, thì “đội trưởng” Trump liên tục dẫn bóng vào trung lộ, cả khi ông chủ động nhận cuộc gọi lẫn những phát biểu cứng rắn sau sự cố “để bóng đụng vào tay” (ta chưa biết vô tình hay cố ý). Lối trực ngôn của ông khiến ta nhớ đến câu ngạn ngữ của người Việt. “Miệng nhà sang có gang có thép!” Nếu nhà báo nhớ đến vế thứ hai của câu đối này thì có thể phân tích tiếp thái độ của Bộ Ngoại giao Trung Quốc.

Biến cái không thể thành cái khả thể

Mặc Lâm: Tổng thống đắc cử Donald Trump bị xem là người có những phát ngôn trực tính, bất kể cung cách mà thế giới quen nghĩ một Tổng thống của nước Mỹ cần phải có. Theo ông dưới cái nhìn của một nhà ngoại giao ông nghĩ gì về điều này, liệu nó sẽ ảnh hưởng tới các nước khác hay không, nhất là phía không thân cận với Mỹ như Trung Quốc, Nga hay thậm chí có thể là Việt Nam?
TS Đinh Hoàng Thắng: Vâng, dưới cái nhìn của ngoại giao thì ở đây là nghệ thuật biến cái không thể thành cái khả thể. Báo chí Mỹ cũng bình luận một ý đáng để suy nghĩ: Chỉ bằng mười phút đàm đạo qua điện thoại, ông Trump đã đảo ngược các nỗ lực trong 40 năm qua của Trung Quốc. Tôi nói đáng để suy nghĩ, là vì nhận định này chưa chắc đã đúng hay chỉ đúng được một phần. Cái này còn phải chờ thời gian, ít nhất trong 100 ngày đầu khi Tổng thống Trump vào Nhà Trắng.

Lối trực ngôn của ông khiến ta nhớ đến câu ngạn ngữ của người Việt. “Miệng nhà sang có gang có thép!” Nếu nhà báo nhớ đến vế thứ hai của câu đối này thì có thể phân tích tiếp thái độ của Bộ Ngoại giao Trung Quốc.
-TS Đinh Hoàng Thắng

Đối với về thứ hai của câu hỏi, thì tôi trả lời là “YES”. Hính thái đấu tranh hay hợp tác giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc hiển nhiên là ảnh hưởng đến toàn thế giới. Cả đối với nước lớn như Nga, Nhật hay châu Âu. Còn Việt Nam thì lại càng đương nhiên là hết sức ảnh hưởng. Có điều là, nếu nhà báo để ý, trong 50 cuộc điện đàm đầu tiên giữa Tổng thống đắc cử Trump với các nhà lãnh đạo các nước, ta chưa thấy có lãnh đạo Việt Nam. Đây là một chỉ dấu cũng đáng suy nghĩ.
Mặc Lâm: Riêng ông, ông lý giải như thế nào về sự thiếu vắng ấy?
TS Đinh Hoàng Thắng: Vâng, có thể lý giải theo hai hướng. Hướng thứ nhất, từ phía Nhóm Chuyển giao chuẩn bị cho Tổng thống nhậm chức, họ chưa thấy trọng lượng của Việt Nam cần được đặt ưu tiên cùng với những nước hay những vùng lãnh thổ mà họ đã dàn xếp các cuộc giao tiếp qua điện thoại. Hướng thứ hai, từ phía lãnh đạo Vn có thể cũng chưa có sự sốt sắng như lãnh đạo Trung Quốc đã chủ động liên lạc với người của ông Trump. Chúng ta hãy wait and see, đưa ra phán quyết gì vào lúc này cũng còn quá sớm. Ta hãy nhớ, Việt Nam đã chủ động mời Tổng thống đắc cử của Hoa Kỳ sang thăm Việt Nam khi cuộc bầu cử chưa diễn ra. Đương nhiên, lúc đó, trong đầu lãnh đạo Việt Nam nghĩ đến ứng cử viên nào thì đấy lại là một câu chuyện khác.
Mặc Lâm: Câu hỏi cuối cùng, thưa Tiến sĩ, trong thời kỳ chuyển tiếp như giai đoạn hiện nay, số phận TPP khá mờ mịt, xoay trục của Mỹ có thể chậm dần hay ngưng hẳn, chính sách Biển Đông của chính quyền mới chưa chắc chắn… Việt Nam có thể và nên làm gì để chuẩn bị cho quan hệ Việt—Mỹ trong giai đoạn tới?
TS Đinh Hoàng Thắng: Đây có thể là một luận văn nhỏ nhỏ gợi ý cho sinh viên thạc sĩ của Học viện Ngoại giao. Tuy nhiên, kiến nghị dù có hay mấy mà các nhà hoạch định chính sách vẫn xếp chúng vào ngăn kéo thì sẽ còn nhiều Alexei Tolstoi xuất hiện ở Việt Nam để viết tiếp tiểu thuyết “Con đường đau khổ”.
Trừ một vài nhà nghiên cứu thượng thặng tôi được đọc trong thời gian qua, chưa thấy ai dám khẳng định cái gì chắc chắn cả. Có điều khi người Mỹ đã nhất tâm làm một cuộc cách mạng bằng lá phiếu như vừa qua, thì chính quyền mới không thể bỏ qua cái khát vọng muốn thay đổi của dân Mỹ, của chính trường Mỹ, của nền kinh tế, quốc phòng và an ninh của nước Mỹ nói chung.
Việt Nam và các nước trong khu vực có thể và nên làm gì? Tôi nghĩ nên nên chuẩn bị cho nhiều scenarios khác nhau: kịch bản tối ưu, trung bình và kịch bản xấu đối với mỗi nước. Có như thế mới khỏi hẫng hụt, khỏi trượt vỏ chuối, hay rơi vào tình thế nguy hiểm.
Suy cho cùng, vấn đề Việt Nam với thế giới và quan hệ giữa những người Việt Nam với nhau vẫn là đề tài muôn thuở. Chúng ta chủ động được chừng nào, chi phí càng giảm được chừng đó, từ mọi phía. Không thể thụ động ngồi chờ bất cứ ai cưu mang mình. Tôi mong các nhà hoạch định chính sách chuẩn bị một tư duy đột phá cho giai đoạn tới. Và điều quan trọng hơn, sau tư duy đột phá là những kiến nghị, những giải pháp đột phá trong các quan hệ đối ngoại, trước hết trong quan hệ với Hoa Kỳ và Trung Quốc.
Mặc Lâm: Xin cám ơn ông.
(RFA)
THẾ GIỚI ĐÃ SANG TRANG VÀ NHỮNG VÂN ĐỀ ĐẶT  RA CHO VIỆT NAM
NGUYỄN TRUNG/ BVB 8-12-2016

BÀI 3[1]

Sự vận động của lịch sử, nhất là tại một bước ngoặt cụ thể, thường gắn với sự xuất hiện nhân vật lịch sử cụ thể. Điều này cho thấy, tính cách của nhân vật lịch sử cụ thể có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn sự vận động của lịch sử. Còn 6 – 7 tuần lễ nữa Trump mới chính thức tuyên thệ nhậm chức (khả năng kết quả bầu cử bị lật ngược tuy đã được đặt ra, nhưng hầu như sẽ không có thay đổi gì), rồi chính quyền Trump sẽ làm gì 4 năm tới?.. – đấy là những chuyện đang ở phía trước.

Song những gì đã thấy được trên thế giới và tại nước Mỹ hôm nay, cùng với những ý đồ hoặc khuynh hướng đã lộ ra phần nào của Donald Trump tranh cử, có thể giúp chúng ta rút ra một số nhận định tiếp theo (sau bài 1).

  1. Nhìn rõ hơn nữa thế giới đã sang trang và hiện tượng Trump

Hầu như có sự nhận định thống nhất của nhiều học giả Mỹ có tên tuổi các trường phái khác nhau, không ít trong số họ đã được giải thưởng Nobel (trải dài từ tả sang hữu – ví dụ như từ Chomsky, Stiglitz… … đến Kissinger):

         Trật tự thế giới hình thành từ các giá trị ra đời sau chiến tranh thế giới II đã bị xáo động, thế giới xuất hiện nhiều vấn đề mới khiến quyền lực tại nhiều mước có xu hướng đẩy lợi ích quốc gia lên vị trí ưu tiên chiến lược cao nhất, hiện tượng Trump là cú sốc toàn cầu (a global upheaval) kể từ sau chiến tranh thế giới II.  

Nhận định này được chia sẻ rộng rãi trên thế giới, mặc dù có sự đánh giá rất đa dạng về các nguyên nhân của hiện tượng. 

Dưới đây xin lưu ý những diễn biến nổi bật trong thế giới hôm nay. 

Các thể chế vận hành quá trình toàn cầu hoá kinh tế trong những thập kỷ gần đây một mặt thúc đẩy quan trọng sự phát triển kinh tế thế giới; đặc biệt là quá trình tự do hoá các mối quan hệ kinh tế và các tiến bộ của khoa học và công nghệ (nhất là thế giới đã bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư – the industrial revolution 4.0) đã tạo ra những thành tựu phát triển mới tại cả 2 nhóm nước phát triển và đang phát triển. 

Song mặt khác, như một hệ luỵ khách quan tất yếu, chính sự phát triển này gây nên những thay đổi, tích tụ dần thành nhiều chấn động lớn, có thể khái quát dưới đây:  

(1) Chấn động do những dòng chảy của 4 yếu tố kinh tế cơ bản là hàng hoá, vốn, công nghệ, và nguồn nhân lực trong những thập kỷ toàn cầu hoá vừa qua đã thay đổi, vượt lên trên khả năng vận hành của các thể chế và sự thích nghi của con người.  

Nguyên nhân cơ bản là tự do hoá kinh tế trong quá trình toàn cầu hoá và sự phát triển của khoa học và công nghệ những thập niên vừa qua đã phá vỡ nhiều thể chế hiện hành trong mỗi quốc gia hay trong các mối quan hệ kinh tế – chính trị quốc tế; sự vận động này mang lại nhiều phát triển mới, nhưng đồng thời cũng gây ra nhiều bất cập hoặc thậm chí những rối loạn mới, những thách thức mới (Michael Spence). Rõ thấy nhất là các hiện tượng: một số ngành nghề biến hẳn tại các nước phát triển với nhiều hệ quả kinh tế – chính trị – xã hội lâu dài; sự di chuyển lao động tự nó đã tạo ra nhiều áp lực mới, lại càng trở nên đặc biệt nhạy cảm tới mức nhiều nước hầu như không thể chịu đựng nổi do các vấn đề nhập cư, di tản..; những hệ quả mặt trái của công nghệ thông tin chưa thể kiểm soát được như: ăn cắp bản quyền, dòng tiền đen, sự lũng đoạn của nạn tin tặc… vân vân… và nhiều hệ luỵ kèm theo. 

(2) Chấn động do sự phân hoá mới không thể tránh được, với hệ luỵ làm trỗi dậy chủ nghĩa quốc gia (nationalism) trong quá trình toàn cầu hoá. 

Tại hầu hết các nước phát triển – được coi như đầu tầu của con tầu thế giới – đều xuất hiện nhiều vấn đề chưa từng có – như một hệ quả tất yếu: có quá nhiều nhóm người hay các tầng lớp bị thiệt thòi và trở thành nạn nhân của quá trình toàn cầu hoá, nhiều giá trị cơ bản từng tạo nên trật tự và đời sống tinh thần của những quốc gia này bị lung lay, nảy sinh vấn để “xét lại” (revise, revaluate) nhiều quan niệm và niềm tin liên quan đến toàn cầu hoá và hội nhập mà họ từng theo đuổi…  

Sự phân hoá mới xuất hiện trong đời sống kinh tế – chính trị – xã hội là không thể tránh khỏi. Đồng thời sự già cỗi hay tha hoá theo thời gian có tính tất yếu của các thể chế hiện hành càng làm cho quá trình phân hoá mới này nghiêm trọng thêm, bởi vì không có một thể chế nào có thể toàn mỹ vĩnh viễn.  

 Trong khung cảnh ấy đáng chú ý là chủ nghĩa quốc gia (nationalism) trỗi dậy trở lại. Khuynh hướng này mang những biểu hiện của chủ nghĩa dân tuý (populism), tại một số nước đã nhuốm màu sắc chủ nghĩa phát xít hoặc chủ nghĩa phân biệt chủng tộc.  

Tóm lại, đây là sự phân hoá trong lòng mỗi quốc gia trong bối cảnh đồng thời diễn ra sự phân hoá giữa các quốc gia với nhau bên trong hoặc bên ngoài các tổ chức quốc tế và khu vực. 

(3) Chấn động do cục diện quốc tế một siêu đa cường đã chín muồi, đang làm xuất hiện nhiều điểm nóng mới và những vấn đề mới, chiến tranh lạnh II đã xuất hiện, phảng phất không khí chiến tranh thế giới III. 

Sau chiến tranh lạnh I quá trình toàn cầu hoá kinh tế phát triển mạnh mẽ, tuy nhiên nhiều điểm nóng trên thế giới và những thách thức truyền thống hoặc phi truyền thống tiếp tục tồn tại hoặc có những hình thức vận động mới.  

Hiện tại nổi lên là các sự kiện (i) Nga tham chiến ở Syrie và chiếm Krym trong bối cảnh quan hệ với Mỹ-NATO ngày càng căng thẳng, (ii) cán cân quyền lực đang lên của Trung Quốc thao túng nhiều vấn đề trên thế giới và đặc biệt tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương – Biển Đông, (iii) các vấn đề nóng ở Trung Đông và vấn đề IS không có lối ra, (iv) vai trò suy yếu tiếp tục của Mỹ và rạn nứt của EU là những hiện tượng trực tiếp làm cho cục diện thế giới đi vào thời kỳ căng thẳng mới, với đụng độ và nguy cơ đụng độ khu vực đang gia tăng. Chiến tranh lạnh II đã xuất hiện, phảng phất không khí chiến tranh thế giới III.  

Thực tế này đã tạo ra xu thế đẩy quyền lợi quốc gia lên vị trí ưu tiên chiến lược cao nhất như một phản ứng tất yếu. 

Những sự kiện nổi bật là Brexit, Putinism, giấc mơ Đại Trung Hoa, và bây giờ là Trumpism ở Mỹ.  

Không chỉ như vậy, tại một số nước Đông Âu như Hungarie, Bulgarie và Balan đã có hơi hướng xoay trục xa EU vì không thể chấp nhận thu nạp di tản từ Bắc Phi; Đông Nam Á có hiện tượng Rodrigo Duterte vì vấn đề tệ nạn ma tuý và vấn nạn ly khai trong nước không giải quyết được, và đồng thời vì nhiều lý do khác nữa nên đang muốn bỏ Mỹ để đi với Trung Quốc – Nga; trong ASEAN cũng có những biểu hiện xoay trục –  rõ nhất là qua những vấn đề liên quan đến Biển Đông, có thể vì chiến lược xoay trục của Mỹ quá yếu trong khi bành trướng ảnh hưởng của Trung Quốc gần như là bất khả kháng.  

Những hiện tượng tương tự như vậy của chủ nghĩa dân tuý cũng đã xuất hiện ở một số nước châu Mỹ Latinh. 

Đáng lo ngại cho EU là tại Pháp có hiện tượng Marine Le Pen với Mặt trận Dân tộc (FN), đang công khai đi theo những quan điểm của Pétain xưa kia (trong đó có vấn đề bỏ đồng minh để hợp tác với Đức Quốc xã. FN đang tìm mọi cách nhảy vào nắm chính quyền trong cuộc bầu cử tới ở Pháp. Tại nhiều nước EU khác cũng bắt đầu xuất hiện những hiện tượng của chủ nghĩa dân tuý rất nhạy cảm. Báo chí phương Tây mô tả đó là xu thế “exit” (ví dụ như Brexit – tạm gọi là xu thế ra đi”), mà động lực cốt lõi vẫn là quan điểm lợi ích quốc gia trên hết – như là một hệ luỵ của quá trình toàn cầu hoá.

Trên thực tế hiện tượng exit đang nở rộ thành phong trào, được đặt cho cái tên “mùa thu của những người châu Âu yêu nước”… Thậm chí đã có những dự báo sau Brexit có thể sẽ là Francit, hoặc nguy cơ EU tách đôi: một mảng do Đức cầm đầu, mảng kia do Pháp… 

(4)    Chấn động Mỹ. Sự phát triển của Mỹ trong những thập niên toàn cầu hoá gần đây, cùng với những tác động đối nội và đối ngoại của quá trình này và những hệ luỵ tất yếu, cuối cùng đã tạo nên cơn sốc ngay trong lòng nước Mỹ (đến mức nước Mỹ cũng phải quẫy lên – bài 1).

 Vì là chấn động của siêu cường số 1, nên nó đã tạo ra cú sốc toàn cầu hôm nay.

Phân tích sâu hơn, có thể nói chấn động Mỹ – hay là hiện tượng Trump – bắt nguồn từ những nguyên do sau đây: 

– Sự bất mãn của các tầng lớp và các nhóm dân cư Mỹ phải trả giá cho những bất cập của quá trình toàn cầu hoá; nhiều giá trị và quan điểm chiến lược của chính nước Mỹ bị quá trình toàn cầu hoá thách thức nghiêm trọng – nhiều lúc được mô tả là rối loạn, suy tàn.., 

– tâm trạng trong lòng nước Mỹ cho rằng Mỹ đang tạo ra ấn ượng thoái lui (retreat) trong chiến lược toàn cầu do những giải pháp nửa vời hoặc chưa đủ cứng rắn suốt 8 năm Obama, 

– vấn đề Frankenstein Trung Quốc chưa có giải pháp, sự bế tắc của tình hình Syrie với sự tham gia của Nga làm cho các vấn đề ở Trung Đông nan giải hơn,  

– sự ỷ lại vào cái ô bảo trợ Mỹ của NATO, của nhiều đồng minh và các liên minh khác trở thành gánh nặng ngày càng không kham nổi đối với Mỹ, hạn chế Mỹ tập trung vào những ưu tiên của riêng mình, và ngày càng đẻ ra cho Mỹ những thách thức mới, giữa lúc trên thế giới xuất hiện ngày càng nhiều vấn đề nóng. VV… 

Đáng chú ý chấn động Mỹ xảy ra trong bối cảnh kinh tế Mỹ 8 năm thời Obama là nền kinh tế khoẻ mạnh nhất trên thế giới – với nghĩa ổn định và bền vững hơn so với hầu hết các cường quốc công nghiệp khác (xếp thứ hai là kinh tế Đức). Song Mỹ vẫn phải quẫy lên như vậy, chứng tỏ chấn động này là không cưỡng nổi, tạo ra mảnh đất giúp Trump thắng cử với khẩu hiệu trung tâm “We make America great again!”, đồng thời dấy lên cao điểm chưa từng có của chủ nghĩa dân tuý mới ở Mỹ kể từ sau chiến tranh thế giới II. 

Sau chiến tranh thế giới II, nước Mỹ từng có những chấn động lớn trong nước, thường xuất phát từ những nguyên nhân bên ngoài. Có một số chấn động lớn xuất phát từ những nguyên nhân trong nước – điển hình như phong trào của người Mỹ gốc Phi đòi quyền bình đẳng và xoá nạn phân biệt chủng tộc với nhân vât thần tượng Martin Luther King, đấy thường là những chấn động thúc đẩy xu thế tiến bộ ở Mỹ. Cú sốc Trump có thể được coi là một chấn động từ bên trong, nhưng lần này là làm phân hoá nước Mỹ, đánh dấu một suy yếu mới của Mỹ, đồng thời cũng phản ánh một đặc tính Mỹ: luôn quẫy lên để tìm lối ra. 

  1. Hai kết luận sơ bộ có thể rút ra sau cú sốc toàn cầu

         Nhiều học giả Mỹ và trên thế giới cho rằng còn khó đoán tổng thống đắc nhiệm thứ 45 của Mỹ sẽ làm gì cho đến khi chính quyền Trump chính thức đi vào hoạt động. Song đều có nhận định chung: Trước mắt Mỹ có  một thời kỳ chưa biết kéo dài bao lâu chứa đựng nhiều bất định, kéo theo nhiều tác động toàn cầu. 

Tuy nhiên, thể rút ra kết luận đầu tiên:  

Sau chiến tranh thế giới II, cục diện quốc tế bước sang một trang mới với sự ra đời của một trật tự mới khác hẳn so với trước. Mô tả theo quan điểm tập hợp lực lượng, đó là sự hình thành một thế giới gồm chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa tư bản và phong trào độc lập dân tộc. Hồi ấy ngôn ngữ chính thống của “phe ta” gọi trật tự ấy là thế giới của hai phe bốn mâu thuẫn.

 Thế giới đã sang trang hôm nay không xuất xứ từ những nguyên do chiến tranh, mà là do quá trình phát triển năng động và thịnh vượng nhất cho đến nay của toàn cầu hoá kinh tế thế giới 3 thập niên sau chiến tranh lạnh đã tích tụ nhiều vấn đề mới phải giải quyết. Đây là mặt trái của tấm huân chương. Sự sang trang này diễn ra trong bối cảnh trật tự quốc tế một siêu đa cường đã chín muồi, với những thách thức truyền thống và phi truyền thống hoàn toàn mới.

 Thế giới sang trang hôm nay làm phá sản moi ý thức hệ và mọi thứ chủ nghĩa, không còn vấn đề “Ai phải lựa chọn phe nào?”; nhưng lại đặt ra không thể tránh né cho mọi quốc gia – hầu như không có ngoại lệ, dù là Mỹ hay là bất kỳ một nước đang phát triển nào – câu hỏinguyên thuỷ vốn mang tính mất / còn. Khác chăng là hôm nay câu hỏi nguyên thuỷ này trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết trong lịch sử đương đại.

Đó là: 

–   “Quốc gia hôm nay phải được phát triển như thế nào, cùng đi với cả thế giới ra sao để tồn tại và phát triển?”, – tất yếu dẫn tới câu hỏi tiếp theo: “Làm gì, làm thế nào để có được nội lực quốc gia đáp ứng được thách thức mới này?”  

Trả lời được câu hỏi mất / còn nguyên thuỷ nhưng hôm nay trở nên vô cùng cấp thiết này, sẽ dẫn tới kết luận: Sức mạnh nội lực quốc gia và ý chí dân tộc là yếu tố quyết định trong thế giới sang trang.  

Đặc biệt là trong thế giới hôm nay, sẽ không thể nào phát huy được nội lực quốc gia, nếu không thông qua hội nhập sâu sộng vào sự vận động của thế giới trong quá trình toàn cầu hoá đang tiếp tục phát triển không ngừng nghỉ, song hiển nhiên với những phương thức mới và đòi hỏi mới.  

Thành tựu đạt được của mọi quốc gia trên con đường toàn cầu hoá 3 thập niên vừa qua khẳng định: Trong thời đại toàn cầu hoá, con đường giải phóng nội lực, đồng thời tạo ra khả năng cùng dấn thân cho những đòi hỏi chung của cả thế giới để giành thắng lợi, đó là con đường dân tộc và dân chủ[2], nhưng hôm nay đòi hỏi nhiều hơn về chất lượng con người và thể chế vận hành quốc gia. Đây có lẽ là kết luận quan trọng nhất cho nước ta trong tình hình thế giới đã sang trang hôm nay. 

Kết luận 2: Cục diện Châu Á Thái Bình Dương trở nên nóng hơn, đặc biết tại địa bàn Biển Đông có thể xẩy ra những đụng độ quyết liệt nếu Trung Quốc không bị kiềm chế thoả đáng. 

Cùng với quá trình phát triển manh mẽ của toàn cầu hoá, Châu Á Thái Bình Dương từ vài thập kỷ nay đang ngày càng trở thành khu vực phát triển năng động nhất của thế giới. Trong cục diện thế giới mới hôm nay, Châu Á Thái Bình Dương càng nổi lên là trận địa chính tranh giành ảnh hưởng Mỹ – Trung và chi phối sâu sắc bàn cờ thế giới. 

Trong tranh cử, Trump đã làm nổi bật sự thật: Đối thủ hàng đầu đang gây cho Mỹ nhiều thách thức lớn là Trung Quốc trên các phương diện kinh tế, chính trị và trong các vấn đề toàn cầu, đang trực tiếp uy hiếp mạnh nhất vị thế của Mỹ. Nội dung tranh cử cũng cho thấy Trump đặt Nga là đối thủ số 2, và đã nêu ra hướng cùng hợp tác giải quyết một số vấn đề – trước hết ở châu Âu và Bắc Phi. Nếu nhìn vào những mối nguy tiềm tàng của liên kết Nga – Trung (còn được mô tả là cuộc hôn nhân bất đắc dỹ) đang diễn ra, càng thấy rõ Trump không muốn để liên kết bất đắc dỹ này thành mối nguy lớn, và Mỹ càng không thể coi nhẹ trận địa Châu Á Thái Bình Dương.  

Để xem rồi đây giữa nói và làm sẽ khác nhau như thế nào, song những phê phán gay gay gắt của Trump về thương mại của Trung Quốc với Mỹ, và việc tuyên bố tăng cường lực lượng hải quân, ít nhiều hé ra những gì Trump có thể sẽ làm với Trung Quốc.  

Gần đây nhất, một biểu hiện mới nữa trong thái độ đối với Trung Quốc – ngày 3-12-2016, Trump đã phá lệ và trở thành tổng thống đầu tiên kể từ thời Carter nói chuyện (điện đàm) với tổng thống Đài Loan. Cuộc điện đàm này do phía Đài Loan lobby và chỉ mang tính xã giao, nhưng đã đụng chạm thẳng vào vấn đề cốt lõi trong quan hệ Mỹ – Trung: “quy chế một nước Trung Quốc”. Trung Quốc đã có phản đối chính thức của Bộ Ngoại giao. Mặc dù Trump đã nói sẽ rút khỏi TPP, song hiển nhiên Trump đang tiếp cận vấn đề Trung Quốc khác với Obama (bị Trump phê phán là bạc nhược). Trước sự chỉ trích của một số chính khách và nhà báo Mỹ về cuộc điện đàm này, nhóm cố vấn của Trump giải thích: Trump hoàn toàn biết ông ta nói gì (ý nói không hớ hênh và hiểu sự nhậy cảm của vấn đề) và bình luân: Làm như Trump tác dụng sẽ còn mạnh hơn những gì thời Obama đã làm cho xoay trục (pivot)! Phản ứng của báo chí Trung Quốc sục sôi: Điện đàm này là một trò tiểu sảo, chỉ tạo dịp cho Mỹ sẽ được nếm sức mạnh của Trung Quốc!.. Ngày 05-12-16 Trump lại tiếp tục phê phán, đại ý: Trung Quốc có hỏi ý kiến Mỹ việc giữ tỷ giá thấp đồng tiền của họ, đánh thuế cao hàng Mỹ vào Trung Quốc, xây dựng các căn cứ quân sự giữa lòng Biển Đông không? Làm như thế có được không?..   

Nghĩa là Trump vẫn rắn lên. Song vẫn phải chờ trong hành động rồi mới rõ được giữa Mỹ và Trung Quốc ai sẽ là hổ giấy trong chuyện này. Dư luận cũng rất chú ý Kissinger lúc này đang thăm Trung Quốc (từ 03-12-2016). 

Thực tế đang diễn ra là: Từ thời Giang Trạch Dân đến nay, Trung quốc đã triệt để khai thác 4 yếu tố có lợi thế lớn để khẳng định quyền lực  của mình tại Biển Đông và bành trướng ảnh hưởng trên thế giới. Đó là: thời gian, ưu thế tại chỗ, sức mạnh mềm, sự nhân nhượng của đối phương.  

Hôm nay Trung Quốc đã giành được lợi thế áp đảo và thách thức trực tiếp các nước trong khu vực, uy hiếp con đường hàng hải huyết mạch Malacca, đã lên tiếng muốn Mỹ chia đôi Thái Bình Dương. Đồng thời Trung Quốc đã xúc tiến được những bước quan trọng chiến lược “một vành đai, một con đường” với cái tên con đường tơ lụa Trung Quốc. Đặc biệt Trung Quốc ngày nay trở thành thị trường xuất khẩu rất quan trọng không thể thiếu đối với tất cả các nền kinh tế lớn – kể cả Mỹ.  

Tóm lại, trong vòng 3 thâp kỳ kể từ thời Giang Trạch Dân, Trung Quốc từ cường quốc thứ 5 đã bước lên cường quốc thứ hai sau Mỹ, trực tiếp uy hiếp vị thế của Mỹ; tranh chấp Mỹ – Trung trở thành nhân tố chính chi phối bàn cờ thế giới hôm nay. Sự phát triển này của Trung Quốc ngoài những nguyên nhân tự thân, còn có 2 nguyên nhân bên ngoài quan trọng khác:  

(a)    Bằng mọi thủ đoạn và hầu như bằng mọi giá, Trung Quốc đã khai thác tối đa mọi cơ hội vơ vét làm giầu trong quá trình tham gia toàn cầu hoá,

(b)    tận dụng mọi sai lầm và các nhân nhượng của phía Mỹ nói riêng và cả thế giới phuơng Tây nói chung.

Không phải ngẫu nhiên trong giúp Trump tranh cử, nhóm cố vấn đã nêu ra: Không thể chấp nhận Trung Quốc đang thách thức cả thế giới mà hôm nay vẫn cứ hưởng mọi quy chế dành cho nước đang phát triển!

Ngay sau khi nhậm chức nhiệm kỳ đầu, Obama đã tìm cách kiềm chế qúa trình phát triển nói trên của Trung Quốc với dự án hợp tác Mỹ Trung G2. Nhưng kết quả đạt được là: Không có G2, Trung Quốc năm vào cuối cùng của chính quyền Obama đã mạnh thêm nhiều so với cách đây 8 năm, hiếu chiến hơn, lấn thêm được những bước mới quan trọng, và ngày nay thách thức Mỹ quyết liệt hơn.

Trung Quốc hiện nay tuy ngày càng nhiều khó khăn nghiêm trọng bên trong (hai chục năm nay liên tục có những dự báo về sự sụp đổ của Trung Quốc mà chưa thấy đổ!), vấp phải không ít phản ứng của bên ngoài. Song trong thế giới đang phân hoá thành những cực khác nhau, 8 năm Obama vừa qua cho thấy sự uy hiếp của Trung Quốc vẫn đang tiến triển, hoặc chưa thấy xuất hiện những yếu tố nào có thể chặn lại sự tiến triển này.

Cách tiếp cận quyết liệt của Trump phải chăng cho thấy Trump muốn thay đổi thực tế nói trên trước khi quá muộn?

 Tuy một ngày không xa kinh tế Trung Quốc sẽ có quy mô lớn hơn Mỹ, nhưng khoảng cách phát triển của Trung Quốc so với Mỹ và phương Tây còn lớn. Có những dự báo cho rằng còn một thời gian nhất định nữa Trung Quốc không thể thách thức Mỹ trong chiến tranh lớn, và cả Mỹ và Trung Quốc cũng đều tránh nguy cơ đối đầu nhau trực tiếp. Song 8 năm thời Obama còn cho thấy Trung Quốc thường xuyên sử dụng thế mạnh áp đảo tại chỗ, liên tục thực hiện được những bước nhỏ có tính toán trong khu vực Biển Đông mỗi khi có cơ hội hoặc tình hình đòi hỏi.

 Có thể dự báo quan hệ Mỹ – Trung thời Trump sẽ nóng lên trên mặt trận tranh chấp kinh tế. Mỗi bên đều có những “võ” ăn miếng trả miếng nhau, khó mà nói rằng bên nào sẽ nuốt chửng ngay được bên nào – ít nhất vì các lý do:

  • sự lệ thuộc của Mỹ vào thị trường Trung Quốc không nhỏ, hầu hết các nước phương Tây khác cũng như vậy, việc tập hợp đồng minh cho mình của mỗi bên Mỹ – Trung trên trận địa này rất phức tạp, tính nguy hiểm của quyền lực mềm gia tăng (hiện tượng Duterte là ví dụ điển hình);
  • không thể một sớm một chiều thực hiện những chiến lược kinh tế có tính đảo ngược – ví như từ outsourcing quay trở lại reshoring;
  • trong toàn cầu hoá ngày nay các biện pháp của chủ nghĩa bảo hộ càng khó chống lại sự vận động của các quy luật kinh tế…
  • khả năng ăn miếng trả miếng nhau rất năng động: Trump rút TPP, ngay lập tức tại hội nghị cấp cao APEC 11-2016 (Peru) Tập Cận Bình tuyên bố: Trung Quốc là cơ hội cho thế giới, đưa ra đề nghị lập Khu vực mậu dịch tự do Châu Á – Thái Bình Dương (FTAAP).  Trung Quốc cũng đã ướm với phía Mỹ mô hình G2, nhưng theo cách nghĩ của Trung Quốc. vv…

Đương nhiên mặt trận tranh chấp kinh tế Mỹ – Trung này còn tuỳ thuộc vào những diễn biến tới trên thế giới, sẽ cuốn hút sự can dự hay dính líu của nhiều nước khác trong và ngoài Châu Á Thái Bình Dương với tính cách là nước đi với một bên, hoặc với tính cách là nước bên thứ ba. Như vẫn thường xuyên diễn ra trong trò chơi tranh giành quyền lực, một khi mỗi bên Mỹ – Trung phải huy động các biện pháp phụ trợ khác hậu thuẫn cho mặt trận tranh chấp kinh tế này của mình hôm nay, khu vực Biển Đông vốn rất nhạy cảm hiện nay lại được nhận thêm một tia lửa kích hoạt mới – trước hết bởi hai lẽ:

 (1)  dựa vào thế áp đảo tại đây, Trung Quốc có những khả năng trả đũa khả thi hơn ở những nơi khác;

(2)    một sơ xuất, hoặc một bước lùi dù chiến lược hay chiến thuật của Mỹ tại đây đều có hệ quả nghiêm trọng.

        Tới đây có thể kết luận một cách chắc chắn: Trump tiếp cận vấn đề Trung Quốc quyết liệt hơn Obama.

Tuy nhiên, vẫn còn một nghi vấn lớn:

 – Tiếp cận này báo hiệu một bước đi chiến lược? Hay đây chỉ là việc Trump giọn dẹp đường xá, tạo thế cho một chiến lược? Bởi vì trong bàn cờ mới của Trump vẫn không thể thiếu Trung Quốc. Vả lại, trong giới giang hồ thường phải bạt tai nhau vài cái rồi mới nói chuyện – đấy là cách cư xử vẫn thấy.

 Dù thế nào, liên quan đến nước ta, có thể nói ngay: Đông Nam Á và trước hết là Biển Đông đang nóng lên – cả kinh tế, chính trị, quân sự.

  1. Phần kết: Trump/Kissinger và thế giới

Hiện tượng Trump là cú sốc đánh dấu thế giới sang trang đi vào một thời kỳ vận động mới. Bài 1 đã đưa ra 5 đặc điểm của thời kỳ mới này như một phán đoán để tham khảo. Còn nhiều điều phải tìm hiểu nội dung sang trang. Chưa ai biết Kissinger đã cố vấn cho Trump những gì trong các cuộc gặp gần đây. Song giữa những gì Kissinger đã viết ra trong World Order (2014) và những phát biểu của Trump tranh cử hình như có một sắc thái giống nhau: sắp xếp lai bàn cờ thế giới, thay đổi luật chơi, tất cả vì sức mạnh Mỹ trên hết! – dù rằng họ có thể hiểu theo cách khác nhau.  

            Theo Niall Ferguson (American Interest 21-11-2016), Kissinger cho rẳng:  

  • Quyền lực đang chuyển dịch từ Tây sang Đông trong một thế giới có những hỗn loạn mới, lợi ích của Mỹ là phải tìm cách tăng cường sức mạnh thật, chứ không phải là giương cao ngọn cờ đạo lý. Vì  thế phải hành động thực tế và cứng rắn. Đặt vấn đề như vậy, Kisinger ngưỡng mộ một chuẩn mực của tổng thống Theodor Roosevelt – người đã nói và làm: “Nếu phải lựa chọn giữa một bên là thép và máu, một bên là sữa và nước lã, tôi thà chọn thép và máu, bởi vì điều đó tốt cho Mỹ, và về lâu dài cũng là cho cả thế giới!”
  • Bởi không nhận ra đặc điểm mới nói trên, chính giới Mỹ nói chung (cả Cộng Hoà và Dân Chủ) và chính quyền Obama nói riêng cứ bám vào đạo lý, nên đã thất bại toàn diện. Hệ quả: (1) làm hỏng (deteriorate) quan hệ Mỹ – Trung và dễ rơi vào cái bẫy Thucydides; (2) phá vỡ quan hệ Nga – phương Tây; (3) Âu châu  tiếp tục rệu rã, ngoại giao không có sức mạnh làm hậu thuẫn, xảy ra Brexit, NATO kém cỏi; (4) không giải quyết được các vấn đề ở Trung Đông, trong khi đó nạn khủng bố ngày càng gia tăng, đặc biệt là thời Obama.
  • Sự vận động của lịch sử và văn hoá trong thế giới đang chuyển dịch như nói trên, sẽ tạo ra một trật tự thế giới của sự vận động 3 quyền lực Mỹ, Trung Quốc, Nga chi phối thế giới; vì vậy Mỹ nên cùng với những quyền lực này lập ra cho thế giới một trật tự của một loại hình bộ ba (a tripartite arrangement) Mỹ – Trung – Nga do Mỹ dẫn đầu. Lý giải như vậy, Kissinger (a) xếp châu Âu và tất cả những đồng minh khác theo các giá trị westphalian (các giá trị phương Tây và Cơ đốc giáo hiện nay – bao gồm EU, Canada, Úc, Nhật…) chỉ là những lực lượng đứng trong cánh gà của Mỹ, (b)chủ trương phân chia thế giới Hồi giáo thành những nước nhỏ dưới sự ảnh hưởng của một số nước nổi bật và Israel, và còn coi đây là cách hạn chế hữu hiệu nhất thiết phải thực hiện đối với Iran.
  • Kissinger khuyên Trump:
  1. Không đối đầu toàn lực với Trung Quốc dù là trong thương mại hay trong vấn đề Biển Đông, mà nên thương thuyết toàn diện (comprehensive discussion) nhằm đối thoại và cùng phát triển. Để thuyết phục Trump, Kissinger cho rằng Tập là người có tính nguyên tắc (regularly) và khác Mao; khuyên Trump đặt mình vào vị trí của Tập sẽ rõ mọi chuyện.
  2. Nên coi Nga thời hậu đế chế với Putin đứng đầu là một quyền lực lớn (great power) và cần đối sử bình đẳng, chứ không phải là một đối tác phụ thuộc.
  3. Nên tận dụng Brexit kéo châu Âu ra khỏi trạng thái hướng nội quan liêu (burocratic introspection) và đòi họ phải tăng cường trách nhiệm chiến lược.
  4. Nên giải quyết vấn đề Syrie theo hướng liên bang hoá như đã làm với Bosnia, tận dụng xu thế chống Iran và chống ISIS theo hướng phân chia nhỏ châu Phi (kantonization – thành các nước nhỏ) như vừa nêu trên. 

Chưa rõ Trump sẽ nghe Kissinger đến đâu, song trong những phát biểu của Trump về Nga, về Châu Âu, về NATO… rõ ràng có hơi hướng Kissinger.  

Riêng các phát biểu của Trump về Trung Quốc còn đầy ngờ vực – vì có thể Trump “nói dzậy mà không phải dzậy!”, hoặc là nói nhiều làm ít. Cũng có thể còn vì Trung Quốc là vấn đề khó, v… v…

Giới trí thức Mỹ phê phán gay gắt cả Kissinger và Trump, coi hiện tượng Trump ở Mỹ và các hiện tượng mang mầu sắc dân tuý châu Âu (bao gồm cả Brexit) là các biểu hiện suy đồi (decay) của trào lưu tiến bộ, là một bước thụt lùi của dân chủ, gây thêm những bất ổn định mới trên thế giới, cho rằng tình hình này nguy hiểm cho các nước nhỏ yếu: nguy cơ bị bỏ rơi và bị giành giật trong trò chơi quyền lực mới trên thế giới, giữa lúc các nước phát triển có xu hướng chỉ quan tâm trên hết đến lợi ích quốc gia của chính mình, thân ai nấy lo… 

         Xin nhắc lại, không phải vô lý nhiều học giả Mỹ cho rằng với Trump nước Mỹ và thế giới đang bước vào một thời kỳ có nhiều bất định và chưa biết được nó kéo dài bao lâu. 

         Điều chắc chắn là sự vận động và phát triển của kinh tế khiến cho quá trình toàn cầu hoá hiện nay không thể đảo ngược được, mặc dù nhiều luật chơi phải thay đổi, buộc người tham gia cuộc chơi phải thay đổi và thích nghi.

         Riêng những điều Kissinger khuyên Trump về Trung Quốc, khiến người Việt Nam nhớ lại tâm trạng bị thí và thảm kịch đẫm máu đã xẩy ra sau Thông cáo chung Thượng Hải năm 1972: Chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam và trên toàn chiến trường Đông Dương bước vào thời kỳ ác liệt nhất – tới mức hôm nay, nhân dịp Kissinger xuất hiện trở lại trên diễn đàn chính trị, một số ý kiến ở Mỹ muốn quy kết Kissinger là tội phạm chiến tranh. Rồi sau đó là chiến tranh 17-02-1979 của Trung Quốc ập tới nước ta, vào lúc khói bom đạn của chiến tranh Mỹ vừa tắt./.

Hà Nội, ngày 06-12-2016

 N.T (Tác giả gửi BVB)

 /(*) – Dự định sẽ còn bài/các bài tiếp theo/

 ————-

[1] Bài 1: Hiện tượng Trump và Việt Nam, 23-11-2016; bài 2 “Vài suy nghĩ về khởi nghiệp

[2] Trước đây một phần tư thế kỷ, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã đặt vấn đề như vậy trong bức thư của mình gửi Bộ Chính trị ĐCSVN ngày 09-08-1995.

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Mười Hai 8, 2016

20161208. DU HỌC SINH BÀN VỀ DU HỌC

ĐIỂM BÁO MẠNG

DU HỌC VỀ NGHIỄM NHIÊN ĐƯỢC ‘TRỌNG VỌNG’ ?

LÊ ĐỨC TIẾN, ĐỖ VĂN HÒA /TVN 8-12-2016

Du học về nghiễm nhiên được 'trọng vọng'?

Nếu du học được coi như một khoản đầu tư cho tương lai, thì việc bị đánh giá thấp trên thị trường lao động là một lãng phí lớn. Ảnh minh họa

Trong những năm gần đây, Việt Nam luôn có số lượng du học sinh đứng trong top đầu các quốc gia trên thế giới. Theo thống kê của Cục Đào tạo nước ngoài (Bộ Giáo dục và Đào tạo), năm 2015, Việt Nam có khoảng 120.000 du học sinh, trong đó 90% là du học tự túc với số ngoại tệ chi cho việc du học lên đến 3 tỷ USD hàng năm.

Bên cạnh những thuận lợi thường được nhắc đến như ngôn ngữ, kiến thức, tư duy, cơ hội nghề nghiệp…, chất lượng du học cũng tồn tại những hạn chế trước đòi hỏi của thị trường lao động. Nhiều nhà tuyển dụng bắt đầu có cái nhìn cẩn trọng hơn khi tuyển dụng du học sinh.

Nếu du học được coi như một khoản đầu tư cho tương lai, thì việc bị đánh giá thấp trên thị trường lao động là một lãng phí lớn. Bài viết này, vì thế, sẽ bàn đến những vấn đề mà du học sinh Việt Nam thường phải đối mặt trong quá trình du học, dẫn đến những kết quả không như mong đợi sau khi họ tốt nghiệp và bắt đầu tham gia thị trường lao động trong, ngoài nước.

Bên cạnh những khó khăn khách quan đã được chỉ ra nhiều lần, có một lý do mang tính chủ quan, rất quan trọng từ bản thân du học sinh cùng gia đình họ: đó là việc đặt câu hỏi Du học để làm gì Làm thế nào để đạt được mục tiêu du học?

Thông thường, khi bắt đầu có ý định cho con em đi du học, một kỳ vọng rất lớn của các gia đình là tạo điều kiện để con em đạt được tấm bằng có giá trị quốc tế, từ đó có cơ hội nghề nghiệp tốt hơn trong tương lai. Họ mong muốn con em được trải nghiệm một môi trường xã hội văn minh, trau dồi kỹ năng ngôn ngữ, mở mang kiến thức VH-XH để hội nhập thị trường lao động toàn cầu.Những câu hỏi cần trả lời

Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có nhiều gia đình không suy nghĩ và cân nhắc thỏa đáng mục tiêu du học. Có gia đình đơn giản là vì xu hướng du học đang trở nên phổ biến, ai ai cũng cho con đi thì mình cũng “thi đua” theo. Thậm chí, có những gia đình còn coi việc  này như cách khẳng định “nhà có điều kiện”.

Rõ ràng, việc không quan tâm đến đặt mục tiêu một cách nghiêm túc sẽ ảnh hưởng lớn đến hiệu quả. Khá nhiều du học sinh sa đà vào những thú vui, hoạt động giải trí như chơi game online, mạng xã hội, đi bar, club, mua sắm, du lịch… Không ít du học sinh vì sức ép tài chính mà mải mê đi làm thêm.

Đó đều là những hoạt động bình thường mà hầu như du học sinh nào cũng tham gia. Tuy nhiên, vì không lập mục tiêu cụ thể hoặc không bám sát mục tiêu đặt ra, khá nhiều du học sinh không cân bằng được và lãng phí nhiều thời gian quý giá cho chúng.

Ở một số thành phố lớn nơi có đông đảo cộng đồng du học sinh Việt, việc sống tập trung cũng ảnh hưởng lớn đến chuyện sử dụng tiếng Anh để giao tiếp. Mạng xã hội cũng là một lý do khiến các du học sinh có xu hướng sống khép kín hơn, ít giao du và kết bạn với người nước ngoài, người bản xứ để nâng cao kỹ năng giao tiếp, ngôn ngữ và kiến thức văn hóa.

Điều quan trọng nhất

Để khắc phục những hạn chế nói trên, nâng cao chất lượng du học, thì điều quan trọng nhất chính là xác định đúng mục tiêu du học và bám sát, quyết tâm thực hiện mục tiêu đó, trong suốt quá trình du học. Để có một bằng cấp mang giá trị quốc tế và có cơ hội nghề nghiệp tốt hơn trong tương lai thì gia đình và du học sinh cần có sự chuẩn bị lâu dài từ trước khi đi du học.

Trước tiên, việc chọn trường là một vấn đề cần tìm hiểu kỹ. Không thiếu những trường đại học chất lượng đào tạo không tốt nhưng lại có chính sách học phí rất rẻ để thu hút sinh viên nước ngoài.  

Để du học sinh được trải nghiệm ở một môi trường xã hội văn minh và hấp thụ các giá trị về văn hoá, nâng cao khả năng ngôn ngữ và kiến thức xã hội, các em cần phải chủ động hòa nhập vào môi trường sống khi đi du học. Các hoạt động giải trí, đi làm thêm cần được cân bằng với việc học.

Các du học sinh cần phải năng nổ tham gia vào các hoạt động do hội sinh viên của trường và hiệp hội sinh viên Việt Nam ở các nước tổ chức. Việc đi du lịch cũng kết hợp với tìm hiểu kiến thức lịch sử, văn hóa và xã hội ở những điểm đến. Các hoạt động giải trí online cần được chú ý tiết chế, vì đây là một trong những hoạt động tốn kém thời gian nhất, khiến cho du học sinh dễ chui vào vỏ ốc của mình, hạn chế những hoạt động giao lưu và tương tác xã hội.

Du học sinh cũng nên chú ý theo dõi các kênh truyền thông của nước ngoài để thu thập thông tin và trau dồi cả khả năng ngôn ngữ, thay vì vẫn duy trì thói quen chỉ theo dõi các kênh truyền thông trong nước bằng tiếng Việt.

Nếu như trước đây du học sinh thường được gắn với những ấn tượng rất tích cực về sự giỏi giang và thành đạt, thì ngày nay điều đó không còn được thừa nhận một cách mặc nhiên nữa. Sự bùng nổ số lượng du học sinh tất nhiên đã làm ảnh hưởng đến cái nhìn đó, theo nguyên tắc thống kê 20/80.

Một lượng ngoại tệ rất lớn hàng năm đổ ra nước ngoài từ Việt Nam nhưng nếu hiệu quả mang lại hạn chế thì đó sẽ là một sự lãng phí rất lớn, trong khi giáo dục trong nước thì thiếu những khoản đầu tư tương tự để cải thiện và nâng cao chất lượng.

Lê Đức Tiến, Nghiên cứu sinh ngành Marketing, Trường Đại học Aston, Vương quốc Anh

Đỗ Văn Hoà, Nghiên cứu sinh ngành Quản trị nhân sự, Trường Đại học Aston, Vương quốc Anh

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Mười Hai 6, 2016

20161206. VÕ KIM CỰ SẮP BỊ SỜ GÁY ?

ĐIỂM BÁO MẠNG

VÕ KIM CỰ SẮP BỊ SỜ GÁY?

LÊ ANH HÙNG/VOA/ BVB 6-12-2016

Kết quả hình ảnh cho võ kim cự

Võ Kim Cự là một nhân vật đã “nổi tiếng” từ nhiều năm nay. Ngay khi còn là Chủ tịch tỉnh Hà Tĩnh, “tiếng tăm” của ông ta đã vượt xa ra ngoài địa phận của cái tỉnh nghèo ở Miền Trung, trở thành một cái tên “hot” trên cả nước.

Một trong những sự kiện gây xôn xao dư luận và mang đậm “dấu ấn” độc tài, ngang ngược của ông ta là việc UBND tỉnh Hà Tĩnh chỉ đạo các cơ quan ban ngành và huyện thị trên địa bàn ưu tiên sử dụng bia Sài Gòn, kèm theo đó là những chuyện khôi hài như việc vận động uống bia được đưa vào cả tiết mục văn nghệ hay vụ 7 cán bộ Sở Giáo dục – Đào tạo bị kiểm điểm vì không uống bia Sài Gòn trong một cuộc nhậu.

Và đến khi vụ đại thảm họa môi trường do Formosa Hà Tĩnh gây ra ở Miền Trung từ tháng 4/2016 cùng những thông tin về trách nhiệm trực tiếp của ông ta được phơi bày trước công luận thì số phận chính trị của ông ta đã trở thành mối quan tâm của hàng chục triệu người Việt.

Tuy nhiên, mặc dù bị báo chí cả “lề đảng” lẫn “lề dân” liên tục công kích và vạch trần những sai phạm rõ ràng liên quan đến dự án Formosa Hà Tĩnh trong bối cảnh bản thân nhà cầm quyền CSVN cũng rất cần một “con dê tế thần” hầu xoa dịu cơn phẫn nộ của công chúng cả nước, nhưng ông ta vẫn cứ “bình chân như vại”, vẫn trở thành Ủy viên Ủy ban Kinh tế Quốc hội khoá XIV và tái nhiệm vị trí Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam khoá V (2016-2020).

Sau một thời gian hứng chịu sự lên án của công luận, người ta có cảm giác như “tội đồ” Võ Kim Cự đã “tai qua nạn khỏi” khi những thông tin về ông ta trên báo chí cứ thưa thớt dần, thậm chí truyền thông nhà nước còn không ít lần đăng những phát ngôn rất dễ “đi vào lòng người” của ông ta.

Tuy nhiên mới đây, những ai quan tâm đến hiểm họa Formosa Hà Tĩnh nói chung và số phận của Võ Kim Cự nói riêng hẳn đều ít nhiều phấn chấn trước hai thông tin còn nóng hổi trên báo chí.

Trong buổi tiếp xúc với cử tri của Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng sáng 30/11 để báo cáo kết quả kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XIV, Thường trực Ban Bí thư Đinh Thế Huynh cho biết Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng đang tiến hành kiểm tra dấu hiệu vi phạm của ông Võ Kim Cự và Ban Cán sự Đảng UBND tỉnh Hà Tĩnh trong việc xây dựng dự án Formosa Hà Tĩnh. Và ngày 2/12, Toà án Nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã tuyên án cựu Chủ tịch UBND huyện Kỳ Anh Nguyễn Văn Bổng 12 năm tù giam trong phiên toà xét xử vụ án cố ý làm trái các quy định của Nhà nước để thu lợi bất chính liên quan đến việc thu hồi, giải phóng mặt bằng dự án Formosa.

Nguyễn Văn Bổng vốn là tay chân đắc lực của Võ Kim Cự trong dự án Formosa Hà Tĩnh, từng được coi là “có công lớn” trong việc giải phóng mặt bằng cho siêu dự án. Và việc ông ta bị tuyên một bản án khá nặng chỉ vài hôm sau khi Thường trực Ban Bí thư Đinh Thế Huynh thông báo về việc Ủy ban Kiểm tra Trung ương đang làm rõ trách nhiệm của Võ Kim Cự khiến không ít người vội coi đó là dấu hiệu cho thấy những sai phạm trong đại thảm họa Formosa Hà Tĩnh sắp được xử lý đến nơi đến chốn.

Bổn cũ soạn lại

Khi còn ở Hà Tĩnh, Võ Kim Cự được coi là một nhà lãnh đạo độc tài, bất kể trên cương vị Phó Chủ tịch tỉnh (6/2005-7/2010), Chủ tịch tỉnh (8/2010-10/2015) hay Bí thư Tỉnh ủy (1/2015-10/2015), quyền uy của ông ta không chỉ khuynh đảo cấp dưới mà còn lấn át cả cấp trên. Cũng như việc đến tận thời điểm này ông ta vẫn bình an vô sự trước búa rìu của dư luận trong bối cảnh đại thảm họa môi trường do Formosa Hà Tĩnh gây ra vẫn là nỗi nhức nhối của hàng chục triệu người Việt. Điều đó có lý do hết sức dễ hiểu: ông ta bị dư luận nội bộ tố là đệ tử ruột của cựu Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế Hoàng Trung Hải, nhân vật đã trở thành Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội sau Đại hội XII vừa qua.

Cặp bài trùng Hoàng Trung Hải – Võ Kim Cự chính là “tác giả” của đại dự án Formosa Hà Tĩnh, theo một kịch bản mà nếu được cho là “đúng quy trình” thì người ta chỉ có thể gọi “quy trình” đó là “quy trình bán nước”: Ngày 16/1/2008, Phó Chủ tịch tỉnh Hà Tĩnh Võ Kim Cự ký công văn số 102/UBND-CN2 gửi Thủ tướng Chính phủ về chủ trương đầu tư xây dựng nhà máy liên hợp luyện thép tại Khu Kinh tế Vũng Áng và dự án cảng nước sâu Sơn Dương tỉnh Hà Tĩnh do tập đoàn Formosa làm chủ đầu tư, và ngày 4/3/2008 Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải ký công văn hỏa tốc số 323/TTg-QHQT “đồng ý với chủ trương tập đoàn công nghiệp nặng Formosa – Đài Loan lập dự án đầu tư nhà máy liên hợp thép tại Khu Kinh tế Vũng Áng và cảng nước sâu Sơn Dương tỉnh Hà Tĩnh như đề nghị của UBND tỉnh Hà Tĩnh tại công văn nêu trên”; ngày 2/6/2008 Phó Chủ tịch tỉnh Hà Tĩnh ký công văn số 122/BC-UBND “Báo cáo thẩm tra Dự án đầu tư Khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương của Tập đoàn Formosa (Đài Loan)” gửi Thủ tướng Chính phủ, và ngày 6/6/2008, Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải ký công văn số 869/TTg-QHQT “đồng ý với việc Tập đoàn công nghiệp nặng Formosa – Đài Loan thực hiện dự án đầu tư Khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương tại Khu kinh tế Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh”.

Rõ ràng, nếu xử lý Võ Kim Cự thì không thể không xử lý Hoàng Trung Hải, bởi Võ Kim Cự chỉ là người đề xuất, trong khi viên cựu Phó Thủ tướng gốc Tàu mới là người quyết định.

Trước thực tế ông Hoàng Trung Hải suốt từ năm 2007 đến nay bị tố cáo đã phạm những tội ác đặc biệt nghiêm trọng như khai man lý lịch, giết người, phản quốc, buôn lậu ma tuý, trùm băng đảng… nhưng không những không bị xử lý mà còn tiếp tục “thăng quan tiến chức”, trở thành thành viên ban lãnh đạo tối cao của Việt Nam, việc “tội đồ” Võ Kim Cự vẫn tiếp tục nhâng nháo thách thức dư luận là điều không có gì quá khó hiểu. Và động thái mới nhất của Thường trực Ban Bí thư trên đây xem ra cũng chỉ là trò bịp bợm “bổn cũ soạn lại” của phường buôn dân bán nước.

 Lê Anh Hùng/(Blog VOA )

BỘ TRƯỞNG CÔNG THƯƠNG TRẦN TUẤN ANH TOAN TÍNH GÌ CHO DỰ ÁN THÉP CÀ NÁ?

LÊ DUNG/ SBTN /BVN 6-12-2016

clip_image001

Bên phải: Ông Trần Tuấn Anh và vợ là Thuỷ Hương / Bên trái: ông Lê Phước Vũ và vợ là Mỹ Hạnh, em ruột bà Thuỷ Hương. Ảnh: Danlambao

Một nguồn tin cho biết sau khi được Bộ trưởng Công thương Trần Tuấn Anh “ẵm”  vào quy hoạch các dự án làm thép ở Việt Nam, Tập đoàn Tôn Hoa Sen của ông Lê Phước Vũ sẽ tiến hành một động tác thứ hai: đề nghị Chính phủ bảo lãnh để tập đoàn này được vay một phần lớn trong dự toán lên đến 10 tỷ USD cho dự án Thép Cà Ná.

Rất có thể, mưu tính đề nghị được bảo lãnh trên là lời giải cho câu hỏi của dư luận, về việc Tập đoàn Tôn Hoa Sen sẽ lấy đâu ra 10 tỷ USD để đầu tư vào dự án thép Cà Ná. Bởi con số 10 tỷ USD này là gấp đến 20 lần vốn điều lệ của Tập đoàn Tôn Hoa Sen.

Nếu được Chính phủ của ông Nguyễn Xuân Phúc “xé rào” cho bảo lãnh vay vốn 10 tỷ USD, tình hình nợ công quốc gia sẽ càng thêm đổ đốn. Cho đến nay, bất chấp các báo cáo của Bộ Tài chính và Chính phủ vẫn khẳng định nợ công chưa đụng trần nguy hiểm là 65% GDP, nhiều chuyên gia phản biện độc lập cho biết tỷ lệ thực về nợ công đã vọt lên đến hàng trăm phần trăm GDP, nếu không nói là có thể còn hơn thế.

10 tỷ USD mà Tập đoàn Tôn Hoa Sen dự tính làm dự án thép Cà Ná tương đương đến 5% GDP.

Vào tháng Tám năm nay, có nhiều dấu hiệu cho thấy Bộ Công thương “đi đêm” với Công ty cổ phần Tập đoàn Hoa Sen, và cố ý làm trái để dự án thép Hoa Sen – Cà Ná của doanh nghiệp này được “bế” vào quy hoạch, trong lúc trước đó dự án này không hề nằm trong danh sách quy hoạch đó. Cú “đi đêm” này lại diễn ra trong bối cảnh việc giải quyết hậu quả của vụ Formosa Hà Tĩnh vẫn cực kỳ tắc trách. Dư luận kịch liệt lên án những hậu quả nặng nề không tránh khỏi về môi trường và môi sinh của dự án thép Hoa Sen – Cà Ná.

Dư luận xã hội càng nghi ngờ tính trung thực của Bộ Công thương khi bộ này cố gắng thuyết minh rằng Việt Nam vẫn rất cần thép trong tương lai. Tân Bộ trưởng Công thương – ông Trần Tuấn Anh – là một nhân vật “đặc biệt”: con ruột ông Trần Đức Lương, cựu Chủ tịch nước. 

Đặc biệt hơn cả, Trần Tuấn Anh còn là anh em cộc chèo với Chủ tịch tập đoàn Hoa Sen Lê Phước Vũ – người đã đi vào lịch sử với câu nói “Ngu gì không làm thép!”.

Việt Nam đang đứng trước khúc quanh lịch sử với câu nói cửa miệng bi thiết của dân gian “Cả nhà làm quan, cả họ làm cướp”, trước tình trạng từ Bắc chí Nam đầy dẫy cảnh con ông cháu cha được bổ nhiệm vì “hót hay nhảy giỏi”.

Cảnh hoàng hôn chế độ lại đang bị nhuộm thêm màu tối Formosa. Nếu có thêm một “biển chết” nữa ở Nam Trung Bộ là Ninh Thuận do nhà máy thép Cà Ná của Tập đoàn Hoa Sen gây ra, thì sẽ là quá đủ để người dân đào mồ chôn quan chức.

“Chính phủ kiến tạo” của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc lại đang tiếp tục phạm hàng loạt sai lầm. Sau sai lầm khủng khiếp khi cố ý đơn phương thỏa thuận với Tập đoàn Formosa để đền bù 500 triệu USD cho ngư dân, dường như chính phủ này đang để mặc cho “nhóm cá mập” của tân Bộ trưởng Công thương Trần Tuấn Anh hoành hành dữ dội, không chỉ về dự án thép, mà còn cả thủy điện, điện lực và xăng dầu.

L.D. / SBTN

Nguồn: http://tinhhinhdatnuocvietnam.blogspot.com/2016/12/bo-truong-cong-thuong-tran-tuan-anh.html

 

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Mười Hai 5, 2016

20161205. THỦ TƯỚNG NGUYỄN XUÂN PHÚC CÓ TẠO NÊN SỰ KHÁC BIỆT?

ĐIỂM BÁO MẠNG

THỦ TƯỚNG NGUYỄN XUÂN PHÚC CÓ TẠO NÊN SỰ KHÁC BIỆT ?

PGS. TS PHẠM QUÝ THỌ/ BVB 5-12-2016

Kết quả hình ảnh cho nguyễn xuân phúc

Ông Nguyễn Xuân Phúc nhậm chức Thủ tướng từ đầu tháng 4/2016

Các nhà quan sát chính trị trong và ngoài nước quan tâm đang dõi theo những động thái của chính phủ, trước hết là người đứng đầu.Kể từ khi chính thức tuyên thệ nhậm chức vào ngày 7/4/2016 tại Kỳ họp thứ nhất Khóa 14 Quốc hội, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã và đang tạo ra phong cách chỉ đạo điều hành quyết liệt, cụ thể, kịp thời với sự ‘đôn đốc’ của tổ công tác để tăng cường thực thi các nghị quyết, chỉ đạo của chính phủ.

Nhiều tuyên bố, đặc biệt là quyết tâm xây dựng một chính phủ liêm chính, phục vụ, kiến tạo, đã tạo được ấn tượng mạnh về sự mạnh mẽ và khác biệt trong điều hành, những ‘chỉ đạo’ của thủ tướng đã và đang gây ấn tượng và thu hút được sự chú ý của công luận và người dân.

Trong một cuộc họp chính phủ ông có nói đại ý rằng từ trước đến nay ‘chúng ta bắn lên trời’ nhiều rồi, nghĩa là các hành động trước kia không cụ thể, không có địa chỉ.

Phải chăng những chỉ đạo liên tục của Thủ tướng là những hành động cụ thể, kịp thời và là minh chứng cho việc ‘lời nói đi đôi với việc làm’?

Sự chỉ đạo nổi bật của Thủ tướng, trước hết, về vụ việc quán cafe Xin chào, được xem là ‘sự chỉ đạo cụ thể đầu tiên’, sau khi ông nhậm chức nửa tháng.

Một người dân bình thường ở huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh, mở quán café Xin chào để làm ăn…và bị khởi tố hình sự. Báo chí phản ánh ‘dồn dập’, và, như nhiều báo, giật tít ngày 21/4/2016:

“Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã trực tiếp gọi điện cho Chủ tịch UBND TPHCM – ông Nguyễn Thành Phong – yêu cầu dừng ngay việc khởi tố vụ án hình sự chủ quán cà phê Xin Chào.”

Như đã biết, các cơ quan chức năng ‘làm rõ’ và ‘báo cáo’ Thủ tướng đây là vụ án ‘oan sai’… Kết quả là một số cán bộ, công an bị ‘xử lý’, trong đó có trưởng công an và phó viện trưởng Viện KSND huyện bị cách chức…

Đọc báo chẳng rõ người ta mừng vì một số lãnh đạo làm sai bị mất chức hay mừng là chủ quán café lại tiếp tục được làm ăn!

Gần đây nhất, trong cuộc họp Chính phủ ngày 28-29/11/2016 Thủ tướng đã có những chỉ đạo quyết liệt:

“Yêu cầu Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam kiểm tra việc chi phí để làm quà tặng (logo) tại Tập đoàn này; Yêu cầu Thanh tra CP kiểm tra vụ việc và không để cán bộ phát ngôn theo kiểu ‘xấu xa đậy lại’; Yêu cầu kiểm tra lại hiện tượng bổ nhiệm ở các bộ ngành khiến dư luận bức xúc trong thời gian vừa qua; Yêu cầu các địa phương không được về Hà Nội chúc tết, tặng quà cho Thủ tướng, các phó thủ tướng, bộ trưởng mà hãy dành thời gian chủ động tập trung chăm lo Tết cho nhân dân…”

‘Rào cản thể chế’

 Các chỉ đạo của Thủ tướng dường như càng ngày càng có ‘độ phức tạp’ lớn hơn, trong đó sự ‘nhảy cảm’ và khó khăn thực thi chính là ‘quy trình thể chế’.

Thủ tướng thẳng thắn nhận định rằng “còn khá phổ biến tình trạng ‘trên bảo, dưới không nghe'”, và “các cơ quan quản lý giải trình thực hiện ‘theo đúng quy trình’, nhưng vẫn gây bức xúc dư luận”.

Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Nội vụ làm việc ngay với Ban Tổ chức Trung ương rà soát lại các quy định về cán bộ để tránh tình trạng bổ nhiệm quá số lượng, người nhà… mà vẫn đúng quy trình.

Đặc biệt, Thủ tướng giao Bộ Nội vụ thực hiện ngay việc nghiên cứu, đề xuất thể chế về từ chức – một đề xuất được Quốc hội chấp nhận trong kỳ họp thứ 2 khóa 14 vừa diễn ra tại Hà Nội.

Sự quyết tâm của Thủ tướng đang vướng các rào cản thể chế. Có lẽ ông hiểu điều đó nên trước mỗi ‘chỉ đạo’ luôn nhấn mạnh rằng Chính phủ vì nhân dân và phục vụ nhân dân.

Như đã biết, vụ Trịnh Xuân Thanh (cán bộ cấp trung), ngay sau đó là Vũ Đình Duy đang bị điều tra về hành vi thiếu trách nhiệm làm thất thoát tài sản nhà nước hàng ngàn tỷ đồng, thì bỏ trốn ra nước ngoài trót lọt kiểu ‘con voi chui lọt lỗ kim’- như một đại biểu Quốc hội phát biểu.

Ông Vũ Huy Hoàng, cựu bộ trưởng Bộ Công thương, cấp trên của hai nhân vật nêu trên, bị Ủy ban Kiểm tra trung ương điều tra và có kết luận rằng các vi phạm, khuyết điểm của ông ta trong thời gian làm bộ trưởng đã gây hậu quả nghiêm trọng. Đảng đã tuyên bố cách chức Bí thư Ban cán sự đảng Bộ Công thương trong thời gian 2011 – 2016 đối với ông này ngày 2/11 vừa rồi.

Cách chức một cá nhân khi không còn chức, rõ ràng hình thức kỷ luật trên mang tính ‘biểu tượng’, ‘đạo đức’ hoặc ‘mang tính răn đe’, song chính vì vậy mà đã hơn một tháng nay, Quốc hội và Chính phủ vẫn không thể vận dụng được, thậm chí chưa sửa được quy trình thể chế hiện hành để phán xét và xử lý đúng ‘tội’ khi ông Hoàng đã nghỉ hưu.

‘Sự bất lực’

 Người ta nói về ‘sự bất lực’ xuất phát từ ‘lỗi’ hệ thống.

Muốn kỷ luật một cán bộ lãnh đạo nào đó, trước hết đảng phải ‘có ý kiến chỉ đạo’, xử lý về đảng, sau mới đến chính quyền. Cơ chế này đang có vấn đề qua các vụ việc nêu trên.

Rõ ràng phải đổi mới đảng cầm quyền trước tiên.

Nguyên phó thủ tướng Vũ Khoan cho rằng một trong những đổi mới chính trị ở Việt Nam thời gian qua là đảng Cộng sản dần không can thiệp vào công việc của chính phủ, tuy nhiên thể chế nào để lấp vào khoảng trống quyền lực đó thì chưa được rõ.

Nhà nước Việt Nam hiện nay được tổ chức theo cấu trúc thứ bậc với quyền lực tập trung trong tay đảng Cộng sản nhằm thực thi luật lệ trong các lĩnh vực, đang thay đổi theo hướng pháp trị và chịu sức ép trước hội nhập quốc tế và nhu cầu xã hội dân sự về nghĩa vụ giải trình và chịu trách nhiệm chính trị, nơi mà chính phủ hành động phù hợp với thể chế kinh tế thị trường và phải có trách nhiệm trước nhân dân.

Nhà nước luôn có xu hướng tập trung quyền lực, còn thể chế pháp quyền và giải trình và chịu trách nhiệm chính trị thì lại đặt ra những hạn chế theo cách ngăn ngừa tha hóa quyền lực, và chính quyền cần phải được kiềm soát bởi pháp luật và chịu trách nhiệm giải trình trước nhân dân.

Điều này chưa được đặt ra cụ thể và thỏa đáng trong cải cách thể chính trị ở Việt Namdo ý thức hệ bảo thủ và quan niệm giáo điều về chủ nghĩa xã hội.

Mặt khác, Việt Nam không thể học theo kinh nghiệm của Trung Quốc mặc dù hai nước tương đồng về chế độ chính trị, về cách chống ‘quốc nạn’ tham nhũng.

Tham nhũng và quyền lực là cặp bài trùng. Trung Quốc chọn việc tập trung quyền lực cao hơn để chống tham nhũng, và sự tranh giành quyền lực là không tránh khỏi.

//Ông Nguyễn Xuân Phúc gặp Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trong chuyến thăm Bắc Kinh hồi tháng 9/2016

 Ở Trung Quốc chủ tịch Tập Cận Bình, được coi là ‘kiến trúc sư’ chiến dịch ‘đả hổ giệt ruồi’. Mới đây tại Hội nghị trung ương 6 khóa 18 đảng Cộng sản, cho biết trong 3 năm 2013-2016 của nhiệm kỳ đầu tiên cầm quyền của ông, hơn 1,01 triệu quan chức bị điều tra tham nhũng, trong đó có hàng nghìn cán bộ cao cấp, như Bạc Hy Lai, Chu Vĩnh Khang… bị kết tội.

Cũng trong Hội nghị trên chủ tịch Tập được đảng trao danh hiệu ‘lãnh đạo hạt nhân.’ Ông là nhân vật thứ ba có danh hiệu này sau Chủ tịch Mao và Đặng Tiểu Bình.

‘Danh hiệu’ nêu trên, lần đầu tiên được nhắc đến chính là Đặng Tiểu Bình, khi nói rằng ‘một nền lãnh đạo tập thể phải có một hạt nhân; không có hạt nhân thì không thể chế nào có thể đủ vững mạnh.’

Các nhà quan sát chính trị cho rằng đây là ‘biểu tượng quyền lực’, vì nó mở đường cho việc tháo dỡ dần những quy tắc và chuẩn mực bất thành văn của đảng Cộng sản vốn điều chỉnh hành vi của giới tinh hoa và quá trình chuyển giao lãnh đạo trong gần ba thập niên qua ở Trung Quốc.

Ở Việt Nam, liệu có cần quy hoạch hay bồi dưỡng ai đó trở thành ‘lãnh đạo hạt nhân’ trong quá trình chuyển giao tổng bí thư – chức vụ cao nhất của đảng Cộng sản sắp tới? Liệu có thể xoay chuyển tình hình ‘trên bảo dưới không nghe’?

Sự bất ổn kinh tế và xã hội trong thời gian qua đã xé rách những luật lệ với những quy trình hiện có, báo hiệu một thời kỳ khó dự đoán về sự thay đổi thể chế chính trị để vượt qua những khó khăn phía trước, đưa đất nước phát triển

Đảng Cộng sản Việt Nam liệu đã rút ra những bài học gì qua sự kiện ‘phê bình đồng chí X không thành tại Hội nghị trung ương 6 khóa 11 của Đảng Cộng sản’? Có lẽ không phải vấn đề cá nhân các lãnh đạo, giữa đảng và chính phủ, mà là vấn đề thể chế!

Trong bối cảnh ấy liệu Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có tạo nên sự khác biệt so với người tiền nhiệm?

PGs.Ts. Phạm Quý Thọ (Học viện Chính sách và Phát triển)/BBC

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Mười Hai 4, 2016

20161204. BÌNH LUẬN VỀ TÌNH HÌNH BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

ĐIỂM BÁO MẠNG

BỘI CHI 176 NGÀN TỶ ĐỒNG: BẾ TẮC VÀ TĂNG CƯỜNG VÉT THUẾ PHÍ

TP/BVB 4-12-2016

Kết quả hình ảnh cho bội chi ngân sách nhà nước

Sức dân và sức doanh nghiệp tiếp tục là con bò để nhà nước vắt để nuôi cơ chế trong giai đoạn 4 năm tiếp theo.

11 tháng năm 2016 – Ngân sách nhà nước Việt Nam (NSNN) bội chi gần 7,6 tỷ USD. Đáng chú ý, là thu ngân sách khu vực DNNN chỉ đạt 176.600 tỷ (bằng 68,9% dự toán); đầu tư phát triển ở mức 167.700 tỷ đồng; chi trả nợ và viện trợ ở mức 136.000 tỷ đồng.

So với kế hoạch chi đề ra cả năm là 1.273.200 tỷ đồng, thì năm 2016, kế hoạch chi sẽ vượt khung (tức ở mức 8,5 tỷ USD).

Chi tiêu ngân sách: Tăng liên tục

Mục tiêu ngân sách 2016-2020 là giảm dần, nhưng căn cứ vào thực tế sử dụng ngân sách 3 năm trở lại đây, thì có khả năng, mục tiêu lần này tiếp tục đi vào viết xe đổ giai đoạn 2011-2015. Cụ thể, giảm dần bội chi ở mức 4,5%, tuy nhiên, thực tế thì bội chi các năm trong giai đoạn này tăng liên tục (4,4% – 6% – 6,11%).

Năm 2014, bội chi ngân sách là 249.362 tỷ đồng, vượt mức trần Quốc hội hơn 25.000 tỷ đồng.

Năm 2015 bội chi ngân sách nhà nước là 256.000 tỷ đồng.

Năm 2016 bội chi ngân sách 176.900 tỷ đồng

Số tiền 8,5 tỷ USD sẽ buộc phải vay nợ để bồi đắp cho NSNN – nhưng cơ hội để xóa nợ lại giảm, trong khi số tiền chi để trả nợ gần bằng tiền chi để đầu tư phát triển.

Tình hình bội chi căng đến mức, trong buổi họp kín trước đó vào chiều 22/11, 90% đại biểu Quốc hội tán thành dừng dự án điện hạt nhân Ninh Thuận dù đã hoàn thành bước chuẩn bị cho dự án trong đó có cả hệ thống cấp điện và hạ tầng phục vụ thi công; đào tạo nguồn nhân lực; thỏa thuận vay vốn,… Nó không đến từ sự phản ứng xã hội đối với dự án này, mà đến từ yếu tố kinh tế – khi nợ công sẽ nhảy bậc nếu dự án này được đưa vào thi công.

Đã có những bước đi tín hiệu trong “quy hoạch” sử dụng ngân sách. Cụ thể, chiều 8/11, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016-2020, trong đó giảm dần tỉ lệ bội chi ngân sách Nhà nước, đến năm 2020 xuống dưới 3,5% GDP. Thông qua việc, thoái hóa vốn ở các ngành không cần Nhà nước sở hữu; cơ cấu lại đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức tín dụng.

Kiểm soát NSNN: Khó toàn tập

Dù đã ra Nghị quyết về kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế. Nếu điều này được thực hiện một cách nghiêm túc thì bội chi ngân sách sẽ giảm 2/3, tuy nhiên công việc thực tế lại khó khăn hơn nhiều.

Đầu tiên, xử lý dứt điểm các doanh nghiệp nhà nước thua lỗ, các dự án đầu tư không hiệu quả theo nguyên tắc và cơ chế thị trường. Và thực hiện phá sản doanh nghiệp nhà nước. Điều này phù hợp, khi mà trong một báo cáo có liên quan, các tập đoàn nhà nước độc quyền như EVN, PVN, ACV, Vinacomin tỷ suất lợi nhuận đi xuống. Cụ thể, nếu PVN năm 2013 tỷ suất lợi nhuận ở mức trên 17% thì 2016 lại rơi xuống mức 14%;  ACV trên 32% (2013) thì nay rớt dần đều xuống dưới mức 20%. Riêng EVN, qua nửa năm 2016, đã báo lỗ trước thuế 557 tỷ đồng và lỗ ròng 930 tỷ đồng.  Vấn đề tiếp theo là làm sao để hoạch toán độc lập và kiểm soát chi tiêu tài chính của các tập đoàn này? Vốn là một câu hỏi không lời đáp trong hàng thập kỷ nay, khi tài chính và đầu tư tập đoàn trở thành vùng cấm địa do liên quan mật thiết đến đảng viên cao cấp. Ví như PetroVietnam liên quan đến ông Đinh La Thăng (nay là Ủy viên BCT); PVFI liên quan đến cựu Bộ trưởng Bộ Thương mại Vũ Huy Hoàng.

Thứ hai, các tổ chức hội, đoàn thể trực thuộc cánh tay phải của Đảng mỗi năm ngốn 14.000 tỷ đồng, tượng đài và tòa nhà hành chính các tỉnh vẫn đang mọc lên. Dẫn đến yêu cầu buộc phải cân đối ngân sách trong lĩnh vực này, nhấn mạnh tự chủ tài chính hơn là ôm vào con bò ngân sách. Tuy nhiên, hệ thống này vẫn phải làm nhiệm vụ tay phải của Đảng trong định hướng chính trị và xã hội; câu chuyện tượng đài tiếp tục nằm trong quy hoạch đến năm 2030.

Một vấn đề lớn nữa mà bà Phạm Chi Lan – chuyên gia kinh tế độc lập từng đưa ra là biên chế nhà nước ngày càng phồng to. Với 11 triệu người hưởng lương và mang tính chất lương (chiếm trên 10% dân số) là một thách thức lớn đối với túi tiền ngân sách, ngay cả khi so với Trung Quốc (40 triệu công chức tương đương 2,8% dân số). Việc cắt giảm 30% công chức cắp ô trở nên khó khăn vì hầu hết nó sẽ làm bùng nổ sự phản đối, do các hiện tượng cắp ô là COCC cơ cấu hoặc chạy tiền. Đây là “rào cản lớn nhất với cắt giảm chi tiêu ngân sách nhà nước hiện nay nằm chính trong nội bộ các cơ quan công quyền” [1] – thông qua bộ máy cồng kềnh và vô kỷ luật. Điều này có thể thấy rõ thông qua bổ nhiệm sai quy trình ở nhiều tỉnh thành, gần nhất là Sở Lao động, Thương binh và Xã hội Hải Dương đã bị tố là có 46 biên chế thì 44 người mang chức danh trưởng, phó phòng; trong khi đó TP Thanh Hóa bổ nhiệm vượt quy định 53 phó phòng. Đặc biệt, Giám đốc Sở Tài chính (Thanh Hóa) vẫn “xé rào” bổ nhiệm con gái ruột của mình. Điều này cho thấy, sự thấy nghiêm minh và giám sát trong công tác bổ nhiệm và điều chuyển cán bộ trong đảng. Hoàng hôn nhiệm kỳ vẫn là một khuôn mẫu chiếu lệ ở hầu hết địa phương, tác dụng thị uy – răn đe trong điều hành chỉ ở mức phê bình – kiểm điểm, dẫn đến những bước đi trong giảm bội chi ngân sách chỉ mang tính lý thuyết.

Cạnh đó, tình trạng chi sai quy định và tham nhũng trong đầu tư công vẫn là một mắc xích lớn, việc đội vốn ở các công trình trọng điểm quốc gia như đường sắt đô thị Cát Linh – Hà Đông; nhà máy lọc dầu Dung Quất; nhà máy lọc dầu Nghi Sơn,… tiếp tục diễn ra dù được phản ánh trên báo chí và Quốc Hội. Xu hướng xử lý là tiếp tục rót ngân sách vào các dự án này thay vì tuyên bố “phá sản” khiến cho càng làm càng lỗ, và lỗ “vượt kế hoạch” cho phép.

Tăng thu bù chi: Thuế phí đè nặng

Trong khi tình trạng bội chi NSNN vẫn chưa được giải quyết. Tinh giảm biên chế và chống thất thoát trong đầu tư công vẫn là bài toán khó giải. Đến mức nếu đụng vào thì có khả năng người đụng sẽ chết trước, theo như cách nói của ông Phạm Trọng Đạt – Cục trưởng Cục Chống tham nhũng, Thanh tra Chính phủ – khi nói công tác phòng chống tham nhũng vào tháng 3/2016. Cơ chế nảy sinh ra cơ chế, khiến bộ máy nhà nước càng ngày càng cồng kềnh, bộ máy tạo điều kiện cho tham nhũng phát triển khiến toàn bộ hệ thống nhà nước không thể thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn trong “bội chi ngân sách”.

Và cách thức để giải quyết vấn đề này vẫn là dựa vào xu hướng tăng thu bù chi.

Trong thực tế là vào sáng ngày 9/11, Quốc Hội Việt Nam đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về kế hoạch tài chính 5 năm (2016 – 2020), trong đó: tổng thu ngân sách nhà nước 5 năm khoảng 6.864 nghìn tỷ đồng; trong đó thuế, phí và lệ phí khoảng 21-22% GDP.

Như vậy, năm 2016 có thể tạm khép lại với vấn đề bội chi, và chúng ta có thể đón chờ năm 2017 với các thuế phí được tăng cường truy thu, đi từ gánh thuế phí cao nhất ASEAN trở thành gánh thuế phí cao nhất ASIAN.

Đúng hơn, sức dân và sức doanh nghiệp tiếp tục là con bò để nhà nước vắt để nuôi cơ chế trong giai đoạn 4 năm tiếp theo. (VNTB)

—————-

[1] http://m.tienphong.vn/kinh-te/lap-lai-ky-cuong-xoa-xin-cho-1041672.tpo

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Mười Hai 3, 2016

20161203. BÀN VỀ SỬA ĐỔI QUY CHẾ ĐÀO TẠO TIẾN SĨ

ĐIỂM BÁO MẠNG

TIẾN SĨ GIÁ…RẺ VÀ CHUYỆN LÊN CUNG TRĂNG

NGUYỄN TRỌNG BÌNH/ TVN 3-12-2016

Tiến sĩ giá… rẻ và chuyện lên cung Trăng

Sẽ chẳng khó khăn gì với những kẻ thừa tiền muốn có tấm bằng TS để nâng cấp bản thân, nhưng sẽ là rào cản với những nhà khoa học chân chính mà không có tiền bạc. Một sự bát nháo và “vàng thau lẫn lộn” hứa hẹn sẽ lại diễn biến phức tạp hơn?

1-“Chưa có một nước nào đào tạo tiến sĩ rẻ như ở Việt Nam”. Đây là ý kiến của Thứ trưởng Giáo dục và Đào tạo Bùi Văn Ga trong buổi tọa đàm “Nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ” do Bộ GD& ĐT tổ chức cách đây ít ngày [1], muốn nhấn mạnh đến vấn đề kinh phí đào tạo thấp (căn cứ vào mức học phí theo quy định của Nhà nước, ước tính khoảng 15.000.000đ/năm), là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo TS ở Việt Nam.

Nhận định của ông Bùi Văn Ga không sai. Bởi nói cho cùng muốn lên mặt trăng nhất định phải có phi thuyền chứ không thể bám vào rễ cây đa như chú Cuội trong truyền thuyết.

Khách quan mà nói, quy chế đào tạo TS hiện nay rất chặt chẽ chứ không lỏng lẻo như một số người nhận định. Xét riêng về chuyên môn, học thuật, nhiều TS, PGS, GS ở ta cũng rất giỏi. Nhưng khi tham gia đào tạo NCS trong tư cách người hướng dẫn và hội đồng phản biện không hiểu sao có không ít người lại đồng ý và thông qua những công trình, luận án kém chất lượng (mà dư luận đã nhiều lần phản ánh)?Tuy vậy, ý kiến trên của ông Bùi Văn Ga lại vô tình gây ra những tranh luận trái chiều. Có người cho rằng, chi phí đào tạo TS ở Việt Nam không hề rẻ chút nào.  Ngoài mức học phí chung theo quy định của Nhà nước, số tiền họ phải bỏ ra còn lớn hơn rất nhiều. Đó là tiền gì, vì sao phải bỏ ra? Câu hỏi này tôi nghĩ không cần phải nói ra vì mọi người chắc cũng đã biết, nhất là “những người trong cuộc”. Nói khác đi, vấn đề lớn nhất trong việc đào tạo TS ở Việt Nam hiện nay trong nhiều trường hợp thuộc về mối quan hệ giữa khoa học và đạo đức xã hội, đạo đức của những người làm khoa học.

Một vấn đề khác, theo Bộ GD &ĐT, có không ít những người học TS là những quan chức trong bộ máy hành chính Nhà nước chưa một ngày làm nghiên cứu hay tham gia giảng dạy. Mục đích và “động cơ” học tập của những người này đương nhiên không phải để thành nhà khoa học. Thế nhưng cuối cùng họ được công nhận TS, thậm chí sau đó còn được phong GS, PGS. Chất lượng những Gs, TS kiểu này chắc chắn ảnh hưởng đến đội ngũ những nhà khoa học chân chính khác. Giáo sư Hoàng Xuân Sính gọi là “hiện tượng kì dị” ở Việt Nam [2].

2. Được biết, để nâng cao chất lượng đào tạo TS trong nước, sắp tới đây Bộ GD&ĐT sẽ ban hành quy chế trong đó bắt buộc NCS muốn bảo vệ luận án TS phải có bài báo khoa học đăng trên các tạp chí khoa học quốc tế [3]. Cá nhân tôi cho rằng đây chẳng qua chỉ là giải pháp có tính “hớt ngọn” nhất thời nếu không muốn nói là rất ảo tưởng và không thực tế. Vì sao?

Thứ nhất, vấn đề lớn nhất của GD Việt Nam hiện nay (trong đó có đào tạo TS) là người Việt tuy rất ham học nhưng phần nhiều việc học mang nặng tính đối phó. Trong khi đó tâm lý xã hội lại quá coi trọng bằng cấp. Có không ít người người xem các tấm bằng ThS, TS, các danh xưng PGS, GS như món đồ trang sức để nâng giá trị bản thân. Ví như, trong quy chế đào tạo TS hiện nay có quy định về ngoại ngữ rất khắt khe, như một “hàng rào” để kiểm soát chất lượng.

Nhưng thực tế ai dám cam đoan sắp tới đây việc quy định phải có bài trên tạp chí quốc tế trước khi bảo vệ luận án TS sẽ không đi vào vết xe đổ như quy định về “hàng rào” ngoại ngữ? Nên nhớ rằng muốn đăng bài trên tạp chí quốc tế ngoài yếu tố chuyên môn thì phải trả rất nhiều tiền? Sẽ chẳng khó khăn gì với những kẻ thừa tiền muốn có tấm bằng TS để nâng cấp bản thân, nhưng sẽ là rào cản với những nhà khoa học chân chính mà không có tiền bạc. Một sự bát nháo và “vàng thau lẫn lộn” hứa hẹn sẽ lại diễn biến phức tạp hơn?

Thứ hai, ba bài báo đăng trên tạp chí quốc tế mới được bảo vệ luận án TS ư? Nói cho cùng cũng chẳng giải quyết được gì nếu sự nghiệp nghiên khoa học của ông TS cũng… kết thúc luôn ngay sau đó? Khoa học từ thực tiễn cuộc sống mà ra và thực tiễn cũng là nơi kiểm nghiệm tính xác thực và hiệu quả nghiên cứu khoa học. Bạn bè quốc tế chỉ đánh giá và xem trọng chúng ta dựa trên thực tế về sự phát triển phồn thịnh của đất nước; sự văn minh, văn hóa.

Thế nên, thiển nghĩ việc công bố các công trình khoa học, trước mắt chỉ nên là một sự khuyến khích chứ không nên bắt buộc cứng nhắc. Việc bắt buộc chỉ nên dành cho một số đối tượng là những nhà khoa học thuộc thành phần tinh hoa đang công tác tại các trường ĐH trọng điểm quốc gia cũng như một số ngành khoa học cơ bản và mũi nhọn có đóng góp thiết thực và hiệu quả vào sự phát triển chung của toàn xã hội.

3. Tóm lại, công bố công trình trên tạp chí quốc tế là việc đương nhiên cần làm, thậm chí là làm thường xuyên trong xu thế hội nhập. Tuy nhiên, tất cả phải có lộ trình và tầm nhìn chiến lược dài hơi chứ không nên nóng vội bằng những cơ chế và chính sách xơ cứng. Nhìn vào mặt bằng chung về tình hình nghiên cứu khoa học ở Việt Nam hiện nay, thiển nghĩ vấn đề cần làm trước tiên và quan trọng nhất là phải  tạo môi trường thông thoáng để các nhà khoa học được tự do trong nghiên cứu, tự do học thuật, tự do theo đuổi đam mê.

—————-

Chú thích nguồn tham khảo:

[1]: “Chất lượng đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam thấp: nguyên nhân do đâu?” Xem tại: http://dantri.com.vn/giao-duc-khuyen-hoc/chat-luong-dao-tao-tien-si-viet-nam-thap-nguyen-nhan-do-dau-20161110121910596.htm

[2]: “Học Thạc sĩ, Tiến sĩ ở Việt Nam là một hiện tượng kỳ dị”. Xem tại: http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/Hoc-Thac-si-Tien-si-o-Viet-Nam-la-mot-hien-tuong-ky-di-post172393.gd

[3]: “Muốn bảo vệ tiến sĩ phải có công bố khoa học quốc tế”. Xem tại: http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/khoa-hoc/muon-bao-ve-tien-si-phai-co-cong-bo-khoa-hoc-quoc-te-339288.html

Nguyễn Trọng Bình

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC, CÔNG BỐ HAY KHÔNG ?

NGUYỄN  LAN HƯƠNG/ GD 4-12-2016

Tác giả Nguyễn Lan Hương. (Ảnh: Tác giả cung cấp)

Tôi hiện đang làm nghiên cứu sinh về giáo dục đại học tại Mỹ, chuyên ngành quốc tế hóa giáo dục, luôn ủng hộ những cách tư duy và quản lý đào tạo trong giáo dục, không chỉ với cấp học tiến sỹ, mà với tất cả các cấp học, đi theo chuẩn mực mà thế giới đang thực hiện và công nhận. 

Về những dự thảo cho việc đào tạo tiến sỹ và bảo vệ luận án tiến sỹ được nêu trong bài của Vietnamnet [1], có mấy điểm tôi muốn chia sẻ để tất cả chúng ta, từ những nhà làm chính sách, đến các Tiến sỹ và Giáo sư hiện đã được công nhận và những người đang làm nghiên cứu để có bằng Tiến sỹ trong tương lai cùng suy nghĩ: 

1. Việc đưa ra các quy định mới này về đào tạo tiến sỹ và bảo vệ luận án có khả thi cho đa số chất lượng học và làm nghiên cứu cơ bản của những người làm nghiên cứu ở Việt Nam hay chưa? 

Lý do của câu hỏi: việc có quy định mà không thực hiện được, sẽ rất dễ dẫn đến “hàng giả” dưới mọi hình thức.  

Ví dụ việc công bố các nghiên cứu ở các tạp chí “peer-review” (tạm dịch: bài nghiên cứu được đánh giá bởi chuyên gia trong chuyên ngành) giả ở Trung Quốc hiện đang được nêu rất nhiều trên báo chí quốc tế. [2].  

Bản thân chúng ta, trong suốt thời gian vừa qua, đều phản ánh thực trạng có quá nhiều tiến sỹ, nhưng là ‘giấy” và không có năng lực nghiên cứu thực sự.  

Vậy, mấu chốt của quy định mới sẽ cần tập trung vào chất lượng đào tạo kỹ năng nghiên cứu khoa học theo chuẩn quốc tế, trước khi nói đến công bố quốc tế.

Vì nếu không, cá nhân tôi nghĩ liệu sẽ có dịch vụ làm nghiên cứu và công bố “giả” như bên Trung quốc hay không, khi các tiêu chuẩn đặt ra chưa phù hợp với thực lực của đa số những người đã có bằng Giáo sư – Tiến sỹ (xin được nêu ra dưới đây) cũng như những người đang học và làm nghiên cứu để trở thành tiến sỹ ở Việt Nam.

Và con số này chưa bao gồm cụ thể là bao nhiêu phần trăm có liên kết thực hiện nghiên cứu và công bố cùng với các đối tác nước ngoài.  2. Nếu làm bản nghiên cứu năng lực thực sự của các Giáo sư và Tiến sỹ hiện nay của chúng ta theo tiêu chuẩn có công bố quốc tế để bảo vệ luận án, có lẽ chỉ khoảng dưới 40% Giáo sư – Tiến sỹ hàng năm có khả năng hướng dẫn luận án tiến sỹ có thể đạt được tiêu chí mà Bộ Giáo dục đang dự thảo, theo tổng kết của Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước 2016 [3]. 

Vậy, cơ sở khoa học nào và có thực tiễn nào trên thế giới để chúng ta quyết tâm cao cho quy định có công bố quốc tế mới được bảo vệ luận án tiến sỹ?

Nó có thực sự đặc thù cho tất cả các chuyên ngành? Nó có thực sự giúp cho vấn nạn tiến sỹ “giấy” của chúng ta được cải thiện? 

Trong nghiên cứu khoa học, tôi tin tưởng mãnh liệt rằng việc thành hay bại của một nghiên cứu sinh dựa khá nhiều vào năng lực đào tạo và hướng dẫn của thầy cô hướng dẫn.  

Vậy, giả sử những gì dự kiến cho đào tạo tiến sỹ và công bố quốc tế là quyết tâm thực hiện, ai sẽ có thể dạy và hướng dẫn làm nghiên cứu, công bố quốc tế khi bản thân các Giáo sư – Tiến sỹ hiện tại chưa thực hiện được điều này?

Liệu có công bằng cho thế hệ học tiến sỹ sắp tới ở Việt Nam so với chính những người thầy Giáo sư – Tiến sỹ hướng dẫn họ không?

Nếu nhìn đến thực tế của Trung Quốc mà WJS nêu trên đây, và còn nhiều ví dụ khác trên toàn thế giới, sẽ có một và nhiều hệ thống dịch vụ để giúp các bạn nghiên cứu công bố quốc tế, mà không hề có giá trị thực chất. 3. Còn một điều sẽ chưa rõ là công bố trên tạp chí nào sẽ được coi là quốc tế?

Cá nhân tôi muốn nhìn vào đào tạo tiến sỹ và làm nghiên cứu khoa học, công bố khoa học một cách thực tế hơn.

Hãy nhìn đến những ví dụ đau đớn mà bản thân ở các nước phát triển đã phải thốt lên, “công bố” hay là “chết” [4].

Điều đó để nói lên một thực tế rằng, việc đặt ra công bố quốc tế trong môi trường học thuật là cần thiết, nhưng hãy cẩn trọng với tính hai mặt của nó.

Đừng thái quá, vì nếu không, các nhà làm nghiên cứu hoặc phải tìm mọi cách để công bố hoặc phải sử dụng “tạp chí giả” thì đều không có tác dụng gì cho nâng cao đào tạo tiến sỹ ở Việt Nam.

Hơn thế nữa, khi nhìn vào thực tiễn đào tạo tiến sỹ của Mỹ, phải nói ngay là tất cả các ngành khoa học xã hội có mức công bố quốc tế thấp hơn rất nhiều so với khoa học kỹ thuật.  

Bản thân các giáo sư Mỹ khuyến khích chúng tôi, những nghiên cứu sinh, hãy viết và nỗ lực đăng bài nghiên cứu trước hết tại trường, tại các hội thảo chuyên ngành từng khu vực của Mỹ và tại các Hiệp hội.  

Lấy ví dụ về việc được báo cáo bài nghiên cứu tại một hội thảo của Hiệp Hội Nghiên cứu Giáo dục Mỹ (AERA), hàng năm có hàng chục nghìn bài nộp, nhưng con số được xét duyệt và trình bày chỉ dừng ở một hay hai trăm bài. Chưa nói đến công bố quốc tế!

Với các tạp chí chuyên ngành quốc tế chuyên cho khoa học xã hội (xin không được nói đến những chuyên ngành khoa học kỹ thuật vì tôi không biết), một giáo sư thỉnh giảng (assistant professor) của tôi có đề cập đến thời gian khoảng 9 tháng – 2 năm cho một bài phê duyệt để được đăng, và rất phụ thuộc vào việc bạn là ai trong môi trường nghiên cứu đó để được đánh giá bài viết.

Vậy, việc làm nghiên cứu mất khoảng 1 năm hoặc hơn, viết bài và cố gắng để được đăng bài (nếu may mắn) thêm 1 -2 năm nữa, trong đó việc công bố những nghiên cứu về khoa học xã hội của Việt Nam trên tạp chí khoa học quốc tế thuộc chuyên ngành nào để được quan tâm mà đăng? 

Hãy thực tế và nghiêm túc có nghiên cứu khoa học về những quy trình đào tạo tiến sỹ, bao gồm cả việc nghiên cứu và công bố trên các tạp chí quốc tế ở các nước, trong đó có tính đến những chuyên ngành đặc thù, để có thể đưa ra các quy định hay đề xuất phù hợp trong nội dung đào tạo tiến sỹ.  

Hãy soạn thảo các quy định để nó không còn là trên ‘giấy” nữa, vì bản chất của nghiên cứu khoa học là một hành trình dài, và công bố chỉ là một đoạn trong hành trình đó thôi.

Tài liệu tham khảo:

[1] http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/khoa-hoc/muon-bao-ve-tien-si-phai-co-cong-bo-khoa-hoc-quoc-te-339288.html

[2] http://blogs.wsj.com/chinarealtime/2015/08/25/fake-peer-review-scandal-shines-spotlight-on-china/

[3] http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/khoa-hoc/chua-toi-40-gs-pgs-nam-2016-co-cong-bo-khoa-hoc-quoc-te-338106.html

[4] publish or perish: http://newsroom.ucla.edu/releases/pressure-to-publish-or-perish-may-discourage-innovative-research-ucla-study-suggests

Nguyễn Lan Hương

 

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Mười Hai 2, 2016

20161202. MỘT CÁCH NHÌN NHẬN CÁC TỪ VỰNG MỚI TRONG TIẾNG VIỆT

ĐIỂM BÁO MẠNG

CÓ NÊN ĐƯA ‘CHẢNH’, ‘NỔ’ VÀO TỪ VỰNG TIẾNG VIỆT?

ThS ĐỖ THÀNH DƯƠNG /VNN 2-12-2016

Có nên đưa “chảnh”, “nổ” vào từ vựng tiếng Việt?

Giới trẻ đang góp phần làm phong phú thêm tiếng Việt

(Ảnh Lê Huyền)

Giới trẻ với đặc trưng cố hữu là năng động, nhanh nhạy, ham thích cái mới cũng đang góp phần làm phong phú thêm tiếng Việt qua cách sử dụng từ ngữ một cách sáng tạo, linh hoạt trong những ngữ cảnh cụ thể.

Thời gian gần đây, trên các diễn đàn truyền thông và các hội thảo khoa học có nhiều ý kiến cho rằng tiếng Việt ngày càng mất chuẩn, sai chuẩn, đang bị “vẩn đục” và kêu gọi mọi người tìm cách, hiến kế để “cứutiếng Việt.

Thậm chí có nhà chuyên môn còn cho rằng tiếng Việt đang trong tình trạng “đáng báo động về việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”, và quy kết một trong những nguyên nhân là do “giới trẻ”, “ngôn ngữ tuổi teen”…Nhiều nhà chuyên môn cũng lên tiếng cảnh báo hiện tượng dùng từ tiếng Việt tùy tiện, làm méo mó, lệch chuẩn tiếng Việt với những từ ngữ như: máu, sung, vãi, lộ hàng, tự sướng…

Hàng loạt từ mới đã xuất hiện

Quả nhiên, hiện nay tình trạng sử dụng tiếng Việt một cách tùy tiện – đặc biệt là trong một bộ phận giới trẻ – là không thể chối cãi, phủ nhận.

Tuy nhiên, theo tôi, giới trẻ với đặc trưng cố hữu là năng động, nhanh nhạy, ham thích cái mới cũng đang góp phần làm phong phú thêm tiếng Việt qua cách sử dụng từ ngữ một cách sáng tạo, linh hoạt trong những ngữ cảnh cụ thể.

Và sẽ thật là bất công nếu chúng ta cứ khăng khăng phiến diện, khe khắt nhìn nhận giới trẻ chỉ ở góc độ là “thủ phạm” làm “vẩn đục” tiếng mẹ đẻ, mà không hề nhìn thấy những đóng góp của họ trong việc đang từng ngày làm giàu đẹp thêm tiếng Việt.

Nhiều từ ngữ được giới trẻ dùng với nét nghĩa mới hết sức thú vị, độc đáo, nên chăng cần phải ghi nhận, xem xét bổ sung vào từ vựng tiếng Việt?

Một số từ ngữ tuy mới xuất hiện trong thời gian ngắn, nhưng tần số sử dụng tăng vọt đến kinh ngạc, không chỉ hạn hẹp trong phạm vi giới trẻ, mà lan tỏa đến mọi giới trong xã hội, hầu như không mấy ai là không hiểu theo nét nghĩa chuyển mới định hình ấy.

Chẳng hạn như từ “teens” khi gia nhập vào vốn từ tiếng Việt thì đều được hiểu nghĩa rộng hơn, chỉ chung cho cả giới trẻ chứ không hạn định như nghĩa nguyên gốc trong tiếng Anh là tuổi thanh thiếu niên, tuổi thanh xuân (từ 13 – 19) tuổi.

Nổ”, “bệnh nổ” với nghĩa là nói khoác, khoe khoang dối trá, ba xạo, khoe mẽ, thậm xưng về những cái mình không có.

Hay từ “chảnh” – tự phụ, kênh kiệu, kiêu căng, cho mình là hơn người, coi thường người khác. Đi kèm theo từ “chảnh” còn có “chảnh chó” (nghĩa phê phán, tiêu cực), “sang chảnh” (nghĩa khen ngợi, tích cực).

Ngoài ra còn nhiều từ ngữ khác được dùng với nghĩa mới, có liên quan hoặc hoàn toàn thoát ly với nghĩa gốc của từ/ yếu tố tạo từ như: “sống ảo” – khoe khoang (đồ vật, nhan sắc, cuộc sống…) thái quá trên mạng internet, trong khi thực tế hoàn toàn không phải như vậy, thậm chí còn ngược lại.

Sửu nhi” (trẻ trâu) là một từ Hán – Việt, chỉ người có tính cách trẻ con, thiếu chín chắn, thích thể hiện ra vẻ người lớn, hành động thái quá, đôi khi là lố bịch… trước một hoàn cảnh, sự vật – hiện tượng nào đó.

Bá đạo” là một từ Hán – Việt mang ý nghĩa: không có đối thủ, không ai sánh bằng (bá chủ một vùng).

Ném đá” là hành động gay gắt, kịch liệt phản đối một người, một vấn đề hay một hành động nào đó với thái độ bất bình, bức xúc cao độ, hoặc chỉ sự đả kích tập thể vào một đối tượng cụ thể, có những hành động làm trái ý, chướng mắt (thông thường là ở trên mạng) bằng cách nói móc mỉa, miệt thị, chửi bới.

Chém gió” chỉ cách nói chuyện huyên thuyên, phét lác, nói không có cơ sở, mục đích mua vui cho mọi người hoặc nhằm cường điệu một sự việc nào đó (Có ý kiến cho rằng xuất phát từ hình ảnh người nói thường kèm hành động tay vung lên, chém xuống theo nhịp điệu lời nói, như là chém trong không khí.).

Từ “tám” hay tổ hợp “bà tám” để chỉ việc tán gẫu kéo dài, chỉ người nhiều chuyện, lắm lời.

Gấu” (người yêu), “diễn/ diễn sâu” (đóng kịch một cách giả tạo, làm ra vẻ tựa như người thật, việc thật), “của chùa” (đồ vật, của cải không phải của mình, nên dùng tự nhiên, thoải mái, không biết tiếc, không có trách nhiệm), “chặt chém/ chặt đẹp/ chém đẹp” (bán giá quá đắt, bán với giá cắt cổ), “bèo” (giá cả quá rẻ, quá thấp, ví như bèo, hàm ý coi thường), “cháy  chợ” (chợ hết sạch loại hàng nào đó, không còn để bán ra trong khi còn nhiều người muốn mua)…

Những từ ngữ với cách hiểu sáng tạo, cách chuyển nghĩa phong phú dựa vào nhiều biện pháp tu từ như ẩn dụ, hoán dụ, thậm xưng… mà giới trẻ đang sử dụng nêu trên, hiện có thể đang là từ tiếng lóng được sử dụng phổ biến chỉ trong phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (khẩu ngữ).Nên công bằng với giới trẻ

Nhưng tôi tin chắc rằng – theo quy luật tiếp biến và đào thải tất yếu của mọi ngôn ngữ – qua quá trình sàng lọc của thời gian, chắc chắn sẽ có nhiều từ đang dần từng bước gia nhập một cách tự nhiên vào vốn từ của chúng ta, tham gia vào các phong cách chức năng ngôn ngữ khác (đặc biệt là phong cách ngôn ngữ nghệ thuật), góp phần phát triển từ vựng tiếng Việt.

Cho nên, để cho thỏa đáng, xã hội và giới chuyên môn bên cạnh việc phê phán, cảnh báo những từ ngữ/ cách dùng từ theo nghĩa chuyển có tính dung tục, phản cảm, làm méo mó tiếng Việt…, cũng nên nhìn nhận giới trẻ nước nhà ngày nay dưới góc độ là một trong những nhân tố đang ngày ngày góp phần làm đẹp giàu thêm tiếng Việt.

Họ đang trên hành trình tiếp cận với lời nhắn nhủ, kỳ vọng của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam – trong một Hội thảo khoa học Quốc gia về tiếng Việt trong thời gian gần đây: “Giữ gìn sự trong sáng đi đôi với phát triển, làm mới tiếng Việt. Tuy nhiên, sự tiếp thu phải có chọn lọc và không đánh mất bản sắc”.

ThS. Đỗ Thành Dương

Trưởng bộ môn Ngôn ngữ, Trường Dự bị Đại học Dân tộc Trung ương Nha Trang

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Mười Hai 1, 2016

20161201. BÀN VỀ Ý TƯỞNG TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

ĐIỂM BÁO MẠNG

BÀN VỀ Ý TƯỞNG TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

NGÔ THẾBÍNH/ ngothebinh’s blog 1-12-2016

Kết quả hình ảnh cho động cơ vĩnh cửu

Một ý tưởng về ‘động cơ vĩnh cửu’ [5]

 Trong cuộc Tọa đàm nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ ngày 10/11/2016 tại Hà Nội, GS Trần Văn Nhung tổng thư ký Hội đồng học hàm giáo sư khi đề cập đến hiện tượng ‘đạo văn’ của luận án tiến sĩ, cho rằng:  “Một người sao chép hoàn toàn 30 trang luận án không nguy hiểm bằng trường hợp dù không sao chép hoàn toàn văn bản, nhưng lại ăn cắp ý tưởng của người khác để diễn đạt bằng giọng văn của mình.” [1].  Vậy ý tưởng là gì ? Các loại ý tưởng ? vai trò của ý tưởng trong nghiên cứu khoa học? Xin có vài lời bàn để các NCS tham khảo.

   Định nghĩa của ‘ý tưởng’: Ý tưởng là suy nghĩ bước đầu cho hành động dự định tiến hành bởi một người nào đó.

Với định nghĩa trên xin được lưu ý:

– Ý tưởng là thuật ngữ Hán-Việt (意 想), Trong đó:  ý ()- suy nghĩ- tưởng ()- dự định[1]. Thuật ngữ tương đương  trong tiếng Anh là idea.Thực ra: idea có nguồn gốc tiếng Hy Lạp, lần đầu tiên được nêu ra bởi nhà triết học cổ đại Platon (427-347 TCN), với nghĩa không hoàn toàn như đã nêu, nghĩa chung nhất còn giữ lại là một bước suy nghĩ chủ quan của mỗi người [3].

– Con người luôn suy nghĩ, song không phải suy nghĩ nào cũng mang ý tưởng tức là dự định (mong muốn) làm điều gì đó trong tương lai.

– Vì là suy nghĩ bước đầu nên ý tưởng thường chỉ là phác họa, chưa hòan chỉnh thậm chí chủ quan, không khả thi. Do đó Ý tưởng cũng không đồng nhất với mục đích của chủ thể với nghĩa trả lời đầy đủ cho các câu hỏi ‘kết quả cuối cùng là gi’, ‘phục vụ cho ai’

– Ý tưởng cũng không phải là lý tưởng với nghĩa là dự định sống và hành động của chủ thể trên cơ sở tuân thủ một triết lý cao cả nào đó.

  Các loại ý tưởng

  Theo lĩnh vực tư duy có thể tạm chia ra: ý tưởng đời sống (mua sắm, thưởng thức nghệ thuật, tham quan du lịch, v.v…); ý tưởng kinh doanh (khởi nghiệp, tạo sản phẩm-dịch vụ mới có tính khác biệt, cạnh tranh, tăng doanh số lợi nhuận…); ý tưởng nghệ thuật ( tạo hình thức mới thể hiện các tác phẩm âm nhạc, sân khấu, điện ảnh…có sức thu hút khán giả); ý tưởng khoa học (tạo dựng hay hoàn thiện cơ sở khoa học cho những giả thuyết của các loại khoa học thường thấy trong các công trình nghiên cứu, luận án tiến sĩ). Điểm chung của các loại ý tưởng  trên là tính dự kiến, nhưng có sự khác biệt nhất định về tính khả thi, tính bảo mật, tính phức tạp…đặt ra cho chủ thể ý tưởng.

  Theo tính khả thi có thể chia ra: ý tưởng tốt (good idea) và ý tưởng tồi (bad idea)- Trong ý tưởng khoa học, ý tưởng tồi đồng nghĩa với không mới hay đi ngược lại với chân lý, quy luật. Ví dụ điển hình cho ý tưởng khoa học tồi là ý tưởng tạo ra ‘động cơ vĩnh cửu’ vì nó không xét tới định luật bảo tồn và biến hóa năng lượng, mặc dù ngay từ thế kỷ XII đã thu hút khá nhiều người nghiên cứu mà không thành công [5]

   Vai trò của ý tưởng trong nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu khoa học là hoạt động của con người nhằm tìm kiếm những điều mới, sáng tạo từ đó hoàn thiện những hiểu biết trước đó về thế giới, ứng dụng  có hiệu quả vào từng lĩnh vực của cuộc sống.  Trong phương pháp luận nghiên cứu khoa học [4], ý tưởng được coi là xuất phát điểm của mọi khoa học. Trong quy định làm luận án tiến sĩ của Đại học Mỏ Maskva Liên Xô trước đây mà tôi phải thực hiện thì  trong phẩn Mở đầu phải nêu được ý tưởng khoa học của người nghiên cứu đồng thời với xác định mục đích, đối tượng nghiên cứu. Điều đó không chỉ đề cao vai trò xuất phát điểm của tư duy khoa học mà còn là một yêu cầu đào tạo người làm khoa học. Người làm khoa học ở trình độ tiến sĩ phải là người tiên phong đưa ra ý tưởng, thậm chi ‘ấp ủ’ trước khi làm NCS, càng  không phải ‘ăn cắp’ ý tưởng của người khác. Nếu chỉ ‘ăn cắp’ ý tưởng thỉ không chỉ thiếu đạo đức khoa học mà không làm khoa học phát triển được. Đó  cũng là lý do mà tôi rất đồng tình với ý kiến của GS Trần Văn Nhung đã nêu trên.  

   Kết luận: Tuy nhiên bản chất của ý tưởng là dự định, mong muốn chủ quan nên không phải ý tưởng nào cũng có giá trị khoa học, nếu không được chứng minh đầy đủ trong luận án, không được ‘cọ sát’ với thực tiễn, không có thầy hướng dẫn và Hội đồng chấm đủ năng lực . Giải quyết những vấn đề đó tôi nghĩ cần chờ kết quả nghiên cứu sửa đổi quy chế đào tạo tiến sỹ mà Bộ GDĐT đang khẩn trương tiến hành và  công bố nay mai [6,7] .

   Tài liệu tham khảo

 1- Sao chép hoàn toàn 30 trang luận văn không nguy hiểm bằng ăn cắp ý tưởng (GD 12/11/2016)-
2 – Hán –Việt từ điển trích dẫn:
http://nguyendu.com.free.fr/hanviet/
3- Ý tưởng:
 https://vi.wikipedia.org/wiki/%C3%9D_t%C6%B0%E1%BB%9Fng
4- Vũ Cao Đàm (2009)- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
NGHIÊN cứu KHOA Học – e-Learning System
5 – Động cơ vĩnh cửu – Wikipedia tiếng Việt
6- Luận án tiến sĩ phải thực sự là công trình khoa học (VNN 22/11/2016)
7-  Đào tạo tiến sĩ: Có ‘danh sư’ mới ‘xuất cao đồ’  (VNN 30/11/2016)

 ĐÀO TẠO TIẾN SĨ: CÓ ‘DANH SƯ’ MỚI XUẤT ‘CAO ĐỒ’

LÊ VĂN/ VNN 30-11-2016

Nâng cao yêu cầu với chính những người hướng dẫn, tuyển sinhtiến sĩ gắn với các đề tài nghiên cứu mà người hướng dẫn tham gia hoặc chủ trì để có thể trả lương cho nghiên cứu sinh (NCS) được coi là những giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ Việt Nam.


Thầy hướng dẫn cũng cần có công bố quốc tế

Cùng với việc nâng chuẩn đối với NCS, nhiều ý kiến cũng đồng tình rằng, cần phải nâng cao yêu cầu đối với bản thân những người hướng dẫn NCS. Đây cũng là một điểm mới trong dự thảo quy chế đào tạo tiến sĩ mà Bộ GD-ĐT đang soạn thảo.

Theo TS Lê Tiến Dũng, một người có nhiều thời gian trải nghiệm tại các cơ sở nghiên cứu đào tạo sau đại học ở nước ngoài cho rằng, đối với những người hướng dẫn NCS ở lĩnh vực KHTN-KT thì ít nhất phải đảm bảo 2 yêu cầu bắt buộc: Thứ nhất, phải có công bố quốc tế phù hợp với đề tài nghiên cứu của NCS và thứ hai là phải có đề tài nghiên cứu gắn trực tiếp với đề tài nghiên cứu của NCS.
Chia sẻ quan điểm này, TS Phạm Thanh Phong (Trường ĐH Tôn Đức Thắng) kiến nghị những yêu cầu cụ thể và “khắt khe” hơn.Ông Dũng cho rằng, tại các cơ sở đào tạo nước ngoài, người ta không đặt ra các yêu cầu đối với người hướng dẫn NCS bởi lẽ, tại các quốc gia này, đã là giáo sư tại một trường đại học thì “có thừa” tiêu chuẩn để hướng dẫn NCS. Tuy nhiên, ông Dũng thừa nhận, nên đặt ra yêu cầu này trong tình hình hiện tại của Việt Nam.

Ông Phong cho rằng, điều kiện đối với người hướng dẫn tối thiểu phải là tác giả chính của ít nhất 1 công trình khoa học được công bố trên các tạp chí ISI (đối với ngành KHTN-CN) hoặc trên các tạp chí Scopus (đối với ngành KHXH&NV) và hiện đang chủ trì một đề tài cấp trường, viện trở lên.

Ông Phong cũng kiến nghị, ngoài người hướng dẫn, các cơ sở đào tạo có chương trình đào tạo tiến sĩ cũng cần đảm bảo những điều kiện nhất định. “Cơ sở đào tạo NCS hàng năm phải công bố hướng nghiên cứu của các giảng viên (trình độ TS, PGS, GS) và thông báo tuyển NCS theo hướng đó. Ngoài điều kiện bắt buộc theo quy định của Bộ GDĐT, cơ sở đào tạo có thể có thêm các yêu cầu khác nhưng không được trái và thấp hơn chuẩn quy định của Bộ” – ông Phong khẳng định.

TS Trần Thành Nam (Trường ĐH Giáo dục, ĐHQGHN) cũng cho rằng, nếu như các thầy hướng dẫn mà không có công bố quốc tế hay không có các dự án, đề tài nghiên cứu thì không nên nhận NCS. Ông Nam đề xuất, số lượng NCS cũng nên hạn chế theo định mức nghiên cứu để có chất lượng, không thể có chuyện các thầy dạy NCS để kiếm tiền như dạy tại chức được.

Bên cạnh đó, ông Nam cho rằng, việc các thầy hướng dẫn có dự án, đề tài nghiên cứu cũng như đã từng có công bố quốc tế thì việc NCS có thể có công bố quốc tế trước khi bảo vệ luận án là hoàn toàn có khả năng vì hoàn toàn có thể đứng tên chung với thầy trong một công trình nghiên cứu.

Tuy vậy, một số ý kiến cũng cho rằng, việc yêu cầu người hướng dẫn có một lý lịch khoa học tốt như có công bố quốc tế là hoàn toàn chính đáng. Tuy nhiên, việc yêu cầu thầy hướng dẫn phải chủ trì một đề tài nghiên cứu vì với cơ chế hiện tại không phải ai cũng được chủ trì đề tài dù năng lực chuyên môn có thừa để hướng dẫn nghiên cứu sinh.

Tuyển NCS theo các đề tài nghiên cứu

TS Lê Tiến Dũng chia sẻ, tại nhiều quốc gia phát triển, các giáo sư hay cơ sở đào tạo chỉ tuyển nghiên cứu sinh khi có các đề tài nghiên cứu chứ không phải là có NCS rồi mới đi tìm các đề tài, dự án nghiên cứu để làm.

Theo đó, khi có các đề tài, dự án nghiên cứu, các giáo sư hoặc các cơ sở đào tạo có thể đăng tải các thông tin “tuyển sinh” với đầy đủ các yêu cầu cũng như chế độ đãi ngộ đối với nghiên cứu sinh.

Những người làm tiến sĩ theo cách này sẽ gắn liền với đề tài nghiên cứu của giáo sư hướng dẫn và họ sẽ được trả lương theo quy định của các cơ sở đào tạo để thực hiện công việc nghiên cứu của mình.
Ông Dũng cũng chia sẻ, hiện tại, một bộ phận người hướng dẫn NCS ở Việt Nam đã thực hiện việc trả lương cho nghiên cứu sinh và đề tài của NCS nằm trong đề tài dự án của thầy. Đây là hướng đi đúng, cần phát huy.Ông Dũng cho rằng, việc các GS trả lương cho nghiên cứu sinh theo các đề tài nghiên cứu là một cách để giải quyết vấn đề kinh phí đào tạo tiến sĩ còn thấp hiện nay ở Việt Nam đồng thời tạo điều kiện để những người làm tiến sĩ có thể dành toàn bộ thời gian cho việc nghiên cứu.

Như Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ quốc gia (NAFOSTED) hiện nay đã có quy định mức lương cho các nghiên cứu sinh của đề tài. Đây là một quy định tốt có tác dụng nâng cao chất lượng của nghiên cứu sinh” – ông Dũng khẳng định.

Theo TS Dũng để thúc đẩy phát triển hướng đi này, các chương trình nghiên cứu quốc gia nói chung và đề tài khoa học cấp Bộ trở lên nên có một hướng dẫn chung về đào tạo NCS và trả lương cho họ từ đề tài.

Thực tế chúng ta đào tạo tiến sĩ để làm nghiên cứu vì thế sẽ rất tốt nếu như nghiên cứu sinh đó nghiên cứu và phát triển bản thân trong một đề tài lớn của thầy hướng dẫn” – ông Dũng khẳng định.

Đồng tình với quan điểm này, TS Nguyễn Nam Trân (Trường ĐH KHTN, ĐHQG TP.HCM) cho rằng, việc GS trả tiền lương cho NCS là chuyện bình thường ở nước ngoài bởi lẽ, ở các quốc gia này, học tiến sĩ phải toàn thời gian (thường học tập/làm việc trên 8 tiếng 1 ngày, 7 ngày 1 tuần).

Do đó, nếu GS muốn tuyển sinh viên từ các các nước đang phát triển thì phải cung cấp tiền ăn ở, sinh hoạt để sinh viên từ mấy nước này chuyển qua sinh sống, làm việc và học tập ở nước của GS do mấy sinh viên này rất nghèo.

Còn nếu GS muốn tuyển sinh viên từ nước của GS đang ở thì phải trả lương, mà lương cao nữa là khác vì sinh viên đã tốt nghiệp đại học và đạt được đủ tiêu chuẩn để học tiến sĩ thì cũng thuộc dạng khá giỏi và hoàn toàn có khả năng kiếm được việc làm lương tương đối cao mà làm việc thì thoải mái hơn học tiến sĩ nhiều.

Muốn người ta bỏ làm để đi học tiến sĩ thì ngoài người ấy có đam mê, GS cũng phải trả cho người ấy một mức lương tương đối phù hợp với thời gian người ta bỏ ra” – TS Trân chia sẻ. 

TS Trân cũng cho rằng, ở Việt Nam hiện nay, việc GS trả lương cho NCS cũng sẽ giúp những người làm tiến sĩ dành toàn bộ thời gian cho việc nghiên cứu, từ đó cho ra kết quả nghiên cứu tốt hơn thay vì đào tạo tiến sĩ theo kiểu tại chức, bán thời gian và không được trả lương như hiện nay.

Lê Văn

 ‘ĐÀO TẠO TIẾN SĨ CHỈ DÀNH CHO NHỮNG NGƯỜI THỰC TÀI, THỰC LỰC’

PV HÀ PHƯƠNG / VNN 22-11-2016

'Đào tạo tiến sĩ chỉ dành cho người thực tài, thực lực'

 Bà Nguyễn Thị Kim Phụng – Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học (Bộ GD-ĐT) cho biết như vậy khi đề cập tới những điểm mới của dự thảo quy chế đào tạo tiến sĩ.

Theo bà Phụng,Bộ GD-ĐT đã triển khai nhiều hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ từ trước đó.

Cụ thể, Bộ đã bắt tay vào điều chỉnh quy chế đào tạo tiến sĩ hiện hành. Đây được coi là hành lang quan trọng nhất trước khi triển khai những bước tiếp theo trong thực tiễn.

Cấu trúc của quy chế mới sẽ ngắn gọn hơn, đảm bảo nâng cao tự chủ và trách nhiệm giải trình của các cơ sở đào tạo nhưng với các yêu cầu cụ thể về ngoại ngữ, minh chứng về công bố khoa học cao hơn đối với ứng viên dự tuyển, nghiên cứu sinh, người hướng dẫn.

Ngoài ra, quy chế cũng sẽ bổ sung những vấn đề liên quan đến trách nhiệm của cơ sở đào tạo trong việc quản lý NCS, trách nhiệm của Hội đồng chấm luận án, của người hướng dẫn và nghiên cứu sinh trong trường hợp có khiếu kiện về nội dung và chất lượng của luận án.

Yêu cầu chuẩn ngoại ngữ từ đầu vào

Bà có thể nói rõ hơn các yêu cầu cụ thể về ngoại ngữ, minh chứng khoa học công bố cao hơn đối với ứng viên dự tuyển, nghiên cứu sinh?

Khác với quy chế hiện hành quy định ngoại ngữ bắt buộc ở đầu ra, quy chế mới bắt buộc ngoại ngữ phải đạt chuẩn nhất định ngay từ đầu vào. 

Mặt khác qui chế mới cũng đòi hỏi nghiên cứu sinh phải chứng minh được năng lực ban đầu về nghiên cứu khoa học của mình thông qua những công trình đã công bố trong nước và quốc tế.

Ngoài ra, để đảm bảo đầu ra, quy chế cũng yêu cầu nghiên cứu sinh phải có công bố quốc tế trên các tạp chí khoa học chuyên ngành có phản biện hoặc công bố công trình trên các kỷ yếu hội thảo quốc tế có phản biện trong quá trình làm nghiên cứu sinh tại cơ sở đào tạo và trước thời điểm luận án được thông qua ở đơn vị chuyên môn.

Quy định mới về thầy hướng dẫn

Để có một tiến sĩ giỏi, ngoài các yếu tố đầu vào, đầu ra còn cần đề cập đến vai trò của người hướng dẫn. Một người hướng dẫn có trình độ thôi chưa đủ mà phải còn phù hợp với vấn đề mà người làm tiến sĩ lựa chọn để nghiên cứu. Lâu nay đôi khi điều này bị “bỏ qua”. Quy chế mới thay đổi gì liên quan đến vai trò của người hướng dẫn?

Quy chế mới quy định người hướng dẫn phải là người chủ trì các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở hoặc tham gia nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ trở lên, là tác giả hoặc đồng tác giả của các công trình công bố quốc tế thuộc lĩnh vực nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án của nghiên cứu sinh.

Đó còn phải là cán bộ cơ hữu của cơ sở đào tạo. 

Mỗi nghiên cứu sinh có tối đa 2 người hướng dẫn. Trường hợp người hướng dẫn thứ nhất không phải là giảng viên, nghiên cứu viên cơ hữu của cơ sở đào tạo nơi nghiên cứu sinh đang theo học thì người hướng dẫn thứ hai phải là cán bộ cơ hữu của cơ sở đó.

Trường hợp người hướng dẫn độc lập là tiến sĩ nhưng chưa có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư thì phải có minh chứng có đủ công trình khoa học đạt chuẩn phó giáo sư trở lên theo quy định của Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước.

Người hướng dẫn có thể được tham gia Hội đồng cấp trường/viện trong trường hợp cần thiết để tạo điều kiện cho NCS và thầy hướng dẫn được bảo vệ các quan điểm khi làm luận án, tăng tính tính khách quan khi đánh giá luận án, đặc biệt đối với những đề tài có ít chuyên gia đầu ngành.

Người hướng dẫn và hội đồng bảo vệ luận án cấp trường/viện phải có trách nhiệm cùng nghiên cứu sinh về nội dung luận án khi có khiếu kiện về vi phạm bản quyền tác giả (đạo văn).

Thời gian tối thiểu 3 năm, đào tạo tập trung

Hiện nay, Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân đã được ban hành. Quy chế có tính đến những thay đổi này đối với hoạt động tổ chức đào tạo tiến sĩ hay không?

Điều này đã được tính đến nên tổng thời gian đào tạo (kể cả thời gian gia hạn) sẽ rút ngắn hơn để đảm bảo phù hợp với xu thế chung và khác nhau đối với từng đối tượng tham gia dự tuyển (có bằng cử nhân, có bằng thạc sĩ), nhưng thời gian tối thiểu để hoàn thành luận án là 3 năm (thay vì 2 năm như trước đây) phù hợp với Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân.

Hình thức đào tạo là tập trung toàn thời gian và cơ sở đào tạo phải có trách nhiệm quản lý nghiên cứu sinh trong toàn bộ thời gian này

Ngoài ra, quy chế cũng sẽ có một số điều chỉnh khác nhằm giảm thiểu thủ tục hành chính cũng như một số quy định mà qua thời gian thực hiện quy chế từ 2010 đến nay không còn hiệu quả.

Có nhiều ý kiến cho rằng luận án tiến sĩ là một công trình khoa học, phát triển tri thức mới, do đó những phát kiến mới này cần phải được đánh giá thông qua những công trình mà nghiên cứu sinh và người hướng dẫn công bố trên các tạp chí quốc tế có phản biện. Cùng với đó là yêu cầu bắt buộc về kiểm định các chương trình đào tạo tiến sĩ. Yêu cầu như vậy phải chăng quá khắt khe đối với điều kiện đào tạo tiến sĩ hiện nay của Việt Nam?

Phải nói thẳng, trong điều kiện hiện nay của các cơ sở đào tạo tiến sĩ, nếu áp dụng những quy định này là khó. 

Nhưng nếu xem xét đến bối cảnh phát triển chung của GDĐH của các nước ở trong khu vực, ta bắt buộc phải đặt ra chuẩn để phấn đấu.

Đào tạo tiến sĩ là bậc đào tạo cao nhất trong GDĐH, là đào tạo những nhà nghiên cứu, vì vậy phải chuẩn từ chất lượng đầu vào, đảm bảo cơ chế thải loại trong quá trình đào tạo và đạt chuẩn chất lượng chất lượng đầu ra.

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Khung trình độ quốc gia Việt Nam trong đó yêu cầu trình độ, năng lực mà người tốt nghiệp mỗi cấp đào tạo cần đạt được. 

Khung trình độ này tương thích với khung trình độ tham chiếu ASEAN. 

Tiến sĩ là bậc cao nhất (bậc 8/8). Để đạt được chuẩn đầu ra đáp ứng yêu cầu của Khung trình độ quốc gia Việt Nam thì trình độ tiến sĩ ở Việt Nam cũng phải ngang bằng với tiến sĩ các nước khu vực ASEAN.

Lâu nay ta vẫn có quan niệm điều kiện của Việt Nam là đặc thù, vậy cần phải có đặc thù. 

Nhưng nay trong bối cảnh hội nhập khu vực và thế giới ngày càng sâu rộng, nguồn nhân lực được đào tạo phải tương thích với thế giới thì mới có thể cạnh tranh được trên thị trường lao động. 

Do đó việc nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ tiếp cận dần với chuẩn quốc tế và khu vực là rất cần thiết.

Cần chấp nhận có thể giảm quy mô để tập trung vào chất lượng và đào tạo tiến sĩ chỉ dành cho những người thực tài, thực lực, có mục tiêu học tập rõ ràng. Đào tạo tiến sĩ cũng chỉ thực hiện ở những cơ sở đào tạo đủ điều kiện đảm bảo chất lượng.

Một vấn đề được nhắc đến nhiều khi nói về chất lượng đào tạo tiến sĩ hiện nay là chi phí đào tạo quá thấp (bình quân khoảng 15 triệu đồng/năm). Quy chế mới có khắc phục được bất cập này?

Bất cập về chi phí đào tạo tiến sĩ đã được bàn đến nhưng ở phạm vi của Quy chế đào tạo chưa thể quy định cụ thể như việc nâng chi phí đơn vị (đầu tư đào tạo một nghiên cứu sinh/năm) ở mức tương đương với mức chi phí đơn vị trong khu vực, đầu tư cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu, chi phí cho nghiên cứu sinh hay người hướng dẫn đi dự hội nghị, hội thảo nước ngoài…

Tuy nhiên, từ việc nâng cao những quy định về chất lượng của nguồn tuyển, của quá trình tổ chức đào tạo buộc cơ sở đào tạo cũng như các cơ quan quản lý phải có những đề xuất hoặc giải pháp đảm bảo đầu tư xứng đáng để đạt chất lượng như mong muốn. 

Trên cơ sở những ý kiến của các nhà khoa học, các cơ sở trực tiếp đào tạo, Bộ GD&ĐT cũng sẽ phối hợp với các Bộ, ngành liên quan khác để đề xuất Chính phủ sửa đổi những quy định về tài chính cho phù hợp với thực tế.

Cảm ơn bà!

Quan điểm của Bộ GD-ĐT khi đặt ra việc sửa đổi quy chế đào tạo tiến sĩ là không chỉ thực hiện theo chủ quan của những người làm chính sách mà phải xuất phát từ thực tế triển khai tại các cơ sở đào tạo cũng như sự giám sát của xã hội về chất lượng đào tạo tiến sĩ trong thời gian qua.

Do vậy Bộ rất cần sự đóng góp ý kiến của nhiều nhà khoa học, các chuyên gia ở nhiều lĩnh vực, các nhà quản lý và của các cá nhân có liên quan.

  • Hà Phương (Ghi)

HỌC TIẾN SĨ ĐỂ LÀM GÌ ?

LÊ VĂN/ VNN 2-12-2016

Học tiến sĩ để làm gì?

Thị trường sẽ tự điều chỉnh nếu những người có bằng tiến sĩ rởm không được bổ nhiệm.

 Mấu chốt của việc nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ là việc các nghiên cứu sinh xác định học tiến sĩ để làm gì?

Theo PGS.TS Phạm Thanh Phong (Trường ĐH Tôn Đức Thắng, hiện là Giáo sư thỉnh giảng tại Đại học Dongguk, Hàn Quốc), để nâng cao chất lượng tiến sĩ ở Việt Nam thì trước hết, cần định vị lại danh xưng tiến sĩ trong môi trường học thuật.Cần định nghĩa lại danh xưng tiến sĩ

Học vị tiến sĩ phải được hiểu như một học vị khoa học được định nghĩa từ châu Âu chứ không nên được hiểu như là kết quả của các kỳ thi của văn hóa Khổng Giáo. Cần phải phân biệt giữa hai loại tiến sĩ: Một là những tiến sĩ danh dự dành cho những người có đóng góp về học thuật, chính trị và thỏa mãn các tiêu chí của đại học nhưng không hề qua 1 chương trình học tiến sĩ nào của trường đó.

Loại thứ hai là tiến sĩ chúng ta đang bàn tới, là những người phải có các dự án nghiên cứu, luận án chứa đựng các nghiên cứu có tính học thuật độc sáng, những nội dung này đã được xuất bản trên các tạp chí khoa học có quá trình bình duyệt nghiêm túc.

Trước đó, trong cuộc tọa đàm về nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ hồi đầu tháng 11, GS Trần Văn Nhung, Tổng thư ký Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước cũng nêu lên quan điểm này.

Theo ông Nhung, quy chế đào tạo tiến sĩ trước hết cần phải thể hiện rõ định nghĩa thế nào là tiến sĩ. “Trong quá trình làm nghiên cứu sinh và khi bảo vệ để được cấp bằng tiến sĩ thì dứt khoát không thể không có phát minh, không có cái mới, dù mức độ có thể khác nhau“.

PGS. TS Vũ Lan Anh, Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Luật HN cũng khẳng định, để nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ cần xác định rõ mục tiêu đào tạo tiến sĩ.

Học tiến sĩ để làm gì? Phải xác định đào tạo tiến sĩ là đào tạo nhà khoa học có khả năng nghiên cứu, có khả năng đóng góp cho đất nước và có năng lực hội nhập” – bà Lan Anh nói.

Cũng tại cuộc tọa đàm này, Thứ trưởng Bùi Văn Ga cũng khẳng định một trong những nguyên nhân khiến chất lượng đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam thời gian qua có vấn đề về chất lượng là do người học không xác định được mục tiêu của việc học tiến sĩ.

NCS là đào tạo ra các nhà nghiên cứu với những trí tuệ mới chứ không phải đào tạo kỹ năng làm nghề. Nhiều NCS không xác định được rõ động cơ, mục tiêu này nên dẫn đến chất lượng không đảm bảo” – ông Ga phân tích.

Thị trường sẽ tự thải loại bằng tiến sĩ “rởm”

TS Lê Tiến Dũng, một người có nhiều thời gian trải nghiệm tại các cơ sở đào tạo nghiên cứu sau ĐH ở nước ngoài cho rằng, mấu chốt của vấn đề chất lượng đào tạo tiến sĩ có thể không nằm ở những quy định về “đầu vào” hay “đầu ra” mà ở chỗ chúng ta đang bổ nhiệm dựa vào bằng cấp.

Chung quy lại, xã hội và thị trường sẽ tự điều chỉnh nếu như những người có bằng tiến sĩ kém chất lượng không được bổ nhiệm. Khi đó, những người học sẽ tự biết để không chạy theo những bằng cấp kém chất lượng nữa” – ông Dũng nói.

Theo ông Dũng, khi nhu cầu về những bằng tiến sĩ kém chất lượng giảm đi, người học chỉ tìm đến những cơ sở đào tạo có uy tín thì các cơ sở đào tạo cũng tự biết mình phải làm gì.

Cơ quan quản lý không nhất thiết phải có bằng tiến sĩ, chỉ cần tinh thông pháp luật, trách nhiệm cao và làm việc hiệu quả cao chứ không cần chạy theo cái bằng” – ông Nhung nói.GS Trần Văn Nhung cũng từng chia sẻ, chúng ta không cần phải có quá nhiều tiến sĩ, “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. “Ở các nước tiến sĩ sẽ về trường ĐH, viện nghiên cứu chứ làm công tác quản lý thì không cần (bằng tiến sĩ – PV). Ở mình bổ nhiệm một người lại ưu tiên có bằng tiến sĩ“.

Đồng quan điểm, TS Nguyễn Nam Trân, Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQG TP.HCM, hiện đang làm việc tại Mỹ cho biết, tại các nước Âu, Mỹ, những người có bằng tiến sĩ ở những trường đại học không có chất lượng thì không thể nào xin được việc.

Khi nộp đơn xin việc, công ty sẽ chuyển hồ sơ của ứng viên cho một công ty chuyên xác minh lý lịch. Việc phỏng vấn xin việc diễn ra trong nhiều ngày, trải qua mấy vòng nên rất dễ kiểm tra. Vì vậy, khó có chuyện người không xứng đáng qua mặt được người tuyển dụng” – ông Trân chia sẻ.

Tuy nhiên, theo ông Trân, tại các quốc gia này, thông tin về chất lượng đào tạo các trường cho đến các công bố khoa học của các tiến sĩ đều khá minh bạch, chỉ cần tìm kiếm trên gooogle 5 phút là có thể biết được chất lượng của trường đến đâu. Vì vậy, ở Việt Nam, thực hiện điều này không dễ.

Trong khi đó, GS Nguyễn Đình Đức, Trưởng ban đào tạo, ĐHQGHN thì cho rằng, những người có bằng tiến sĩ vẫn có thể bổ nhiệm vào các vị trí quản lý được. Quan trọng là tiến sĩ có thực chất hay không.

Nếu như tiến sĩ thực chất, có đầy đủ kiến thức cộng với năng lực, trưởng thành từ cơ sở, có kinh nghiệm thì khi tuyển chọn có thể ưu tiên tuyển chọn người có bằng tiến sĩ. Tuy nhiên, ở Việt Nam nhiều khi tiêu chí tuyển chọn không được áp dụng đúng. Đôi khi bằng tiến sĩ là điều kiện cần để bổ nhiệm” – ông Đức nói.

Theo ông Đức, mấu chốt của vấn đề là ở việc trọng dụng đúng người có năng lực, trọng dụng đúng cán bộ, khi đó, xã hội sẽ tự phân hóa. “Ở nước ngoài, những tiến sĩ không có năng lực thì tự nhiên sẽ bị loại khỏi các phòng thí nghiệm, không thể nào trụ được“.

Theo thống kê của Cục Thông tin KHCN, Bộ KHCN, hiện tại, Việt Nam đang có hơn 24,5 nghìn tiến sĩ, trong đó chỉ có khoảng 12,3 nghìn tiến sĩ đang làm ghiên cứu khoa học (tức làm hoạt động nghiên cứu tại các trường ĐH, viện nghiên cứu và các trung tâm R&D của doanh nghiệp…)

Theo chỉ tiêu đào tạo tiến sĩ của các cơ sở đào tạo gồm các viện, trường, mỗi năm, Việt Nam có thêm từ 1.000-1.500 tiến sĩ mới được cấp bằng.

Lê Văn

 

 

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Mười Một 30, 2016

20161130. NGHĨ VỀ QUỐC TANG FIDEL CASTRO TẠI VIỆT NAM

ĐIỂM BÁO MẠNG

KỶ NGUYÊN FIDEL CASTRO KẾT THÚC CÓ TÁC ĐỘNG ĐẾN GIỚI LÃNH ĐẠO VN?

PHẠM CHÍ DŨNG/ VNTB/BVN  30/11/2016

clip_image001

Chủ tịch nước Trần Đại Quang (giữa) cùng phu nhân thăm ông Fidel Castro ở Havana, Cuba, ngày 15/11/2016. Ảnh: AP

Biểu tượng – không biểu tượng

Khác rất nhiều với sự hiếm hoi của vai trò cá nhân chính trị ở Việt Nam, trong nhiều năm qua Fidel Castro là một biểu tượng ở Cuba, kể cả sau khi ông từ bỏ mọi chức vụ vào năm 2006.

Gần như ngược lại với Cuba, sau khi Hồ Chí Minh qua đời vào năm 1969, giới lãnh đạo Việt Nam hầu như không còn biểu tượng chính trị. Nhân vật duy nhất mà khi qua đời đã khiến hàng vạn người dân tự nguyện đi viếng và rơi nước mắt là ông Võ Nguyên Giáp. Nhưng thật trớ trêu, ông Giáp đã bị ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam tước hết quyền bính từ nhiều năm trước khi ông chết.

Không chỉ bởi mối quan hệ anh em “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình” như lời của Fidel Castro trong quá khứ, mà mối tương tác “Cuba và Việt Nam thay nhau thức canh hòa bình thế giới” vẫn còn kéo dài đến ngày nay.

Có lẽ không phải vô cớ mà hơn nửa năm sau khi bất ngờ diễn ra kết quả bình thường hóa Cuba – Mỹ vào cuối năm 2015, và tiếp đó là chuyến công du lịch sử đến Cuba của Tổng thống Obama vào tháng 3/2016, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam là ông Nguyễn Phú Trọng – một nhân vật bị xem là cực kỳ bảo thủ – cũng đã làm một cử chỉ lịch sử khác khi lần đầu tiên đặt chân lên đất nước cựu thù để đàm phán với Tổng thống Obama về TPP và Công đoàn độc lập.

Trì trệ không đáng có

Các nhân vật lịch sử, dù có huyền thoại đến thế nào, vẫn chỉ có tính giai đoạn trong lịch sử. Fidel Castro không phải là ngoại lệ.

Fidel Castro còn bị coi là người bảo thủ hơn cả Nguyễn Phú Trọng. Bất chấp ông là biểu tượng chính trị và vẫn khiến nhiều người dân thương tiếc, quá trình cải cách lẽ ra phải có của Cuba đã bị trì trệ một cách kinh khủng.

Điều đáng nói là sự trì trệ không đáng có như thế lẽ ra phải được cải thiện ngay cả trong thời gian Cuba còn bị Mỹ cấm vận. Không thể đổ hết nguyên nhân cho hoàn cảnh khách quan để không cần cải cách.

Cuba đã có thể bắt đầu cải cách kinh tế ngay vào năm 2008 là năm Obama nhậm chức Tổng thống nhiệm kỳ đầu tiên, trong khi Fidel Castro đã từ bỏ quyền lực 2 năm trước đó. Nhưng thời kỳ 7 năm (2008 – 2015) dễ chơi của Obama đã là một sự phí hoài đối với Đảng Cộng sản Cuba.

Lẽ ra, bình thường hóa Cuba – Mỹ đã phải được thực hiện ngay trong nhiệm kỳ đầu tiên của Obama.

Nhưng đó là chuyện quá khứ.

Còn bây giờ thì sao?

‘Thành quả kinh tế’

Một số chuyên gia phân tích chính trị quốc tế cho biết với việc cha đẻ của Cách mạng Cuba Fidel Castro qua đời hôm 25/11/2016, Cuba đã lật qua một trang sử mới, bởi vì lần đầu tiên Chủ tịch Raul Castro thật sự nắm quyền một mình. Theo tiết lộ của Chủ tịch Quốc hội Cuba Ricardo Alarcón vào cuối năm 2011, kể từ khi được chỉ định làm chủ tịch Cuba năm 2006, ông Raul Castro vẫn tham khảo ý kiến của người anh trước khi ra những quyết định quan trọng.

Theo nhận định của ông Michael Shifter, Chủ tịch trung tâm Inter-American Dialogue, nói với hãng tin AFP, sau cái chết của Fidel Castro, tình hình kinh tế và chính trị của Cuba sẽ cởi mở hơn. Nó sẽ trút đi một gánh nặng cho ông Raul Castro. Kể từ nay ông không còn sợ nói trái ý người anh nữa.

Chuyên gia về Cuba thuộc đại học Texas Arturo Lopez Levy thì không tin vào ảnh hưởng của ông Raul Castro, người đã tuyên bố là sẽ rút lui vào năm 2018. Ông Levy dự đoán, sau cái chết của Fidel Castro, việc mở cửa cho kinh tế thị trường và bãi bỏ những trói buộc của những quy định cộng sản sẽ được thúc đẩy. Không còn sức hấp dẫn của Fidel Castro nữa, tính chính đáng của Đảng Cộng sản Cuba sẽ chỉ còn dựa trên thành quả kinh tế.

Lại một điểm chung, và có thể là điểm chung quyết định của cả hai trường hợp Cuba và Việt Nam: “thành quả kinh tế” cũng là yếu tố duy nhất còn giúp kéo dài sự tồn tại của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ai sẽ cải cách thể chế ở Việt Nam?

Gần như chắc chắn trong thời gian tới, Raul Castro sẽ tiến hành một số cải cách nào đó về kinh tế ở Cuba. Ở vào tuổi 85 và còn 2 năm trước khi từ bỏ quyền lực vào năm 2018, hình ảnh không chỉ là “Hòn đảo tự do” mà còn khấm khá về dân sinh hẳn là ấn tượng cuối đời mà Raul muốn để lại.

Chỉ cần tân Tổng thống Trump, hoặc một ai đó có thể thay thế Trump trong năm 2017 như dự đoán của Giáo sư Mỹ Allan Lichtman – người đã dự đoán đúng gần như toàn bộ kết quả bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ từ năm 1984 đến cuộc bầu cử năm 2016 – không chủ trương chính sách đối đầu của Mỹ với Cuba, quá trình cải cách kinh tế theo hướng gần hơn với kinh tế thị trường ở Cuba sẽ bắt đầu.

Cuba lúc này có thể đang ở vào thời điểm bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ vào năm 1995. Nhưng nếu cải cách kinh tế, Cuba lại ở vào bối cảnh mở cửa kinh tế của Việt Nam bắt đầu từ năm 1990. Tuy nhiên, truyền thống và nhịp độ cải cách hay làm cách mạng ở những quốc gia Mỹ Latinh như Cuba thường diễn ra nhanh hơn tại những nước châu Á như Việt Nam và Trung Quốc.

Công cuộc cải cách ở Cuba lại có thể sẽ khiến giới lãnh đạo Việt Nam có thêm “quyết tâm chính trị” để không chỉ tiếp tục phải cải cách kinh tế theo hướng thị trường, mà còn phải cải cách cả thể chế, bao gồm cả những định chế pháp luật về nhân quyền, cho dù họ không còn buộc phải làm theo những điều kiện của TPP vì hiệp định này vẫn chưa đâu vào đâu.

Fidel Castro qua đời cũng là điểm chấm dứt một kỷ nguyên thống trị của ý thức hệ bảo thủ ở phía Tây bán cầu. Chắc hẳn một bộ phận trong giới lãnh đạo Việt Nam – những người như ông Nguyễn Phú Trọng – phải có cảm giác như vừa mất đi một chỗ dựa an toàn, và có thể là chỗ dựa cuối cùng, về hệ tư tưởng một chiều chỉ đóng không mở.

Lại có một dấu hiệu từa tựa như “điềm báo”: một tuần trước khi Fidel Castro qua đời, ông đã tiếp nhân vật số 2 của Việt Nam – Trần Đại Quang. Từ sau Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam cho tới nay, ông Quang vẫn giữ im lặng trong thế tiến thoái lưỡng nan về đối ngoại và cả nội trị của đảng này.

Trong khi đó, tình thế đang trở nên “bùng nổ”: nếu không tự cải cách kinh tế và thể chế chính trị trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế đang đến rất gần cùng phản kháng xã hội sôi trào, tuổi thọ còn lại của một Đảng Cộng sản Việt Nam “chính danh” sẽ chỉ tính từng năm một.

P.C.D.

VNTB gửi BVN

PHẢN ỨNG VỀ QUỐC  TANG CHO CHỦ TỊCH FIDEL CASTRO TẠI VIỆT NAM

KÍNH HÒA/ RFA/BVN 30-11-2016

clip_image001

Ảnh chụp bên ngoài Tòa Đại sứ Cuba tại Hà Nội hôm 28/11/2016.

Dư luận xã hội đang tranh luận về việc Ban chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vừa có quyết định để tang Chủ tịch Fidel Castro của Cuba với hình thức Quốc tang.

Chúng tôi có đồng minh?

Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam không có điều khoản nào quy định tổ chức một Quốc tang cho bất cứ ai. Tuy nhiên theo một nghị định của Chính phủ ban hành vào năm 2012 thì một lễ Quốc tang cho cá nhân sẽ được áp dụng trong những trường hợp như sau: thứ nhất bốn vị trí cao nhất trong hệ thống chính trị là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội dù đang tại chức hay mãn nhiệm khi chết đều được cử hành Quốc tang. Trong trường hợp đặc biệt một cán bộ cao cấp nào đó có công lao to lớn với quốc gia hay quốc tế sẽ được xét và tổ chức Quốc tang. Tuy nhiên theo luật cán bộ ban hành năm 2008 thì người này phải là công dân Việt Nam.

Cái Đảng Việt Nam này tổ chức Quốc tang coi như là một cách nói với thế giới cũng như với người dân trong nước rằng chúng tôi có đồng minh đây! – Nguyễn Huệ Chi

Luật sư Trần Quốc Thuận, nguyên Phó chủ nhiệm văn phòng Quốc hội cho biết:

“Trong Hiến pháp Việt Nam không có quy định gì về lễ Quốc tang còn trong nghị định của Chính phủ cũng như quy định nội bộ thì có quy định Quốc tang. Còn về trong văn bản nhà nước thì có một nghị đỉnh của Chính phủ rất cụ thể trong trường hợp đó. Cũng có một nghị quyết của Bộ chính trị, một nghị quyết của Thường vụ Quốc hội quy định về các lễ tang của Việt Nam gồm có Quốc tang, lễ tang nhà nước, lễ tang cấp cao còn cái chuyện làm lễ Quốc tang cho một người nước ngoài thì nếu 4 cơ quan đó họ hè nhau họ làm thì coi như họ quyết định rồi”.

Đối với trường hợp Chủ tịch Fidel Castro Việt Nam quyết định để tang cho ông với nghi thức Quốc tang vào ngày 04 tháng 12 năm 2016. Trong thời gian này, các cơ quan, công sở trong phạm vi cả nước và các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài treo cờ rủ, có dải băng tang như quy định, không tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí công cộng.

Về việc này Giáo Sư Nguyễn Huệ Chi nhận định:

“Cái Đảng Việt Nam này tổ chức Quốc tang coi như là một cách nói với thế giới cũng như với người dân trong nước rằng chúng tôi có đồng minh đây! Đồng minh ở nơi xa xôi ấy và đã từng là hai nước chống Mỹ thì đồng minh ấy đối với chúng tôi rất quan trọng, nghĩa là họ vẫn muốn sống lại những ngày quá khứ chứ họ không nhìn đến tương lai gì cả”.

clip_image002

Chủ tịch Fidel Castro (phải) tiếp Nguyên Tổng bí thư Đảng CSVN Nông Đức Mạnh tại Havana, Cu Ba hôm 6/3/2004. AFP

Chủ tịch Fidel Castro được công bố Quốc tang tại Việt Nam khiến rất nhiều người bức xúc. Câu hỏi đặt ra là ông Fidel không có công trạng cụ thể nào đối với đất nước nhưng lại hưởng vinh dự to lớn đối với nhân dân Việt Nam là một sai lầm mang tính trình diễn.

Trong thông cáo đặc biệt quyết định về việc này có loan đầy đủ tiểu sử của Chủ tịch Fidel Castro từ những hoạt động đầu tiên cho tới khi mất. Trong khoảng thời gian ấy ông sang thăm Việt Nam ba lần, ông vô cùng gần gũi với Đảng và nhà nước Việt Nam bằng những sự ủng hộ, lên tiếng cũng như luôn đứng về phía Việt Nam trong chiến tranh chống Mỹ. Ông là nguyên thủ đầu tiên tới thăm Việt Nam sau khi Quảng Trị được giải phóng đầu tiên vào năm 1973.

Bản thông cáo cũng ghi nhận trên phương diện quốc tế, Fidel Castro là nhà hoạt động Nhà nước và Lãnh đạo xuất sắc trong Phong trào Cộng sản và Công nhân quốc tế, có đóng góp to lớn và tích cực cho Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc.

Không thể nâng lên thành hàng Quốc tang?

Nhìn tổng quát nội dung bản thông cáo dân chúng không tìm ra được một việc làm cụ thể nào của Chủ tịch Fidel đối với cuộc chiến tranh chống Mỹ của Việt Nam ngoài các cử chỉ đầy tính ngoại giao giống như các nước cộng sản với nhau.

Những quan hệ được gọi là đặc biệt dù sao cũng không thể nâng lên thành hàng Quốc tang, vốn dành riêng cho người có công với Tổ quốc.

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi phân tích việc Hà Nội tổ chức Quốc tang cho Fidel như sau:

Bây giờ làm Quốc tang cũng là cách bày tỏ sự tương liên đối với người bạn xưa, tức là tưởng niệm quá khứ. Tức là họ nhìn về quá khứ, còn nếu nhìn về tương lai thì mọi chuyện đều vô nghĩa rồi… – GS Nguyễn Huệ Chi

“Fidel Castro thực lòng khâm phục Việt Nam bởi vì ông ấy là biểu tượng cho một đội quân đã lật đổ một chế độ độc tài nhưng mà lại dựng lên một chế độ độc tài khác. Có lẽ trên phương diện nào đó còn kinh khủng hơn chế độ độc tài cũ vì độc tài cũ chỉ là một cá nhân còn độc tài này là cả một đảng. Đứng về phương diện ấy ông Fidel Castro không phải là người để đất nước này làm Quốc tang mà chính Đảng Cộng sản Việt Nam làm Quốc [đảng] tang cho một ông thủ lĩnh Đảng Cộng sản Cuba, như thế đúng hơn. Fidel Castro chỉ vì ý thức hệ mà quy phục Việt Nam, còn ông Việt Nam thì thấy có một ông từ xa xôi quy phục mình thì đồng bệnh tương liên cho nên quy phục lại!

Bây giờ làm Quốc tang cũng là cách bày tỏ sự tương liên đối với người bạn xưa, tức là tưởng niệm quá khứ. Tức là họ nhìn về quá khứ, còn nếu nhìn về tương lai thì mọi chuyện đều vô nghĩa rồi, bởi vì chúng ta đang phải đi theo quy luật [chung của thế giới] là con dường dân chủ tự do”.

Người dân tự hỏi, nếu những quan hệ mang tính rất đặc biệt cho một người bạn cùng ý thức hệ được áp dụng vào Trung Quốc thì biết bao nhiêu cán bộ cao cấp của họ sẽ đương nhiên được hưởng vinh dự này vì trong chiến tranh Trung Quốc đã bỏ rất nhiều của cải lẫn xương máu để Việt Nam chống Mỹ.

Người dân Việt Nam theo dõi cái chết của Fidel Castro với những góc nhìn khác nhau. Nếu hàng trăm người xếp hàng trước Tòa đại sứ Cuba tại Hà Nội để khóc lóc, tỏ bày sự thương tiếc thì cũng có hàng ngàn người khác bày tỏ sự hả hê của mình trên hệ thống mạng xã hội. Sự mâu thuẫn ấy đã làm cho Quốc tang của Fidel tại Việt Nam nếu có sẽ đào thêm hố sâu chia rẽ vì ngăn cách.

Từ khi Việt Nam thống nhất, Hà Nội đã nhiều lần giúp cho Cuba thoát khỏi khó khăn về lương thực bằng hàng ngàn tấn gạo viện trợ, đây cũng đủ trả mối thân tình mà Fidel dành cho Việt Nam.

Nếu vì mục đích trả lễ cho cá nhân ông Fidel Castro thì Quốc hội Việt Nam đã có bà Nguyễn Thị Kim Ngân, trong tư cách Chủ tịch đã dẫn phái đoàn sang Cuba vào ngày 28 tháng 11 để dự lễ tang đã trả đủ lễ đối với một nước cộng sản anh em nằm bên kia bán cầu có cùng ý thức hệ cũng như giữ vững lập trường tiến lên Chủ nghĩa xã hội như Việt Nam đang theo đuổi.

Cùng lúc với cái chết của Fidel, báo chí Việt Nam loan tải Tư lệnh hải quân Trung Quốc là tướng Ngô Thắng Lợi hôm 25 tháng 11 đã tới tham dự lễ tưởng niệm 18 tử sỹ Trung Quốc trong trận đánh vào tháng 1 năm 1974 với hải quân Việt Nam Cộng hòa để chiếm Hoàng Sa. Nếu ngay lúc này Việt Nam làm Quốc tang cho 74 người lính đã đổ máu cho Tổ quốc ấy thì ý nghĩa biết bao nhiêu thay vì đem Fidel Castro vào vòng tranh cãi.

M.L.

Nguồn: http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/reacting-on-national-mourning-for-president-fidel-castro-in-vn-11292016082001.html

Đọc thêm:

THIÊN HẠ AI NGƯỜI KHÓC BÁC PHI ?

PHẠM ĐOAN TRANG/ BVN 30-11-2016

Việc Đảng Cộng sản ép toàn dân phải quốc tang Fidel Castro làm cho bao nhiêu người vốn không định nói gì về sự kiện này, bây giờ khó chịu quá lại phải nói, ví dụ như mình.

Mình có học chút ít tiếng Tây Ban Nha, chơi tây ban cầm, và cũng từng quan tâm đến Cuba cũng như mối quan hệ quốc tế vô sản Việt – Cu. Ai học tiếng Tây Ban Nha thì đều biết Fidel Castro là nhà hùng biện nổi tiếng, và cách ông ấy phát âm chữ “r” thì tuyệt vời, maravilloso.

Ai quan tâm đến quan hệ Việt Nam – Cuba thì đều biết trong thời gian chiến tranh (kể cả chiến tranh lạnh), đảng và nhà nước Cuba đã là người bạn tốt của đảng và nhà nước Việt Nam. Fidel Castro từng nói nhiều câu nổi tiếng, đại loại như “vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu mình”, “cần tạo ra hai, ba và nhiều Việt Nam hơn nữa” (Ở đây, Việt Nam được hiểu là Bắc Việt). Cuba xây đường sá, bệnh viện, trường học cho Việt Nam, cử chuyên gia y tế sang Việt Nam chữa bệnh cho dân. Thời bao cấp, lúc dân Việt Nam đói vàng mắt thì Cuba tặng đường mía. Đấy là chưa kể đến đội ngũ hàng trăm sinh viên Việt Nam được đảng và nhà nước cho du học Cuba, sau này trở về đều thành cán bộ, nói theo cách của tuyên giáo là đều nắm giữ những cương vị quan trọng để tiếp tục cống hiến cho đất nước.

Thiết tưởng Cuba thương Việt Nam đến không lời nào tả xiết, chẳng có nước nào trên thế giới này thương Việt Nam làm vậy, chứ đến như hai ông anh vĩ đại Liên Xô và Trung Quốc rồi cũng bỏ rơi Việt Nam hết (Riêng anh hai Trung Quốc thì sau khi đánh Việt Nam, dạy cho thằng em một bài học, đã trở thành cố vấn, sư phụ, bạn vàng bốn tốt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chính sách ngoại giao của đảng ta quả thật là khủng khiếp).

Nói chung, để kể về mối quan hệ thắm tình hữu nghị Việt – Cu hay nói đúng hơn là quan hệ giữa hai đảng và nhà nước anh em thì mình kể hay hơn các dư luận viên nhiều. Vậy nên, không cần nhắc mình những câu “sống phải có ơn nghĩa”, “nghĩa tử nghĩa tận”…

Nhưng chẳng có gì biện minh được cho việc làm lố bịch của Đảng Cộng sản ngày hôm nay.

– Thời chiến tranh, một nửa đất nước không phải là bạn của Cuba và không nhận được gì từ Cuba.

– Saddam Hussen cũng từng nói những lời có cánh về Việt Nam đó, sao lúc y chết, đảng không tổ chức viếng?

– Trong thời đại ngày nay, bày trò khóc thương một nhà độc tài (bất chấp luật pháp và lòng dân) là cách làm tốt nhất để thể hiện cho dân chúng và cộng đồng quốc tế thấy mình lạc hậu và lạc lõng như thế nào.

– Ngay cả thời chiến tranh và thời kỳ bao cấp hậu chiến, việc Việt Nam thân với Cuba cũng chỉ cho người ta cảm giác đó là một đám nước nghèo và kém văn minh tự co cụm lại, lủi thủi chơi với nhau. Có cái gì đó vừa đáng thương, vừa đáng buồn, vừa đáng giận.

Một lần nữa phải nhắc lại: Chính sách ngoại giao của Đảng Cộng sản Việt Nam quả thật là khủng khiếp.

Còn ai nói Fidel Castro không phải nhà độc tài, thì hãy nhìn xem ông ấy ngồi ghế bao nhiêu năm? Vâng, “Người” đã là Thủ tướng, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Cuba từ 1959 đến 2008. Suốt nửa thế kỷ không có một cuộc bầu cử nào, “đảo tươi một dải” của các bạn đấy!

Cũng xin nói thêm, chuyện nền y tế của Cuba ưu việt, thật ra giống một huyền thoại hơn, các bạn ạ. Đừng quên là khi xảy ra động đất ở Armenia năm 1988, khi tham gia cứu trợ, các bác sĩ Việt Nam đã làm cho bạn bè quốc tế phải ngạc nhiên về trình độ (thao tác thủ công) của mình.

P.Đ.T.

Nguồn: FB Pham Doan Trang

Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Mười Một 29, 2016

20161129. NGƯỜI VIỆT: NHẤT VÀ BÉT

ĐIỂM BÁO MẠNG

NGƯỜI VIỆT, NHẤT VÀ BÉT

XUÂN DƯƠNG/ GD 26-11-2016

Người Việt với nhiều thói hư tật xấu. (Ảnh: Tuoitre.vn)

Hồ Chủ tịch từng dạy “muốn xây dựng Chủ nghĩa xã hội, cần phải có con người xã hội chủ nghĩa”.

Theo cương lĩnh mới của Đảng, muốn xây dựng một đất nước “công bằng, dân chủ, văn minh” cần phải có một dân tộc “văn minh, công bằng, dân chủ”.

Cho đến hôm nay có một quan điểm vẫn được nhắc đến nhiều, rằng “người Việt thông minh, cần cù, tiết kiệm, ham học, thân thiện”.

Cố Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu từng phát biểu: “họ (người Việt) có những tố chất đáng khâm phục”.

Gần như khác hoàn toàn với ông Lý Quang Diệu, Viện Nghiên Cứu Xã Hội Học Hoa Kỳ (American Institute for Social Research) sau khi nghiên cứu đã chỉ ra 10 đặc tính căn bản của người Việt. 

Đối lập với 5 đặc tính nêu trên, người Mỹ cho rằng:

Người Việt cần cù lao động nhưng dễ thỏa mãn; Thông minh, sáng tạo khi phải đối phó với những khó khăn ngắn hạn, nhưng thiếu những khả năng suy tư dài hạn và linh hoạt;

Yêu thích kiến thức và hiểu biết nhanh, nhưng ít khi học sự việc từ đầu đến cuối, nên kiến thức không có hệ thống hay căn bản.

Ngoài ra, người Việt không học vì lợi ích của kiến thức (lúc nhỏ học vì gia đình, lớn lên học vì sĩ diện hay vì những công việc tốt);

Cởi mở và hiếu khách nhưng sự hiếu khách không kéo dài; Tiết kiệm, nhưng nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu vô nghĩa (vì sĩ diện hay muốn phô trương)”. [1]

Nếu cần bổ sung thì người viết muốn thêm một đặc tính của người Việt hiện đại, đó là thói tham lam, ích kỷ.

Thói tham lam ngày nay thể hiện ở đủ mọi tầng lớp cư dân, từ người bình thường trở đi, từ người ít học đến người đầy bằng cấp.

Cũng trong tháng 10/2016, Liên minh châu Âu cảnh báo thuỷ sản Việt Nam nhiễm kim loai nặng.Có thể nhận xét này không phù hợp với suy nghĩ của không ít người, có thể cộng đồng mạng muốn một trận “mưa đá” rơi xuống nhưng xin bình tâm đọc hết bài viết sau đó muốn “ném đá” người viết xin sẵn sàng đón nhận. 

Cũng xin nói thêm trong khuôn khổ một bài báo, người viết chỉ có thể đưa ra những nét chấm phá điển hình, không phải là một nghiên cứu sâu rộng nên rất nhiều điều còn bỏ ngỏ.

Chuyện người Việt nhất và bét không phải là chuyện lạ.

Thứ nhất, nói về nông nghiệp và nông dân

Nông nghiệp Việt Nam đứng đầu thế giới về xuất khẩu một số mặt hàng nông sản: gạo, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, cá tra… nhưng cũng có nhiều vấn đề trong cung ứng thực phẩm cho dân chúng. 

Nền nông nghiệp Việt Nam vẫn là nền nông nghiệp lạc hậu, canh tác theo kinh nghiệm và phương pháp “rỉ tai – học mót”. So với các quốc gia khác như Nhật Bản, Do Thái, chúng ta chỉ là học trò.

Để thu được nhiều tiền, người trồng trọt trồng hai luống rau – như lời Phó Thủ tướng Vũ Đức Đamluống rau sạch để nhà dùng, luống phun thuốc kích thích để bán ở chợ. 

Người bán thịt có nơi bơm nước vào gia súc; nông dân có người dùng chất tạo nạc cho lợn ăn dù chất đó bị cấm.

Tháng 10/2016, Mỹ trả lại Việt Nam 10.000 tấn gạo (412 container) do dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt ngưỡng cho phép.

Chuyện nông dân trồng rau ở nghĩa địa, rửa rau bằng nước cống trước khi mang bán đã được báo chí đề cập nhiều, cho đến nay liệu đã được khắc phục?

Theo số liệu của Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, “Trong 5 năm gần đây, mỗi năm Việt Nam chi khoảng nửa tỷ USD để nhập khẩu thuốc bảo vệ thực vật, trong đó thuốc trừ cỏ chiếm 50%, thuốc trừ sâu khoảng 25%, thuốc trừ bệnh khoảng 20%.

Còn lại là các thuốc điều hòa, kích thích sinh trưởng như thuốc trừ chuột, trừ ốc, mối…”.

Cần nhớ rằng hầu hết thuốc bảo vệ thực vật nhập khẩu từ Trung Quốc đều là thuốc độc có tác dụng giết côn trùng, sâu bọ và vi khuẩn. [2]

Lỗi chỉ của nông dân, hay nguyên nhân lỗi nằm ở đội ngũ cán bộ? Nếu đặt câu hỏi tại sao nông dân lại “trồng hai luống rau”, câu trả lời sẽ tùy thuộc vị thế mỗi người.

Tuy nhiên, có một câu trả lời không thể không suy ngẫm, đó là “nông dân làm việc bằng hai, để cho cán bộ mua đài, mua xe” (Vietnamnet.vn 24/11/2016).

Thứ hai, nói về công nghiệp công nhân

Giai cấp công nhân – như ngày xưa từng đề cập – là giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến nhất, là lực lượng có tổ chức nhất trong các nhóm cư dân, là lực lượng đi đầu trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng Chủ nghĩa xã hội.

Ngày nay lực lượng này có tới 12,3 triệu người nhưng gần 83% làm việc trong doanh nghiệp tư nhân. 

Chất lượng chuyên môn và chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam như nhận định trên báo điện tử Dangcongsan.vn ngày 30/9/2015: “Giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị của công nhân không đồng đều; sự hiểu biết về chính sách, pháp luật còn nhiều hạn chế”. 

Trình độ chuyên môn nghề nghiệp đã được đánh giá trên Tạp chí Lyluanchinhtri.vn: “so với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và so với trình độ công nhân ở các nước trong khu vực và thế giới thì trình độ học vấn của công nhân nước ta còn thấp”. [3]

Nền công nghiệp của Việt Nam ngày nay không chỉ mang lại những khoản thua lỗ nhiều nghìn tỷ qua 5 dự án đã được nêu tại diễn đàn Quốc hội (xơ sợi Đình Vũ; nhiên liệu sinh học Bio-Ethanol Dung Quất; gang thép Thái Nguyên; đạm Ninh Bình; bột giấy Phương Nam). 

Nhiều dự án khác hiện đang trong giai đoạn thanh tra, chưa công bố kết quả.

Chính nền công nghiệp mà chúng ta xây dựng mấy chục năm qua đã đóng góp nhiều nhất trong việc làm trầm trọng thảm họa môi trường mà dự án thép Formosa chỉ là một ví dụ. 

Các cơ sở công nghiệp với dây chuyền thiết bị lạc hậu đang biến đất nước thành bãi rác công nghiệp của thế giới, đang hàng ngày đầu độc khí quyển, nguồn nước, đất nông nghiệp và sức khỏe con người. 

Tỷ lệ ung thư của người Việt thuộc loại cao nhất thế giới.

Xuất khẩu của Việt Nam năm 2015 (nguồn Tổng cục Hải Quan – customs.gov.vn 21/11/16)

Năm 2016 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu nước ta ước tính đạt 327,76 tỷ USD, riêng xuất khẩu tính lũy kế đến 15/11/2016 đạt khoảng 150 tỷ USD.

Ba nhóm hàng xuất khẩu điện thoại, dệt may và máy vi tính chiếm khoảng 65 tỷ USD tức là gần 1/2 tổng kim ngạch xuất khẩu. 

Công nghiệp điện tử nước ta gọi là chế tạo nhưng đa phần là lắp ráp, công nghiệp dệt may, gần 100% thiết bị nhập khẩu và phần lớn nguyên liệu, phụ kiện cũng nhập khẩu, các nhà máy thuộc sở hữu của người Việt chưa sản xuất được ốc vít cho các thiết bị điện tử chứ không nói đến các linh kiện đòi hỏi công nghệ cao.

Ngành công nghiệp nặng của Việt Nam sản xuất được bao nhiêu phần trăm thiết bị cho nhà máy thủy điện và nhiệt điện, chưa nói điện gió và điện mặt trời?

Chủ trương công nghiệp hóa đất nước đã được hình thành từ Đại hội III (tháng 9-1960), đại hội VI xuất hiện bước ngoặt có tính lịch sử quan trọng, đột phá về đổi mới tư duy của Đảng về việc tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước…

Mục tiêu đưa nước ta thành một nước công nghiệp vào năm 2020, nghĩa là sau 60 năm (tính từ đại hội III) đã không thể thực hiện như tinh thần Nghị quyết Đại hội 12 đề cập.

Thứ ba, nói về trí thức và giáo dục

Việt Nam có đội ngũ phó giáo sư, giáo sư, tiến sĩ hùng hậu vào loại nhất Đông Nam Á.

Một thống kê của tác giả Nguyễn Văn Tuấn năm 2010 cho thấy tỷ lệ quan chức Việt Nam có học hàm, học vị cao hơn cả Hoa Kỳ, Nhật Bản. [4]

Với đội ngũ (gọi là) trí thức hùng hậu thuộc loại hàng đầu nhưng Việt Nam lại đứng “đội sổ” về cống hiến cho nhân loại. 

Với đội ngũ quan chức học vị cao hơn cả Hoa Kỳ, Nhật Bản, Việt Nam lại là quốc gia lạc hậu, phát triển chậm hơn nhiều chục năm so với Đông Nam Á chứ chưa so với các nước tiên tiến.

Nền giáo dục Việt Nam cho đến nay vẫn loay hoay với câu hỏi “triết lý giáo dục của Việt Nam là gì?”.

Giáo dục để mở mang dân trí hay giáo dục để chứng tỏ việc gì khác? 

Tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông luôn đạt gần 100% là mục tiêu của giáo dục hay là định hướng phải thực hiện bằng mọi giá?

Báo Anninhthudo.vn trong bài “Gần 300.000 cử nhân đang thất nghiệp” đăng ngày 21/7/2015 viết: “Thống kê cho thấy trong hơn 1.159.800 lao động đang thất nghiệp, có đến gần 300.000 người tốt nghiệp đại học, trên đại học và cao đẳng chuyên nghiệp”. 

Nếu không tính cử nhân cao đẳng thì con số cử nhân đại học và trên đại học thất nghiệp vào khoảng 225.000 người

Theo Thứ trường Bộ Giáo dục & Đào tạo Bùi Văn Ga, năm 2016 tổng chỉ tiêu tuyển sinh mà các trường đăng ký với Bộ là khoảng 420.000 người, số lượng thí sinh đạt điểm sàn vào khoảng 400.000.

Như vậy, đầu vào toàn quốc năm 2016 không vượt quá con số 400.000 người. 

Tài liệu tham khảo:Như vậy số cử nhân thất nghiệp chiếm hơn 50% tổng số sinh viên đầu vào của một năm học. 
Và điều đáng nói nhất, vì sao hơn nửa thế kỳ qua, đội ngũ giáo viên lại được tuyển chọn chủ yếu từ hàng ngũ những ngườichuột chạy cùng sào”?

Giáo dục Việt Nam rất giỏi đào tạo người đi thi (trong nước và quốc tế) song lại rất kém trong việc đào tạo người phát minh, sáng chế.

Giáo dục đứng đầu trong Quốc sách nhưng những nhà giáo chân chính lại đứng cuối trong bậc thang thu nhập.

Hệ số lương thấp nhất của thiếu úy quân đội, công an là 4,2 trong khi của giảng viên đại học là 2,34, chỉ bằng già nửa bậc thấp nhất của sĩ quan lực lượng vũ trang. 

Những con số tốt nghiệp trung học phổ thông cao vào hàng nhất thế giới và đội ngũ cử nhân thất nghiệp cũng cao không kém đương nhiên không phải là mục tiêu của giáo dục và không hoàn toàn là lỗi của giáo dục.

Nó chỉ phản chiếu một thực tế là đoàn tàu giáo dục Việt Nam đang “bò” trên hai thanh ray cũ với một ga đến được xác định bằng ý chỉ chủ quan chứ không phải biện chứng khoa học.

Thứ tư, nói về doanh nghiệp và doanh nhân

Đóng góp vào chuyện Việt Nam xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới phải kể đến các doanh nghiệp tư nhân xuất khẩu gạo.

Song đóng góp vào việc làm nghèo người nông dân cũng chính là các doanh nghiệp này.

Câu chuyện “được mùa mất giá”, luôn là câu chuyện thời sự không chỉ với người trồng lúa mà còn với người trồng vải thiều, dưa hấu, thanh long…

Người kinh doanh buôn bán – kể cả trong một số siêu thị – sẵn sàng bán hàng không rõ nguồn gốc, hàng thực phẩm quá hạn, mốc meo…

Hàng nhập lậu (thuốc lá, đồ chơi trẻ em, hoa quả…) bán tràn lan khắp mọi ngõ ngách không được quản lý có “đóng góp to lớn” của những người buôn bán nhỏ.

Doanh nghiệp cấu kết với tham quan để ăn cắp tài sản công. (Ảnh: VnEconomy.vn)

Công nghệ bòn rút vật liệu làm đường” là bài viết trên Laodong.com.vn có đoạn:Doanh nghiệp làm đường xây dựng sẵn sàng bớt xén nguyên vật liệu, dùng vật tư rẻ tiền…  khiến công trình vừa làm xong đã xuống cấp.

tham nhũng trong thi công đường sá đã xảy ra từ lâu, nhưng đau xót là các cơ quan chức năng, nhất là Bộ Giao thông vận tải chẳng có động thái nào chấn chỉnh.

Đường lớn thì ăn theo kiểu lớn, đường nhỏ thì ăn theo nhỏ, thậm chí cả đường làng cũng còn bị cắt xén đủ kiểu”?

Chuyện doanh nghiệp cấu kết với đội ngũ quan chức biến chất hoặc người nhà có chức vụ khai khống khối lượng, nâng giá, đội vốn không có gì bí mật.

Thủy điện xả lũ “đúng quy trình” gây chết người, thiệt hại tài sản của dân xảy ra chưa có hồi kết.

Xe tải trốn trạm thu phí phá nát đường làng, doanh nghiệp xả chất thải chưa xử lý ra môi trường là chuyện “thường ngày ở huyện”. 

Chuyện lớn là doanh nhân vận động hậu trường, hình thành “nhóm lợi ích” nhằm ban hành các chủ trương, đường lối mà truyền thông gọi là “tham nhũng chính sách”… Những ví dụ nêu trên chỉ là chuyện nhỏ, chuyện vừa vừa là những mối liên kết làm ăn giữa doanh nghiệp và quan chức nhà nước, những cuộc “đấu thầu công khai” tài sản công mà dư luận đã phanh phui…

Một trong những biểu hiện của “tham nhũng chính sách” là câu chuyện làm đường cao tốc theo kiểu BOT.

Không phải mọi người đều biết ai, nhóm nào được hưởng lợi đầu tiên và nhiều nhất từ chủ trương BOT của Bộ Giao thông Vận tải. 

Chỉ biết rằng “Quốc hội đã có kế hoạch đưa BOT vào chương trình giám sát để chấn chỉnh hoạt động đầu tư này bởi vì động vào là lộ sai phạm”. [5]

Những vụ tiêu cực “chìm xuồng” sẽ vẫn tiếp tục chìm hay sẽ “nổi” như quyết tâm mà Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã phát biểu trước Quốc hội:

Trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định, không để “chìm xuồng” bất cứ vụ tiêu cực nào khi phát hiện” (Tienphong.vn 18/11/2016).

Phản ứng tiêu cực của người dân trong “Vụ nổ súng khiến 19 người thương vong tại huyện Tuy Đức (Đắk Nông) vào ngày 23/10 là hệ lụy tất yếu do việc tranh chấp đất căng thẳng, dai dẳng giữa người dân với các công ty nhưng không được giải quyết dứt điểm”.

Điều tra của phóng viên Vietnamnet.vn cho thấy “việc giải tỏa, cưỡng chế đất của Công ty Long Sơn có dấu hiệu bất thường, vi phạm pháp luật”. [7]

Được thưởng huân chương như Minh “Sâm”, trở thành người nổi tiếng như Bầu Kiên hay doanh nhân sáng giá như Hà Văn Thắm… vẫn phạm tội phải vào tù không phải là trường hợp cá biệt.

Khuyến khích doanh nhân làm giàu không có nghĩa là để cho doanh nghiệp tự do cướp đất của người dân, không có nghĩa là dung túng cho các hành động vi phạm pháp luật. 

Một trong số ít điểm sáng của doanh nghiệp Việt là ngành kinh doanh sữa.

Vì sao lại ô nhiễm, vì thiếu hệ thống xử lý chất thải, vì đầu tư thêm hệ thống sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận và cũng còn vì cái tâm của người kinh doanh.Tuy nhiên kết quả tìm kiếm với cụm từ “ô nhiễm tại trang trại bò sữa” cho thấy còn có nơi trang trại bò sữa gây ô nhiễm môi trường. 

C.Mác đã từng nói rằng, nếu lợi nhuận lên 300% thì tự treo cổ mình lên nhà tư bản cũng sẵn sàng làm. Bản chất của giới kinh doanh là như vậy và họ không dễ gì từ bỏ.

Liệu có phải phần lớn “doanh nhân thành đạt” đều không tham gia “nhóm lợi ích”, đều công khai, minh bạch, đều không lợi dụng kẽ hở pháp luật để trục lợi? 

Chỉ khi nào doanh nhân không phải là “nhà tư bản” thì họ mới không vì lợi nhuận.

Thứ năm, nói về cơ quan công quyền và quan chức

Đánh giá tình trạng tham nhũng trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu phát biểu: “Tham nhũng ở nước ta là do cả cơ chế lẫn con người”.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: “Hiện tượng hư hỏng, tham nhũng, tiêu cực đúng là lắm lúc nghĩ hết sức sốt ruột, nhìn vào đâu cũng thấy, sờ vào đâu cũng có…” và “cái gì cũng phải có tiền, không tiền không trôi. Tham nhũng lớn cũng có, tham nhũng vặt cũng nhiều khiến người dân như bị ngứa ghẻ” (Dantri.com.vn 13/3/2016).

Tuy nhiên, như bình luận trên bài báo đã dẫn “Tham nhũng vẫn… ung dung cười ngạo nghễ”.

Truy tìm nguồn gốc tham nhũng, có ý kiến cho rằng đó là do cơ chế, do công tác cán bộ, do pháp luật không nghiêm…

Những hệ lụy phát sinh từ thói tham lam đang tàn phá sự phát triển của xã hội văn minh. (Ảnh: Tienphong.vn)

Ba nguyên nhân của cuộc chiến sinh tồn trong thế giới động vật là tranh giành lãnh thổ, tranh giành nguồn thức ăn và tranh giành con cái (mái).Thực ra nguồn gốc của tham nhũng là thói tham lam – đặc tính nguyên thủy nhất mà loài người giữ lại sau khi thoát khỏi đời sống động vật hoang dã.

Trở thành con người văn minh nhưng thật hiếm hoi nếu có ai đó không muốn sở hữu cho riêng mình những thứ mà tổ tiên loài người từng giành giật suốt chiều dài lịch sử.

Sự khác biệt là ở chỗ tại các quốc gia tiên tiến, người dân và quan chức xem thượng tôn pháp luật là tiêu chuẩn đạo đức cao nhất, công dân bị luật pháp  quản lý để không muốn và không dám tham nhũng.

Trong khi đó tại nước ta, có những “nhóm lợi ích độc quyền kinh tế và chính trị” mà sức mạnh của nó nằm trên cả hiến pháp.

Trong khi luật pháp chưa hoàn thiện, công dân chưa được giáo dục theo những chuẩn mực tiến bộ, văn minh thì đội ngũ cán bộ lại – như lời thiếu tướng Nguyễn Xuân Tỷ:

Làm cán bộ mấy năm mà trong nhà có vài ba trăm tỉ đồng, thậm chí cả ngàn tỉ đồng thì lấy ở đâu ra nếu không tham nhũng.

Có một đội ngũ giàu rất nhanh, cưỡi lên đầu nhân dân, còn kinh khủng hơn địa chủ, tư sản ngày xưa”.

Theo số liệu của Bộ Nội vụ mà Ủy viên Ủy ban Tư pháp Quốc hội Nguyễn Thái Học đề cập:Theo xếp hạng mức độ tham nhũng thế giới năm 2015, Việt Nam xếp thứ 112/168 quốc gia được khảo sát.

“Trong năm 2015 có 75% công chức, 85% viên chức trên tổng số công chức, viên chức vi phạm, có hành vi tham ô, tham nhũng, cờ bạc, sinh con thứ 3”, tính bình quân là 80%. [8]

Nếu số liệu ông Nguyễn Thái Học đưa ra là chính xác thì 75% công chức nghĩa là 3/4 số người làm việc trong các cơ quan công quyền có vi phạm “có hành vi tham ô, tham nhũng, cờ bạc, sinh con thứ 3”.

Bao nhiêu người trong số 75% đó trở thành đại biểu Quốc hội nếu biết rằng Quốc hội khóa 14 có 496 đại biểu trong đó có 21 người ngoài Đảng và 2 người tự ứng cử chiếm 4,6%?

Khái niệm “bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất” xuất hiện trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa 11 đến nay đã lên đến 75% nghĩa là đã trở thành “bộ phận rất lớn”.

Có lẽ vì thế nên thay cụm từ “bộ phận không nhỏ” bằng một cụm từ khác thích hợp hơn.

Điều đáng nói nhất là khá nhiều người trong số 75% công chức “có vi phạm” nêu trên đang hàng ngày rao giảng đạo đức, đang huấn thị người khác phải sống thế nào, làm việc thế nào…

Một đất nước có số công chức tham ô, tham nhũng như thế mà không tụt hậu, không thua kém các nước khác chỉ có thể tìm trong cổ tích.

Quan chức lúc đương nhiệm vừa lót ổ cho mình, vừa lo cho ghế hậu duệ, nhận sổ hưu là nhảy sang công ty, là lập hội để tiếp tục có chức, có quyền.

Nói như Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân “có thứ trưởng về hưu lại lập hội xin nhà, xin xe”. [9]

Số liệu của Bộ Nội vụ cho thấy câu nói dân gian “tham như mõ” hoàn toàn sai bởi Việt Nam ngày nay không còn nhóm người gọi là “mõ”, để cho phù hợp với thực tế có lẽ nên đổi câu thành ngữ này thành dạng hiện đại “tham như cán bộ tham nhũng”. 

Nếu không “tham”, vì sao tại Sở Lao động – Thương binh – Xã hội tỉnh Hải Dương người ta nhận chức trưởng/phó phòng chỉ để làm nhiệm vụđưa công văn, đun nước, pha trà”?

Nếu không “tham như cán bộ” bằng cách nào mà ông Đặng Xuân Thọ – Giám đốc Sở Tài chính tỉnh Kon Tum, ông Lăng Văn Hòa – Giám đốc Sở Giao thông vận tải tỉnh Bắc Kạn, ông Trần Cang, Phó Giám đốc Sở Tài chính Bình Định,… lại được Vietnamnet.vn “vinh danh” qua bài “Trộm vào nhà, quan chức lộ ra vàng khối, tiền tỷ”? [10]

Trong khi tham nhũng thuộc vào hàng đầu thì việc xử lý hình sự quan tham lại gần như ít nhất thế giới ngoại trừ nét độc đáo mà các nhà nước pháp quyền chưa biết là “rút kinh nghiệm”?
Đây là điều khó khăn nhất, chưa từng có với Đảng, Quốc hội và Chính phủ nhiệm kỳ hiện tại.Chúng ta sẽ làm thế nào để xây dựng thành công một đất nước “dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh” khi mà nguồn lực quan trọng nhất là con người lại đang bị xuống cấp nghiêm trọng cả về đạo đức lẫn trình độ khoa học.

Muốn vượt qua giai đoạn đầy cam go này, quyết tâm chính trị của lãnh đạo là chưa đủ, còn phải làm sao cho tất cả dân chúng không thờ ơ, không xem đó là nhiệm vụ của người khác. 

Tự làm trong sạch Đảng, bộ máy công quyền là chưa đủ, còn phải chặn đứng đà suy thoái đạo đức xã hội, phải làm sao cho dân biết tuân theo phép nước chứ không phải hành xử như vụ Đoàn Văn Vươn hay quán cà phê Xin Chào.

Không có cách nào khác là Đảng – Chính quyền phải thượng tôn pháp luật, muốn dân tuân theo pháp luật thì người lãnh đạo phải làm gương, cán bộ, đảng viên tham nhũng, thoái hóa chính là tấm gương xấu mà người dân noi theo, điều này đã được cổ nhân đúc kết “thượng bất chính, hạ tắc loạn”.

Tài liệu tham khảo:

[1]http://huc.edu.vn/chi-tiet/3421/Dac-tinh-cua-nguoi-Viet-qua-nhan-xet-cua-Vien-Nghien-Cuu-My.html

[2] http://www.vinachem.com.vn/tin-tuc/van-de-hom-nay-vnc/vi-sao-chi-tien-khung-nhap-thuoc-tru-sau.html

[3] http://giaoduc.net.vn/Goc-nhin/Viet-Nam–giac-mo-2035-phan-cuoi-Con-duong-phia-truoc-post172285.gd

[4] http://vietsciences.free.fr/vongtaylon/giaoduc/trinhdohocvanbotruong.htm

[5] http://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/dau-tu/du-an-bot-duong-bo-thanh-toan-sai-hang-chuc-ty-dong-317419.html

[6] http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-38047943

[7]http://vietnamnet.vn/vn/phap-luat/uan-khuc-sau-vu-no-sung-ban-chet-3-nguoi-335963.html

[8]http://cird.gov.vn/content.php?id=1623&cate=59

[9]http://vov.vn/chinh-tri/quoc-hoi/chu-tich-quoc-hoi-co-thu-truong-ve-huu-lai-lap-hoi-xin-nha-xin-xe-552908.vov

[10]http://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/trom-vao-nha-quan-chuc-lo-ra-vang-khoi-tien-ty-187614.html

Xuân Dương

Older Posts »

Danh mục