Đăng bởi: ngothebinh | Tháng Năm 2, 2012

20120502. TỐNG VĂN CÔNG LÀ CHIẾN SĨ VÀ NHÀ BÁO CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG

NHÀ BÁO TỐNG VĂN CÔNG : TỔNG BIÊN TẬP CỦA 3 TỜ BÁO CÔNG ĐOÀN

Bài của LÊ THANH PHONG trên Lao Động 30/04/2012

Đã ở tuổi 80, nhưng nhà báo Tống Văn Công (ảnh) vẫn miệt mài làm việc. Các bài viết của ông xuất hiện đều đặn trên các trang báo, chạm đến những vấn đề nóng bỏng của thời sự đất nước. Lối viết của ông chừng mực như lối nói của ông, nhưng đằng sau sự từ tốn uyển chuyển của bề mặt con chữ là sự dữ dội của một ngòi bút không dễ thỏa hiệp. 

Ở đời thật có nhiều điều để thao thức, nhưng ông nghĩ nhiều về điều gì nhất khi đã có nhiều trải nghiệm của nghề báo cũng như sự từng trải của một đời người?

– Tôi sinh ra trong gia đình cách mạng. Cha tôi tham gia Đảng Cộng sản, bị bắt, tra tấn, sau đó bị quản chế tại nhà. Cha tôi tham gia cướp chính quyền tháng 8.1945, tham gia kháng chiến chống Pháp suốt 9 năm. Tất cả các em tôi (5 người) đều là đảng viên.

Tôi tham gia cách mạng năm 17 tuổi, tham gia quân đội năm 19 tuổi, vào Đảng trong quân đội, 10 tuổi quân mới chuyển sang làm báo. Do đó cả đời tôi gắn bó với sự nghiệp cách mạng của Đảng và hơn 30 năm công tác báo chí, làm phóng viên sau đó làm tổng biên tập lần lượt 3 tờ báo của công đoàn là Lao Động Mới, Người Lao Động, Lao Động. Do đó, tôi hết sức quan tâm đến “sức khỏe” của Đảng và nền báo chí VN.

Tôi vào Đảng vì “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng” (Hồ Chí Minh).

Tôi vào nghề báo với ý tưởng hoàn toàn tự nguyện làm “cây bút công cụ” tuyệt đối phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc do Đảng lãnh đạo.

Trong quá trình làm việc, va chạm với thực tế có những vấn đề nảy sinh đặt ra cho tôi nhiều câu hỏi, dần dần tích tụ thành những vấn đề buộc phải suy nghĩ. Tôi sớm nhận ra hai căn bệnh đầu tiên của Đảng sau khi cầm quyền là có một bộ phận xa dần dân và tham nhũng. Tôi đã viết để chống lại hai căn bệnh đó. Nổi bật nhất là cùng anh em cơ quan thường trú miền Nam tổ chức 54 tin bài “Cây caosu kêu cứu” trên báo Lao Động năm 1986, lần đầu tiên một quan chức cao cấp, uỷ viên Trung ương Đảng thua công luận, bị kỷ luật.

Công việc làm báo cũng đặt ra cho tôi những vấn đề phải nghĩ lại. Tôi viết bài báo đầu tiên năm 1952 trên báo Nhân Dân miền Nam (ông Trần Bạch Đằng viết trong hồi ký: “Một trưởng trạm giao liên, anh Tống Văn Công gửi bài đến, tôi thấy đạt, đã kết nạp anh vào đội ngũ Báo Nhân Dân”). Lúc ấy cầm bút, tôi đặt lợi ích cách mạng ở vị trí cao tuyệt đối. Sau này, trong xây dựng cuộc sống tự do hạnh phúc của nhân dân, tôi nhận ra phải đặt sự thật cao nhất trong lương tâm người viết báo, không thể vì một áp lực nào mà bóp méo sự thật. Tất nhiên bất cứ quốc gia nào cũng có những sự thật chưa được công bố, chẳng hạn như những bí mật quốc phòng, tin tình báo. Có chuyện khiến tôi bứt rứt mãi về công việc làm báo:

Trong thời chống Mỹ, tôi nhận nhiệm vụ thực hiện chỉ thị của Thủ tướng phê bình Công ty vận tải hàng hóa Hà Nội không chịu đưa xe chở phân vào sát cửa kho, khiến cho hợp tác xã lá cờ đầu của Hà Tây phải mất hàng trăm công chuyển phân vào kho giữa ngày mùa. Nhưng sự thật là: Theo quy định thì xe vận tải phải chạy trên đường rải đá, không được phép chạy trên ruộng dù cho đất ruộng đang khô khốc, khô nẻ! Tôi xin nhận lỗi về mình, vì viết bài điều tra phê bình mà không nghe, không hỏi nhiều phía. Tuy nhiên ý kiến đó không được chấp nhận. Ngay ông giám đốc Công ty vận tải hàng hóa Hà Nội cũng cho rằng phía công ty phải tiếp thu phê bình để giữ uy tín của Thủ tướng!

Những bài viết của ông với những vấn đề được nêu ra được nhiều người quan tâm, nhưng cũng có khi chịu áp lực từ phía những người chưa hiểu mình. Ông đã từng bị áp lực đến mức sợ hãi hay nản lòng chưa?

– Một ví dụ điển hình, trong vụ chống tiêu cực ở Tổng cục Caosu, khi phóng viên Trương Đăng Lân viết bài báo đầu tiên, ông Tổng cục trưởng gọi trực tiếp cho Chủ tịch Tổng LĐLĐVN Phạm Thế Duyệt, yêu cầu ra lệnh cho Báo Lao Động phải dừng ngay. Anh Phạm Thế Duyệt chỉ gọi điện cho tôi căn dặn phải nắm tài liệu chứng cứ thật chính xác. Họ còn tổ chức họp báo, chi phí cho các nhà báo đi tham quan, nhằm chống lại sự thật.

Khoảng đầu thập niên 90, có lần trong một tháng Báo Lao Động có 4 bài phê bình 4 bộ của Chính phủ. Tôi được mời lên Ban Tuyên huấn Trung ương để góp ý về chuyện này. Tôi nói tất cả các bài báo của chúng tôi phê bình đều chính xác. Các bộ trưởng nếu không đồng ý thì có bài phản biện, chúng tôi sẽ trả lời đúng theo luật pháp. Anh Hữu Thọ cười, đáp: “Hôm nay ban không mời tổng biên tập mà mời đảng viên Tống Văn Công”.

Rồi anh thân tình nói theo kiểu với bạn bè: “Tao hỏi mày, một Chính phủ mà trong một tháng có 4 bộ bị phê phán như vậy thì còn đâu uy tín trong và ngoài nước?”. Cho tới nay tôi vẫn giữ quan điểm của mình: Nếu Chính phủ tiếp thu và sửa chữa những điều các báo phê bình xác đáng thì uy tín không mất đi mà còn tăng cao và quan trọng hơn là đất nước phát triển thuận lợi.

Tuy nhiên áp lực dữ dội nhất là khi tôi viết bài “Đổi mới Đảng tránh nguy cơ sụp đổ” với bút danh Thiện Ý. Ngay hôm sau đã có đồng nghiệp phản ứng cho rằng đây là bài viết của một kẻ phản động ở nước ngoài. Tôi nghĩ điều mình tâm huyết xây dựng, bảo vệ Đảng, nếu bị coi là của một tên phản động thì đâu còn giá trị gì. Nếu để yên thân thì tốt nhất là làm thinh, mọi việc sẽ qua, tôi không phải chịu trách nhiệm gì. Nhưng là một đảng viên vì Đảng mà viết, tôi thấy mình phải công bố tên thật và dám chịu trách nhiệm.

Tôi nói với các đồng chí yêu cầu tôi kiểm điểm việc viết bài: “Khi bức xúc phải viết bài là lúc tôi dám sẵn sàng chết để Đảng sống và vững mạnh trong lòng dân tộc”. Tết năm 2010, tôi có dịp gặp đồng chí Trương Tấn Sang, lúc ấy là Thường trực Ban Bí thư và xin hỏi: “Có tin cho biết, đồng chí đánh giá bài viết đó của tôi là chân thành xây dựng Đảng?”. Đồng chí Trương Tấn Sang vui vẻ đáp: “Đúng vậy! Nhưng khi viết đồng chí cân nhắc sao cho có sức thuyết phục hơn nữa”. Tôi nói, khi viết, tôi luôn đặt quyền lợi của dân tộc, của đất nước lên cao nhất!

Ông đã từng đặt vấn đề về một thảm họa suy đồi đạo đức đang diễn ra, nhưng căn nguyên từ đâu vẫn chưa được tìm ra thật rõ ràng hoặc không thẳng thắn nhận diện nó. Nếu không tìm thấy nguyên nhân thì làm sao trị liệu được?

– Đây là vấn đề rất lớn cần phải có sự nghiên cứu của nhiều người. Nhìn về hiện tượng thì thấy thế này, thời chống Pháp nhân dân ta thật là tốt. Tôi sống trong nhiều vùng giải phóng Nam Bộ, đêm không cài cửa. Người ta đối với nhau đúng tình nghĩa đồng bào, các má ưu tiên chăm sóc cho “mấy đứa Bắc kỳ” nhiều hơn vì tụi nó xa nhà. Năm 1954, tập kết ra Bắc, suốt 3 năm đầu tôi đóng quân ở nhiều vùng khác nhau và nhận thấy đồng bào miền Bắc cũng tốt như miền Nam, lại còn có điều đáng quý hơn là, đang đói nghèo mà không hề tiếc khi cần chăm sóc cho bộ đội miền Nam. Vào Hà Nội tôi cảm nhận đúng là người dân của thủ đô “ngàn năm văn hiến”. Hai mươi năm sau, nhà báo Thái Duy (Trần Đình Vân – tác giả “Sống như anh”) từ Nam ra Bắc bảo tôi: Văn hóa người Hà Nội đã biến mất. Không còn cảnh các học sinh xuống xe đạp giở mũ cúi đầu trước xe tang, mà khắp nơi những lớp trẻ văng tục, chửi thề. Năm 1975, anh em miền Bắc vào tiếp quản đều có chung cảm nhận trẻ con miền Nam rất lễ phép, các cô gái miền Nam dịu dàng. Nay thì cả hai miền đều giống nhau, thuần phong mỹ tục biến mất, hủ tục tăng lên, tệ nạn tăng lên, tội ác tăng lên. Vậy phải có quan điểm “nhìn thẳng vào sự thật” của Đại hội VI để nhìn nhận tìm nguyên nhân từ thể chế, từ xã hội. Rất tiếc là chúng ta chỉ tìm những nguyên nhân trực tiếp mà lẩn tránh nguyên nhân sâu xa.

Một thói tật nổi bật khác là không dám nói thật, tức là luôn luôn chịu áp lực phải nói dối.

Điều này đã được nhiều người mổ xẻ, trong đó có các đảng viên và là nhà văn nổi tiếng nhất của đất nước miêu tả rất sâu sắc như: Nguyễn Khải, Chế Lan Viên, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Tuân, Nguyễn Đình Thi… Vì sao sợ nói thật và tìm cách nói dối? Vì không thực hiện tự do tư tưởng, tự do phản biện theo như quan điểm của Hồ Chí Minh: “Tự do tư tưởng hóa ra là tự do phục tùng chân lý”. Sợ sự thật, nói dối, trốn tránh trách nhiệm là mở cửa cho các thói tật tha hóa con người không sợ bị trừng phạt.

Chúng ta thường đổ cho mặt trái của cơ chế thị trường nảy sinh tiêu cực, mà không thấy rằng tất cả các quốc gia tiên tiến văn minh đều từ nền kinh tế thị trường. Cần phải thấy rằng nền kinh tế thị trường của chúng ta chưa hoàn chỉnh, do chúng ta chưa hoàn chỉnh nhà nước pháp quyền và chưa có một xã hội dân sự mạnh mẽ. Cả ba vấn đề đó được xem là ba chân kiềng cho một xã hội lành mạnh, thượng tôn luật pháp, công khai minh bạch, thải loại tham nhũng, tội ác, ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa tư bản hoang dã, chủ nghĩa tư bản thân hữu, sự lũng đoạn của các nhóm lợi ích…

– Xin cảm ơn ông!

Lê Thanh Phong thực hiện

BỐN ĐIỀU BỨC XÚC TỪ VĂN GIANG

Kính gửi Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 3

Bài của TỐNG VĂN CÔNG trên Viet-Studies 10/05/2012

 Ngày 5-5- 2012, tại cuộc họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ông Huỳnh Ngọc Sơn, Phó chủ tịch Quốc hội đề nghị Chính phủ có báo cáo riêng  gửi đại biểu Quốc hội “việc xử lý, giải quyêt vụ việc ông Đoàn Văn Vươn (huyện Tiên Lãng, Hải Phòng) vì đây là việc nhận được sự quan tâm rất lớn của xã hội và gây nhiều bức xúc trong thời gian qua”. Thiết nghĩ, Quốc hội cần quan tâm hơn đối với vụ cưỡng chế ở Văn Giang ngày 24-4, vì vụ này gây bức xúc đối với người Việt trong và ngoài nước vô cùng nghiêm trọng. Bởi vì, theo ông Nguyễn Khắc Hào, Phó chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên báo cáo với Thủ tướng trong hội nghị trực tuyến: “Đây là một trong số ít các vụ khiếu kiện đông người điển hình”, “Có sự móc nối chặt chẽ giữa các phần tử chống đối trong và ngoài nước”, “Có dàn dựng lên các video clip giả để vu khống bôi nhọ chính quyền”.  Tuy nhiên, Tuyên Bố của các trí thức tiêu biểu của đất nước cho rằng, vụ cưỡng chế giải tỏa đất đai bẵng vũ lực ở Văn Giang “đang gây xúc động mạnh mẽ tất cả người Việt Nam có lương tri, dấy lên nỗi lo lắng chưa từng có trong mọi người dân Việt biết ưu tư về vận mệnh đất nước”. Chỉ trong vài ngày có hằng ngàn người hưởng ứng xin ký tên, đặt biệt là bà con nông dân Văn Giang đã vượt qua nỗi sợ hãi. Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội đã viết những câu thơ thâm ưu:

“Người thắng trận này không phải nhân dân.

Dân là vậy,

Chỉ thắng trong trận cuối.

Nhưng chính quyền nhân dân thất bại,

Khi tấn công những người mình nhân danh”. 

Kính thưa Quốc hội, một sự kiện ở tầm vận mệnh đất nước như thế, rất mong phải được kỳ họp này quan tâm mổ xẻ, đem lại hi vọng và niềm tin cho đồng bào, đặc biệt là bà con nông dân đã bị quá nhiều thua thiệt bất công!

Từ các ý kiến tâm huyết, xin kính gửi tới Quốc hội 4 điều bức xúc từ Văn Giang:

I. LUẬT ĐẤT ĐAI SỬA ĐỔI NHẰM ĐÁP ỨNG  “NHÓM LỢI ÍCH”? 

Kể từ năm 1993, Luật Đất đai được sửa đổi 5 lần. Các điêù khoản thu hồi đất được quy định chặt chẽ ở luật 1993 đã trở nên rắc rối ở Luật 2003. Điều 27, Luật Đất đai 1993 quy định: “Trong trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu hồi đất được đền bù thiệt hại”. Luật đất đai 2003, tuy rằng ở Điều 40 quy định trong trường hợp “Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế “, thì “nhà đầu tư được nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân mà không phải thực hiện thủ tục thu hồi đất”. Nhưng, tại Điều 39, các công trình đầu tư có “mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng” chỉ được định nghĩa là “những dự án đầu tư có nhu cầu sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt”. Điều này đã biến “lợi ích của nhà đầu tư” thành “lợi ích quốc gia”. Theo Luật sửa đổi này, Dự án Ecopark ở Văn Giang đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt, do vậy nó là “lợi ích quốc gia”. Đó chính là căn cứ để giáo sư Đặng Hùng Võ trả lời đài BBC rằng “Quyết định thu hồi đất ở Văn Giang là đúng Luật”.

 Từ khi Luật đất đai sửa đổi 2003 đã có hàng ngàn vụ khiếu nại tố cáo. Khiếu nại, tố cáo về đất đai chiếm 70% số khiếu nại, tố cáo. Điều đó chứng tỏ Luật sửa đổi này không hợp lòng dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa”. Vì không chịu nghe khiếu nại tố cáo của dân chúng cho nên đã xảy ra vụ Đoàn Văn Vươn, Văn Giang và nếu không kịp thời sửa đổi thì chắc chắn sẽ còn xảy ra nhiều vụ khác ngày càng nghiêm trọng hơn!

Tại Hội nghị Trung ương 3, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: “Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách đầu tư phải có tầm nhìn xa, không bị tư duy nhiệm kỳ, tư tưởng cục bộ, thành tích, chủ quan duy ý chí, hay nhóm lợi ích chi phối”. Luật Đất đai sửa đổi 2003 quả là minh họa cho cái sự thật mà Tổng bí thư cảnh báo: Bị nhóm lợi ích chi phối!

Quốc hội bằng quyền lực nhà nước cao nhất cần có biện pháp khẩn cấp ngăn chặn tai họa khủng khiếp đối với giai cấp nông dân, cũng là tai họa  đối với đất nước. Sự nghiệp đổi mới đã trả lại quyền sở hữu cho các thành phần xã hội, kể cả nhà tư sản; chỉ riêng nông dân vẫn không có quyền sở hữu ngay trên mảnh đất thừa kế của cha ông mình đã đổ mồ hôi, xương máu. Xin Quốc hội xây dựng Luật đất đai mới, trả lại sự công bằng cho giai cấp nông dân, vốn là đội quân chủ lực của cách mạng dân tộc dân chủ.

II. 1000 CÔNG AN ĐÁNH ĐẬP 200 NÔNG DÂN, CÓ NGƯỜI GIÀ VÀ PHỤ NỮ 

Nhiều đảng viên, nhà báo kể lại vụ cưỡng chế:

Một bên, khoảng 1000 (UBND Hưng Yên đã xác nhận 1000, nhưng nhiều nguồn tin cho là hơn 2000) công an cảnh sát cơ động, mặc áo chống đạn, có khiên che, có súng, lựu đạn, dùi cui.

Một bên là khoảng 200 nông dân, nhiều người già, phụ nữ tay cầm gậy gộc, gạch vỡ, chai xăng. 

7 giờ 30, công an rầm rập xáp tới. Sau khi tung 2 quả lựu đạn, khói mù trời, hằng ngàn dùi quật tới tấp vào những người nông dân khóc la chửi bới, chống cự một cách tuyệt vọng và bỏ chạy!

Thưa Quốc hội,

“Người cày có ruộng!” Giai cấp nông dân trở thành quân chủ lực cách mạng là vì tin theo khẩu hiệu đó của Đảng. Nay bỗng dưng họ bị cưỡng chế tàn bạo ngay trên mảnh ruộng của cha ông mình để lại!

Từ một đứa con nông dân đã có 10 năm mặc áo lính, tôi không khỏi đau lòng khi nhìn thấy hàng ngàn cảnh sát nện dùi cui lên lên đầu bà con Văn Giang. Tôi thấy như chính mình là kẻ phản bội các cha, các mẹ chiến sĩ đã cưu mang mình và đồng đội trong suốt những năm kháng chiến gian khổ!

Luật đất đai sửa đổi 2003 đã biến bộ máy công quyền thành người làm thuê cho các nhà đầu tư, tức những “đại gia”. Từ khi có Luật này các đại gia không cần trực tiếp thương lượng với nông dân mà chính quyền địa phương đã phục vụ cho họ đạt được giá đền bù rẻ mạt:

Nhà đầu tư dự án này đang rao bán “giá căn hộ  trên dưới 20 triệu đồng/ m2, giá biệt thự và nhà phố trên dưới 45 triệu đồng/ m2, đã bao gồm phần xây thô”. Trong khi giá đền bù là 135.000 đồng/m2, nếu đến nhận tiền sớm thì được nhà đầu tư thưởng thêm cho 35000 đồng/ m2.

Báo Nông Thôn Ngày Nay có bài viết gọi đây là “Cánh Đồng Vàng đã mất”. Dự án này xâm phạm quyết định giữ 3,8 triệu ha đất nông nghiệp của Chính phủ, nhưng đây chỉ nói về việc nó gây thiệt hai to lớn cho bà con nông dân, vì không được đền bù đúng mức,và vì vậy rồi đây họ sẽ phải lâm vào cảnh khốn cùng. Nhiều năm nay, bà con vùng này chuyển đổi từ trồng lúa sang trồng cây cảnh, mỗi sào bình quân thu hoạch từ 50 đến 70 triệu đồng/năm. Với số tiền đền bù ít ỏi như trên, họ làm sao để có số thu nhập ấy?

Nguyên phó Thủ tướng phụ trách nông nghiệp Nguyễn Ngọc Trìu nhận định khái quát về đền bù giải tỏa: “Khi trong này khai trương công trình thì bên ngoài dân khiếu kiện biểu tình. Vì giá đền bù cho dân là 1, khi đem lô đất đó ra bán thì giá gấp 15 lần.” Như vậy Luật đất đai sửa đổi 2003 đã  tạo môi trường tốt cho tham nhũng, bởi các nhà đầu tư sẵn sàng trả giá cao cho nhà chức trách ra quyết định cưỡng chế “hỗ trợ thi công”. Đây  là vấn đề thuộc nội dung của Nghị quyết Trung Ương 4  phải giải quyết.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói: “Dân sai thì phải thuyết phục”. Đúng vậy! Trong vụ Văn Giang chưa thể nói dân sai, nhưng việc dùng 1000 cảnh sát để cưỡng chế dân là trái với ý kiến Thủ tướng. Nhiều người coi đây là một vết nhơ không thể gột rửa trong lịch sử!

Bằng quyền lực cao nhất xin Quốc hội mau chóng nghiêm cấm hình thức phản nhân dân này!

III. “SỐ ÍT CHỐNG ĐỐI MÓC NỐI VỚI BỌN PHẢN ĐỘNG TRONG, NGOÀI NƯỚC”? 

Sáng ngày 2-5- 2012, tại Hội nghị trực tuyến có 63 tỉnh thành và các Bộ, Ngành do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chủ trì, Phó chủ tịch UBND Hưng Yên Nguyễn Khắc Hào báo cáo rút ra những “ bài học bước đầu trong lãnh đạo chỉ đạo và công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo” rất đáng lo ngại:

1. Về lý do cưỡng chế, ông Hào cho rằng, khi đã có chủ trương đúng, hiệu quả kinh tế xã hội cao, “được đông đảo nhân dân đồng tình ủng hộ thì không thể vì một số người chống đối mà không triển khai thực hiện chủ trương đó”.

Chúng ta đã có kinh nghiệm: Ngày xưa, chủ trương hợp tác hóa nông nghiêp từng được cho rằng có 100% nông dân tự nguyện gia nhập, nhưng sự thật là họ không thể không “tự nguyện”, bởi bao nhiêu lo lắng bị đối xử như công dân hạng hai, con cái sẽ khó vào Đoàn, khó vào đại học… Người dân Văn Giang cho báo Đất Việt biết: Côn đồ vào nhà dọa nạt bảo phải mau chóng nhận tiền đền bù; Đảng viên  bị dọa nếu chống chính sách sẽ bị khai trừ; Giáo viên bị dọa sẽ không nhận tiền đền bù sẽ bị đổi công tác đến nơi khó khăn; Người sắp kết hôn sợ không cho đăng ký kết hôn khi chưa chịu nhận tiền đền bù… Báo Người Cao Tuổi cho biết, có ít nhất là 4 người bị bắt ngày 24 – 4 phải ký giấy cam kết không khiếu nại nữa mới được thả. Một phụ nữ có con nhỏ còn bú cho đài RFI biết, chị phải ký giấy cam kết không khiếu kiện nữa, mới được thả về cho con bú!

Theo truyền thống văn hóa dân tộc, cái gì từ 1 tăng lên đến 3 thì đã thay đổi về chất:

“Một cây làm chẳng nên non; Ba cây dụm lại nên hòn núi cao”; “Ba anh thợ da thành ông Gia Cát”; “Ba chị đàn bà thành cái chợ”; “Hơn một tuổi là anh; Hơn 3 tuổi là chú”… Vậy thì hơn 160 hộ dân, có hơn 200 con người dám đứng ra đương đầu, làm sao có thể  gọi là số ít?

2. Trong vụ cưỡng chế ngày 24- 4 ở Văn Giang (Phó chủ tịch Hào nói nhầm 22-4) ông cho rằng: “Có sự móc nối chặt chẽ với những phần tử chống đối ở nước ngoài. Các thông tin thậm chí còn được tường thuật tại chỗ, từng giờ để tuyên truyền xuyên tạc, dàn dựng những video clip giả để vu khống bôi nhọ chính quyền…”. Ông nói, do tính chất nghiêm trọng như vậy nên 19 người đã bị bắt ngay, hiện 5 người còn bị tạm giữ, có 9 “đối tượng cầm đầu”, “nhiều năm gây rối” đã bỏ trốn. Ông Hào nhận định: “Xử lý được 9 người này sẽ khắc phục được tình trạng tập trung đông người, kéo lên cơ quan Trung ương”.

Nhận định nói trên của đại diện chính quyền tỉnh Hưng Yên là cực kỳ nguy hiểm: Ghép nông dân Văn Giang vào với bọn phản động, đẩy 9 người nông dân bị o ép, quá sợ hãi bỏ trốn vào hàng ngũ phản động nguy hiểm!

Đề nghị Quốc hội kiểm tra, giám sát làm rõ các kết luận sai trái hết sức nguy hiểm nói trên, đừng để một chính quyền cấp tỉnh phát ngôn tùy tiện, dựng đứng, vu cáo nhân dân, bất chấp sự thật mà không bị trừng phạt, như vậy cách làm này  sẽ lan tràn như một thứ bệnh dịch làm mục ruỗng hệ thống chính quyền của dân, do dân vì dân. 

IV.  VÌ SAO PHẢI HẠN CHẾ HOẠT ĐỘNG BÁO CHÍ? 

Trong vụ Tiên Lãng, báo chí được Thủ tướng khen ngợi đã góp phần tích cực sớm làm sáng tỏ sự thật giúp Chính phủ kịp thời xử lý. Vụ Văn Giang, về quy mô cũng như sự phức tạp của nó còn lớn hơn, rất cần được báo chí quan tâm làm sáng tỏ thì trái lại có những bằng chứng các hoạt động báo chí đã bị hạn chế ngay từ đầu.

Nếu việc cưỡng chế  là đúng pháp luật thì tại sao phải hạn chế thông tin? Tại sao những tấm bảng “Cấm quay phim, chụp ảnh” được dựng ra khắp nơi? Chỉ có 2 tờ báo dám nói một phần sự thật, và nói rất từ tốn là báo Người Cao Tuổi và báo Sài Gòn Tiếp Thị thì  cả hai đều bị buộc phải gở xuống khi vừa cho lên mạng! Lạ lùng là hai nhà báo của đài phát thanh quốc gia bị công an Hưng Yên đánh “hội đồng”, còng tay, mặt mũi bê bết máu, phải đi bệnh viện, dù hai anh nhiều lần kêu to “chúng tôi là nhà báo đang làm nhiệm vụ”! Càng lạ lùng hơn trong khi đài BBC biết chuyện nhà báo bị đánh đã có ngay cuộc phỏng vấn, thì phía Việt Nam mãi đến ngày 9-5, tức là  mất nửa tháng sau, các báo chúng ta mới được lên tiếng! Và cho đến nay, Công an Hưng Yên chẳng những chưa có lời xin lỗi mà còn từ chối trả lời câu hỏi rất đơn giản: Vì sao đã biết nhà báo đang tác nghiệp mà vẫn cứ đánh đập?!

Hình như một số việc nhằm hạn chế hoạt động của báo chí trong vụ cưỡng chế ở Văn Giang không phải chỉ là từ  phía Hưng Yên? Vậy thì cấp nào và vì lý do gì đã chủ trương hạn chế hoạt động của báo chí trong vụ này? Tại sao bài học tích cực của báo chí trong vụ Tiên Lãng  được Thủ tướng biểu đương, nhưng đã không được phép vận dụng?

Giải mã được những uẩn khúc về việc hạn chế hoạt động báo chí trong vụ Văn Giang sẽ rút ra nhiều bài học bổ ích cho thực hiện quyền được thông tin, công khai minh bạch các hoạt động ảnh hưởng tới người dân, xúc tiến dân chủ…

Vốn là một nhà báo, tôi vô cùng bức xúc trước câu hỏi mà mình không tự trả lời được, xin tin cậy gửi tới Quốc hội .

Ngày 9 tháng 5 năm 2012

Tống Văn Công

 

 

 

 


Bình luận về bài viết này

Chuyên mục